Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂN PHƯỚC

TỈNH TIỀN GIANG

Bản án số: 39/2024/HS-ST

Ngày: 12-12-2024.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHƯỚC, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Thạch Hải Âu.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hoàng Trung.

Ông Lê Văn Thưởng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đông – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phước tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tiến – Kiểm sát viên.

Trong ngày 12 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 36/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 09/2024/HSST-QĐ ngày 03 tháng 12 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Chí T (Tên gọi khác Đ), sinh năm 1997. Nơi sinh: Tiền Giang.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang.

Căn cước công dân số: [...].

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.

Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: Không biết chữ.

Con ông Nguyễn Ngọc T1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị H.

Bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án: 01 lần, Ngày 29/3/2022, bị Tòa án nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang xử phạt 03 năm 06 tháng tù giam về tội “Cướp tài sản” và “Trộm cắp tài sản” theo bản án hình sự sơ thẩm số 09/2022/HS-ST, chấp hành án xong vào ngày 17/4/2024.

Tiền sự: 01 lần, Ngày 15/01/2021, bị Công an xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 1.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản, chưa đóng phạt.

- Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 24/6/2024 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Phạm Minh Đ1 – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T. (có mặt)

* Người bị hại: Cháu Nguyễn Thị Ngọc Y, sinh năm 2009. (có mặt)

Địa chỉ: Ấp M, xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang.

Người đại diện theo pháp luật cho cháu Y: Chị Đỗ Thị T2, sinh năm 1986. Địa chỉ: Ấp M, xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang. (có mặt)

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho cháu Y: Bà Trương Thị Thảo P - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T. (có mặt)

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  • Ông Khưu Vĩnh T3, sinh năm 1983. (vắng mặt)
  • Địa chỉ: Ấp K, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

  • Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1961. (có mặt)
  • Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ ngày 24/6/2024, bị cáo Nguyễn Chí T một mình điều khiển xe đạp ngang nhà cháu Nguyễn Thị Ngọc Y tại ấp M, xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang thì nhìn thấy cháu Y đang ở nhà một mình nên nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản. Lúc này, bị cáo dừng xe ngoài lộ và đi bộ vào nhà.

Khi phát hiện bị cáo đi vào nhà, cháu Y vào bên trong nhà chốt cửa lại, tiếp tục đi vào phòng ngủ và khóa trái cửa. Đồng thời, cháu Y nhắn tin cho Phạm Thị Ngọc H1, sinh năm 2011, ngụ tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang là chị em bạn dì với cháu Y biết sự việc.

Do cửa phía trước bị đóng nên bị cáo đi vòng ra phía sau và phát hiện cửa sau làm bằng gỗ, có kẻ hở nên bị cáo thò tay vào trong để mở chốt cửa đi vào trong nhà. Khi vào được bên trong nhà bị cáo biết cháu Y đang trốn trong phòng ngủ nên dùng chân đạp mạnh vào phần phía dưới cánh cửa nhôm làm cửa bung ra, bị cáo chui vào bên trong căn phòng cháu Y đang trốn. Bị cáo dọa cháu Y có tiền, vàng, điện thoại gì thì đưa hết cho bị cáo thì cháu Y trả lời là không có. Bị cáo nhìn thấy trên tay cháu Y có đeo 01 chiếc lắc vàng liền giật đứt chiếc lắc này và giấu vào túi quần sau.

Cùng lúc này, cháu H1 và cháu Phạm Thị Đỗ Q (là chị ruột của H1) đến trước cửa nhà cháu Y, cả hai kêu cháu Y thì bị cáo dùng hai tay xô vào vùng cổ làm cháu Y ngã xuống nệm và kêu cháu Y không được truy hô và yêu cầu cháu Y kêu 02 cháu H1, Q đi về. Sau khi Y không mở cửa và kêu 02 cháu H1, Q đi về thì H1 và Q chạy xe ra ngoài lộ đứng chờ. Sau khi H1 và Q chạy xe ra ngoài, bị cáo mở cửa sau và đi ra lộ lấy xe đạp chạy về nhà.

Đến khoảng 09 giờ cùng ngày, bị cáo điều khiển xe đạp trên đến tiệm vàng “L" tại ấp K, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang do anh Khưu Vĩnh T3 làm chủ để bán chiếc lắc trên cho anh T3 với giá 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng) rồi đem tiêu xài cá nhân hết số tiền 429.000 đồng (Bốn trăm hai mươi chín nghìn đồng) thì bị bắt giữ.

Tại biên bản làm việc ngày 24/6/2024, chị Đỗ Thị T2 là mẹ ruột của cháu Y trình bày chiếc lắc của cháu Y do chị mua khoảng 02 năm, trọng lượng khoảng 1,1 chỉ vàng 18K.

Tại thông báo giá tài sản số 457/TB-PTCKH ngày 19/8/2024 của Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện T, tỉnh Tiền Giang xác định giá bán ra của vàng 18K ngày 24/6/2024 là 4.640.000 đồng/chỉ.

Về thu giữ và xử lý vật chứng:

  • 01 (Một) chiếc xe đạp màu xanh, loại Martin, đã qua sử dụng. Qua điều tra xác định do bà Nguyễn Thị H làm chủ sở hữu. Ngày 24/6/2024, bà H hoàn toàn không biết bị cáo T sử dụng xe này đi cướp tài sản nên Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại xe cho bà H xong.
  • Tiền Việt Nam: 2.671.000 đồng (Hai triệu sáu trăm bảy mươi mốt ngàn đồng). Bị cáo T khai nhận số tiền bị tạm giữ này bao gồm số tiền bán vàng còn lại cộng với 100.000 đồng là tiền của cá nhân bị cáo.
  • Tiền Việt Nam: 1.000.000 đồng do bà Nguyễn Thị H là mẹ ruột của bị cáo tự nguyện giao nộp để bồi thường cho bị hại.
  • Đối với chiếc lắc vàng đeo tay (Kiểu dáng bi, loại 18K, trọng lượng 01 chỉ). Theo khai nhận của anh K Vĩnh Tường sau khi mua thì anh đã đem chiếc lắc này bỏ chung với số vàng mà anh đã mua trước đó đem nấu tái chế nên Cơ quan điều tra không thu hồi được.

Tại Cáo trạng số 33/CT-VKSTP ngày 29/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phước, đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Tân Phước để xét xử đối với bị cáo Nguyễn Chí T về tội “Cướp tài sản” quy định tại Điểm e và Điểm h Khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận:

Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Chí T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Do đó có cơ sở xác định bị cáo Nguyễn Chí T đã phạm tội “Cướp tài sản”, tội danh và hình phạt quy định tại Điểm e và Đ2 h Khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự.

Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường thiệt hại và gia đình có công với cách mạng nên đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo quy định tại điểm b, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điểm e, Đ2 h Khoản 2 Điều 168, Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Điều 38 và Điều 50 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Chí T từ 07 (bảy) năm đến 08 (tám) năm tù, buộc bị cáo chịu án phí theo quy định.

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Chí T trình bày: Thống nhất với ý kiến luận tội của đại diện Viện kiểm sát về tội danh và khung hình phạt mà điều luật đã quy định, không ý kiến tranh luận gì về vấn đề này. Về hình phạt, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất của khung hình phạt, gia đình bị cáo là hộ nghèo, khó khăn tại địa phương, bị cáo không biết chữ nên có nhận thức pháp luật hạn chế, đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng cho bị cáo.

Bị cáo Nguyễn Chí T thống nhất với ý kiến luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không có ý kiến tranh luận gì và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại Nguyễn Thị Ngọc Y trình bày: thống nhất với ý kiến luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không có ý kiến tranh luận gì về vấn đề tội danh và hình phạt. Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật, đúng người đúng tội.

Chị Đỗ Thị T2 là người đại diện của người bị hại nhất trí với ý kiến luận tội của đại diện Viện kiểm sát, ý kiến tranh luận của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại, không tranh luận gì thêm.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị H trình bày, không yêu cầu Hội đồng xem xét buộc bị cáo bồi hoàn số tiền 1.000.000 đồng mà bà đã tự nguyện giao nộp để bồi thường cho bị hại, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo hối cãi cho việc làm của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo xin lỗi bị hại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, của Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phước, của Kiểm sát viên trong quá trình tiến hành tố tụng điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp theo quy định của pháp luật.

[2]. Về tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Chí T thừa nhận hành vi phạm tội đúng như cáo trạng đã truy tố. Xét lời khai của bị cáo, những người tham gia tố tụng là phù hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án, nội dung bản Cáo trạng và diễn biến tại phiên tòa. Bị cáo thực hiện tội phạm với bị hại là người dưới 16 tuổi; Bản thân bị cáo đã có 01 tiền án về tội “Cướp tài sản” và “Trộm cắp tài sản”, chưa được xóa án tích, do đó Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Nguyễn Chí T đã phạm tội “Cướp tài sản”, tội danh và hình phạt được quy định Điểm e, Đ2 h Khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự như bản Cáo trạng số 33/CT-VKSTP ngày 29/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phước truy tố là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, biết được việc chiếm đoạt tài sản thuộc sở hữu của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng vì động cơ tư lợi bất chính, ý thức xem thường pháp luật, đã thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến tâm lý, sự phát triển bình thường của bị hại là trẻ em nên cần phải có hình phạt tương xứng với hậu quả mà bị cáo gây ra, cần cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục cải tạo bản thân bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội nói riêng và đấu tranh phòng ngừa tội phạm, đảm bảo an toàn trật tự xã hội nói chung.

[3]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã giao nộp số tiền thu lợi và tác động gia đình khắc phục hậu quả, bồi thường cho bị hại xong; ngoài ra gia đình bị cáo là hộ nghèo, khó khăn ở địa phương, cha và ông nội bị cáo có công với cách mạng, bản thân bị cáo không biết chữ, nhận thức pháp luật còn kém nên đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm b, Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, bản thân bị cáo có nhân thân xấu, có 01 Tiền sự về hành vị Trộm cắp tài sản đến nay bị cáo chưa chấp hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Do đó Hội đồng xét xử có xem xét khi lượng hình.

[4]. Về vật chứng:

  • Đối với 01 (Một) chiếc xe đạp màu xanh, loại Martin, đã qua sử dụng. Đây là phương tiện bị cáo dùng để phạm tội. Tuy nhiên, qua điều tra xác định chiếc xe đạp này của bà Nguyễn Thị H làm chủ sở hữu, bà H hoàn toàn không biết bị cáo sử dụng xe này đi cướp tài sản nên Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại xe cho bà H. Bà H đã nhận lại xe xong, Hội đồng xét xử không xem xét.
  • Đối với chiếc lắc vàng đeo tay (Kiểu dáng bi, loại 18K, trọng lượng 01 chỉ). Theo khai nhận của anh K Vĩnh Tường sau khi mua thì anh đã đem chiếc lắc này bỏ chung với số vàng mà anh đã mua trước đó đem nấu tái chế nên không thể thu hồi được.
  • Đối với số tiền 2.671.000 đồng tạm giữ của bị cáo bao gồm số tiền bán vàng còn lại 2.571.000 đồng và số tiền 100.000 đồng là tiền của cá nhân bị cáo và số tiền 1.000.000 đồng do bà Nguyễn Thị H là mẹ ruột của bị cáo tự nguyện giao nộp để bồi thường cho bị hại. Trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện cho bị hại là chị Đỗ Thị T2 thống nhất bị cáo T phải bồi thường số tiền 3.671.000 đồng. Chị T2 đã nhận đủ số tiền 2.671.000 đồng mà bị cáo T tự nguyện giao nộp và số tiền 1.000.000 đồng do bà Nguyễn Thị H nộp và không có yêu cầu bồi thường gì khác, Hội đồng xét xử không xem xét.

[5]. Đối với anh Khưu Vĩnh T3 có hành vi mua lại chiếc lắc vàng mà bị cáo phạm tội mà có nhưng anh T3 không biết bị cáo cướp tài sản này, không hứa hẹn gì trước với bị cáo về việc mua lại tài sản bị cáo phạm tội mà có và hiện số vàng cũng đã được anh T3 đem nấu tái chế lại nên không thể thu hồi, Cơ quan cảnh sát điều tra không xem xét trách nhiệm hình sự đối với anh T3 là phù hợp.

[6]. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và quy định tại Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Tuy nhiên, tại phiên tòa hôm nay, bị cáo có đơn xin miễn án phí với lý do bị cáo thuộc hộ nghèo tại địa phương. Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 12 và Điều 15 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, miễn toàn bộ 200.000 đồng tiền án phí hình sự cho bị cáo.

[7]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, Người bị hại, Người đại diện hợp pháp của bị hại, Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại và Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Nguyễn Thị H được thực hiện quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Khưu Vĩnh T3 được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết công khai theo quy định, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm.

[8]. Xét lời đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử về tội danh, hình phạt nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[9]. Xét ý kiến của người bào chữa cho bị cáo và ý kiến người bảo vệ quyền lợi, ích hợp pháp cho bị hại là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được Hội đồng xét xử ghi nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Chí T (Tên gọi khác: Đ) phạm tội “Cướp tài sản”.
  2. * Căn cứ vào Điểm e, Đ2 h Khoản 2 Điều 168; Điều 38; Điều 50; Điểm b, Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự;

    - Xử phạt bị cáo Nguyễn Chí T 07 (bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam ngày 24/6/2024.

  3. Về án phí:
  4. * Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 12, Điều 15 và Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

    - Miễn toàn bộ số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Nguyễn Chí T.

  5. Về quyền kháng cáo:
  6. * Áp dụng các Điều 331, 332 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

    Bị cáo, Người bị hại, Người đại diện hợp pháp của bị hại, Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại và Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Nguyễn Thị H được thực hiện quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Khưu Vĩnh T3 được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết công khai theo quy định, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tiền Giang;
  • - VKSND tỉnh Tiền Giang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Tiền Giang;
  • - Phòng Hồ sơ Công an tỉnh Tiền Giang;
  • - VKSND huyện Tân Phước;
  • - CQ CSĐT CAH. Tân Phước;
  • - CQ THAHS CAH. Tân Phước;
  • - Chi cục THADS huyện Tân Phước;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Thạch Hải Âu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 39/2024/HS-ST ngày 12/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHƯỚC, TỈNH TIỀN GIANG về hình sự (cướp tài sản)

  • Số bản án: 39/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cướp tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHƯỚC, TỈNH TIỀN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Chí Th (Tên gọi khác: Đoan) phạm tội “Cướp tài sản”. * Căn cứ vào Điểm e, Điểm h Khoản 2 Điều 168; Điều 38; Điều 50; Điểm b, Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; - Xử phạt bị cáo Nguyễn Chí Th 07 (bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam ngày 24/6/2024.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger