TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦU KÈ TỈNH TRÀ VINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 39/2024/HNGĐ-ST Ngày: 06-12-2024 V/v “Ly hôn và tranh chấp nuôi con giữa bà Lê Thị Tố và ông Phạm Văn Vinh" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦU KÈ TỈNH TRÀ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Trúc Linh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Nam Đừng
Ông Thạch Phới
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Quốc Hi - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cầu Kè tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Hoàng Thân.
Ngày 06 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 216/2024/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 10 năm 2024 về việc ly hôn và tranh chấp nuôi con chung theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 01 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lê Thị T, sinh năm 1982 (có mặt);
Địa chỉ: ấp C, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
- Bị đơn: Ông Phạm Văn V, sinh năm 1979 (có mặt);
Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 03 tháng 10 năm 2024, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bà Lê Thị T là nguyên đơn trình bày: Bà và ông Phạm Văn V chung sống với nhau vào năm 2018, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh vào ngày 15/8/2018. Trong quá trình chung sống bà và ông V có 01 con chung tên Phạm Quốc Đ, sinh ngày 18/3/2019 hiện con đang sống với bà T. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hợp nhau, thường xuyên cự cãi, ông V hay uống rượu say sỉn chửi mắng bà, bà đã về nhà mẹ ruột sống hơn 4 tháng nay, bà và ông V đã không còn liên lạc với nhau. Nay bà có yêu cầu như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Bà yêu cầu được ly hôn với ông Phạm Văn V.
Về con chung: bà yêu cầu được nuôi dưỡng con chung tên Phạm Quốc Đ, sinh ngày 18/3/2019 và không yêu cầu ông V phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: bà T không yêu cầu giải quyết.
Về nợ chung: bà T không yêu cầu giải quyết.
Ông Phạm Văn V là bị đơn trình bày như sau: Ông và bà T chung sống với nhau vào năm 2018 có đăng ký kết hôn tại UBND xã T. Trong quá trình chung sống ông và bà T có 01 con chung tên Phạm Quốc Đ, sinh ngày 18/3/2019 hiện con đang sống với bà T. Nguyên nhân mâu thuẫn: ông thừa nhận ông thường hay uống rượu bia, về vợ chồng cũng thường hay cự cãi, ông cũng có lần đánh bà T rồi bà T bỏ về nhà mẹ ruột ở ấp C sống cho đến nay. Ông và bà T đã không còn chung sống với nhau từ ngày 02/7/2024 cho đến nay. Trong thời gian bà T bỏ đi ông không có liên lạc hàn gắn được với bà T. Nay bà T yêu cầu ly hôn thì ông cũng đồng ý ly hôn; nhưng ông yêu cầu bà T phải giao con chung cho ông nuôi dưỡng, và ông không yêu cầu bà T phải cấp dưỡng nuôi con chung. Trong trường hợp Tòa án giải quyết cho bà T được quyền nuôi con chung thì ông không cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung thì ông không có yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cầu Kè phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án là đúng với quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Về hôn nhân: Căn cứ trên cơ sở các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, 55, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 xử:
Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa bà Lê Thị T và ông Phạm Văn V.
Về con chung: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị T. Xử giao con chung tên Phạm Quốc Đ, sinh ngày 18/3/2019 cho bà Lê Thị T được tiếp tục nuôi dưỡng con chung.
Về cấp dưỡng nuôi con: Do bà T không yêu cầu ông Phạm Văn V phải cấp dưỡng nuôi con chung tên Phạm Quốc Đ, sinh ngày 18/3/2019 nên không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà T không yêu cầu nên không xem xét.
Về án phí: Buộc bà T phải bàu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bà Lê Thị T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Phạm Văn V. Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị T và ông Phạm Văn V kết hôn trên cơ sở tự nguyện có tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại UBND xã T vào ngày 15/8/2018 nên được công nhận là hôn nhân đúng pháp luật. Bà T xác định tình cảm vợ chồng không còn không thể hàn gắn được nên kiên quyết xin ly hôn với ông Phạm Văn V, đồng thời theo lời khai của ông V tại biên bản lấy lời khai ngày 15/10/2024 và tại phiên tòa hôm nay ông V cũng xác định ông cũng hay uống rượu bia, say sỉn về vợ chồng hay cự cãi và ông cũng có lần đánh bà T nên bà T đã bỏ về nhà mẹ ruột sống từ ngày 02/7/2024 cho đến nay và từ đó đến nay vợ chồng ông đã không còn chung sống với nhau cho đến nay, nay bà T yêu cầu ly hôn thì ông cũng đồng ý ly hôn. Từ đó thấy rằng vợ chồng đã không thể thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau, không quan tâm lẫn nhau, đã sống ly thân, giữa hai người không còn tình nghĩa vợ chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 51, Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, công nhận sự thuận tình ly hôn giữa bà T và ông V.
[3] Về con chung: Bà T và ông V trong quá trình chung sống có 01 con chung tên Phạm Quốc Đ, sinh ngày 18/3/2019 hiện nay do bà T trực tiếp nuôi dưỡng. Bà T có yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng Phạm Quốc Đ và không yêu cầu ông V phải cấp dưỡng nuôi con. Ông Phạm Văn V cũng có yêu cầu được nuôi dưỡng con chung. Hội đồng xét xử xét thấy: Từ khi bà T và không còn chung sống với nhau thì cháu Phạm Quốc Đ do bà T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng nên giữa bà T và cháu Đ có sự gắn bó, thân thiết gần gũi hơn so với ông V. Cháu Đ được bà T trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc tốt, không bị ngược đãi, đánh đập gì. Xét về điều kiện của cha mẹ trong việc chăm nom, chăm sóc con thì hiện nay cả bà T và ông V đều sống bằng nghề làm thuê, bà T và ông V đều cho rằng bản thân đủ khả năng đảm bảo nuôi con chung nhưng xét về điều kiện chăm sóc con chung thì ông V hiện đi bán vé số dạo khắp nơi và hay uống rượu bia thường xuyên say sỉn nên không đảm bảo được việc chăm sóc dạy dỗ con. Và để bảo đảm sự ổn định, hạn chế sự xáo trộn môi trường sống sinh hoạt học tập của cháu Đ, Hội đồng xét xử nghĩ nên giao cháu Phạm Quốc Đ, sinh ngày 18/3/2019 cho bà Lê Thị T tiếp tục nuôi dưỡng. Ông Phạm Văn V không trực tiếp nuôi con có quyền được tới lui thăm nom con chung, không ai được ngăn cản là phù hợp theo quy định tại các Điều 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.
[4] Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Lê Thị T đã được nghe Tòa án giải thích các quy định của pháp luật về người không trực tiếp nuôi con phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con nhưng do bà T xác định là một mình bà vẫn đảm bảo đủ điều kiện để chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tốt nên bà T không có yêu cầu ông V phải cấp dưỡng nuôi con chung là Phạm Quốc Đ, sinh ngày 18/3/2019 nên Tòa án không xem xét giải quyết.
[5] Các đương sự không có tranh chấp gì về tài sản chung và nợ chung, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về án phí: Buộc bà Lê Thị T phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[7] Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
[8] Từ những phân tích trên, xét đề nghị của Vị Kiểm sát viên về việc giải quyết vụ án là phù hợp nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39; 147, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 51, 55, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa bà Lê Thị T. và ông Phạm Văn V.
Về con chung: Chấp nhận yêu cầu của bà Lê Thị T. Xử giao con chung tên Phạm Quốc Đ, sinh ngày 18/3/2019 cho bà Lê Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người trực tiếp nuôi con cùng thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Phạm Văn V không phải cấp dưỡng nuôi con chung là cháu Phạm Quốc Đ, sinh ngày 18/3/2019.
Các đương sự không có tranh chấp về tài sản chung, nợ chung, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Buộc bà Lê Thị T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng; nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0008655 ngày 03 tháng 10 năm 2024 của Cơ quan Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cầu Kè, bà Lê Thị T đã nộp đủ án phí.
Về quyền kháng cáo: Bà Lê Thị T và ông Phạm Văn V được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ tuyên án.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự”.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Thị Trúc Linh |
Bản án số 39/2024/HNGĐ-ST ngày 06/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦU KÈ TỈNH TRÀ VINH về ly hôn và tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 39/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn và tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/12/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦU KÈ TỈNH TRÀ VINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vụ án hôn nhân và gia đình về việc ly hôn và nuôi con chung giữa Lê Thị T và Phạm Văn V
