Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MỘC CHÂU

TỈNH SƠN LA


Bản án số: 39/2024/HS-ST

Ngày 29 - 11 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tăng Thị Hải Oanh.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Cầm Thị Đoa và bà Lò Thị Minh.

Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Lệ Giang, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Hải, Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 08/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 16/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 10 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2024/HSST-QĐ ngày 12 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Đức N, sinh ngày: 06/6/1998 tại huyện M, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Tiểu khu B, thị trấn M, huyện M, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tư do; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C và bà Phạm Thanh B; bị cáo có vợ là Lại Thị Hà T, có 01 con; tiền án: Tại bản án số 32/2023/HSST ngày 22/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu xử phạt 14 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 28 tháng về tội đánh bạc; tiền sự: Không; bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/5/2024 đến nay. Có mặt.

Bị hại: Bà Nguyễn Thị L - sinh năm: 1990. Nơi cư trú: Tiểu khu G, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Đức N làm nhân viên của Công ty TNHH T2 từ đầu năm 2022 do Lê Viết C1 làm Giám đốc có trụ sở tại Tiểu khu B, thị trấn M với công việc là đi đo đạc đất cho khách hàng của Công ty, đến cuối năm 2022 Nam nghỉ việc. Khoảng đầu năm 2022 Nguyễn Thị L, sinh năm: 1990, nơi cư trú: Tiểu khu G, xã C, huyện M được gia đình tặng cho diện tích đất tại tiểu khu G, xã C, huyện M nên L đã liên hệ để nhờ N thực hiện các thủ tục để đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Mặc dù không có nhiệm vụ và thẩm quyền làm các thủ tục nêu trên nhưng N vẫn đồng ý và yêu cầu L phải chi phí tổng số tiền 80.179.000 đồng bao gồm các chi phí như: Dịch vụ đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 70.000.0000 đồng, tiền thuế 5.479.000 đồng và tiền đo đạc đất 4.700.000 đồng để chiếm đoạt tài sản của L.

Sau khi thỏa thuận với L, N tìm trên mạng xã hội Facebook được một bài đăng của chủ tài khoản tên “Huy Hiệp” với nội dung “Nhận làm các loại giấy tờ như bìa đất, chứng chỉ, bằng đại học, bằng lái xe và đăng kèm với số điện thoại 0366.259.xxx”. N đã liên hệ qua số điện thoại trên và đặt vấn đề với người này để làm giả 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mục đích đưa Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả đó cho L, thì được báo là tiền công 5.000.000 đồng và cung cấp sơ đồ, diện tích thửa đất. Người này hẹn N khi nào có được sơ đồ thừa đất thì gửi hồ sơ cùng tiền qua xe khách về bến xe M, thành phố Hà Nội cho người đó và khoảng 5 đến 6 tháng sẽ gửi lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả cho N.

Sau đó, N liên hệ với L yêu cầu cung cấp giấy tờ cá nhân, số tiền 4.700.000 đồng để N làm thủ tục đo đạc đất, L đã chuyển khoản số tiền trên vào tài khoản 65310000152326 của N. N đến Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện M làm thủ tục đăng ký đo đạc đối với thửa đất của L và yêu cầu L chuyển số tiền 30.000.000 đồng vào tài khoản của N để N thực hiện các thủ tục liên quan, L đồng ý, chuyển vào tài khoản của N số tiền 30.000.000 đồng. N lập một giấy biên nhận tiền với nội dung đã nhận số tiền trên để làm dịch vụ xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho L và đóng dấu của Công ty TNHH T2. Sau khi N nhận được kết quả đo đạc và sơ đồ hình thể thửa đất, N đã liên lạc với người có tên Huy H và được hướng dẫn gửi tài liệu cùng 5.000.000 đồng qua xe khách về bến xe M, thành phố Hà Nội để Huy Hiệp ra lấy, ghi tên “Huy Hiệp” kèm số điện thoại ở ngoài phong bì. Sau đó vài ngày sau, do cần tiền chi tiêu cá nhân N tiếp tục yêu cầu L chuyển cho N số tiền 10.000.000 đồng và N đã chi tiêu cá nhân hết số tiền trên.

Quá trình nhờ N làm thủ tục, L nhiều lần hỏi N về Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, N tiếp tục đưa ra thông tin gian dối để L tin tưởng. Đến tháng 8 năm 2023, N tiếp tục yêu cầu L chuyển cho N số tiền 5.479.000 đồng và nói dối đó là tiền thuế đất, sau khi nhận được tiền N đã chi tiêu hết. Đến ngày 21/8/2023 N nhận được điện thoại của xe khách thông báo nhận đồ gửi từ bến xe M, thành phố Hà Nội. N đi đến bến xe khách M nhận được 01 phong bì bên trong chứa Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả, Nam kiểm tra thấy thông tin đúng là của Nguyễn Thị L và thông báo với L đã có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Nam chuyển giao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả cho L và yêu cầu chị L chuyển nốt số tiền còn thiếu là 30.000.000 đồng vào tài khoản cho N. Tháng 11/2023 L mang Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đi làm thủ tục thế chấp tại tổ chức tín dụng xã C để vay tiền thì phát hiện Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là giả. Ngày 10/01/2024 L có đơn trình báo sự việc đến Công an xã C và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M.

Ngày 04/5/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M tiến hành khám xét nơi ở của Nguyễn Đức N. Quá trình khám xét không thu giữ gì.

Ngày 04/5/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M Quyết định trưng cầu phòng K Công an tỉnh S giám định Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất mang tên Nguyễn Thị L, ký hiệu A. Tại Kết luận giám định số 576 ngày 27/2/2024 của phòng K Công an tỉnh S kết luận: “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất gửi giám định ký hiệu A là giả”.

Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M đã tiến hành xác minh tại UBND xã C, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện M, Chi cục thuế huyện M xác định các cơ quan đều không tiếp nhận hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của Nguyễn Thị L.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M đã tiến hành xác định tại ngân hàng T3 chi nhánh H1, phòng G về 2 số tài khoản 19027731897014 và 959678999999 của Nguyễn Thị L liên quan đến các giao dịch đến số tài khoản 6530152326 của Nguyễn Đức N. Kết quả xác định: Ngày 11/8/2023 lần 1 chuyển đi 5.479.000 đồng; ngày 21/8/2023 2 lần chuyển đi, lần 1 số tiền 20.000.000 đồng, lần 2 số tiền 10.000.000 đồng.

Đối với chủ tài khoản tên “Huy Hiệp” kèm với số điện thoại 0366.259.xxx cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M xác minh xác định chủ thuê bao 0366.259.476 là của Ngô Đức D, sinh năm: 1989, nơi cư trú: Thôn C, xã P, huyện T, tỉnh Bắc Giang. Ngô Đức D xác nhận không sử dụng số điện thoại 0366.259.xxx, không cho mượn giấy tờ cá nhân để đăng ký số điện thoại. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M đã tiến hành để Ngô Đức D nhận dạng qua ảnh đối với Nguyễn Đức N, kết quả D khẳng định không quen biết N. Do đó không có căn cứ điều tra, xử lý đối với người đã làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả.

Đối với Nguyễn Thị Hồng L1 là người giới thiệu Nguyễn Đức N cho Nguyễn Thị L để nhờ làm thủ tục đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quá trình điều tra xác định L1 không liên quan đến hành vi vi phạm của N, do đó không đề cập biện pháp xử lý.

Về bồi thường dân sự: Nguyễn Đức N đã trả lại số tiền 80.179.000 đồng đã chiếm đoạt cho Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị L đã nhận đủ số tiền và không yêu cầu bồi thường gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Đức N.

Cáo trạng số 174/CT-VKS ngày 07/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu truy tố bị can Nguyễn Đức N về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự và tội Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức quy định tại điểm d khoản 2 Điều 341 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Đức N trình bày ý kiến giữ nguyên lời khai, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung nào làm thay đổi nội dung vụ án. Bị cáo nhận tội như cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu giữ nguyên cáo trạng truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức N phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và tội Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” và áp dụng các căn cứ pháp luật như sau:

  • - Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức N từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
  • - Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 341; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức N từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức.
  • Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  • Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt cho cả hai tội. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội.
  • Áp dụng Điều 56 Bộ luật Hình sự Tổng hợp hình phạt chưa chấp hành của bản án số 32/2023/HSST ngày 22/11/2023 là 13 tháng 22 ngày. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của hai bản án.
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 13, 584, 585, 586, 589 Bộ luật dân sự, về bồi thường dân sự:
  • Chấp nhận việc bị cáo Nguyễn Đức N đã tự nguyện trả lại cho chị Nguyễn Thị L số tiền là 80.179.000 đồng.
  • - Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Về vật chứng của vụ án:
  • Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động kiểu dáng Iphon XS Max thu giữ của Nguyễn Đức N.
  • Chuyển lưu hồ sơ vụ án 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DE 347605 mang tên bà Nguyễn Thị L.
  • - Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Sau khi đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu phát biểu luận tội, bị cáo Nguyễn Đức N nhất trí với toàn bộ đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, bị hại không có ý kiến, khiếu nại về hành vi của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Bị hại Nguyễn Thị L có đơn đề nghị vắng mặt tại phiên tòa. Xét thấy bị hại đã có lời khai ở Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai nhận của bị cáo. Xét thấy việc vắng mặt của bị hại không làm ảnh hưởng đến việc xét xử, căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.

[2] Về tội danh và trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Đức N khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã khai tại cơ quan điều tra. Bị cáo không thay đổi hay bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án. Bị cáo hoàn toàn nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu và khẳng định việc khai báo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay là hoàn toàn tự nguyện và đúng với sự việc bị cáo đã thực hiện.

Xét lời khai của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với đơn trình báo, kết luận giám định, lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Từ những chứng cứ nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy: Trong năm 2022, 2023 bằng thủ đoạn gian dối Nguyễn Đức N đã đưa ra thông tin là bản thân làm được dịch vụ xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. N đã đưa ra mức tiền dịch vụ xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với chị L là 80.179.000 đồng. Sau đó, thông qua mạng xã hội Facebook N1 đã thuê một người không quen biết làm giả Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Nguyễn Thị L và sử dụng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả đó để chiếm đoạt của chị L số tiền 80.179.000 đồng. Hành vi của bị cáo Nguyễn Đức N đã đủ yếu tố cấu thành tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự và tội Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức quy định tại điểm d khoản 2 Điều 341 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Cáo trạng truy tố bị cáo của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về tình tiết định khung hình phạt:

Bị cáo Nguyễn Đức N dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của chị Nguyễn Thị L số tiền 80.179.000 đồng theo quy định đã vi phạm tình tiết định khung tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự quy định hình phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

Bị cáo Nguyễn Đức N đã sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức là Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Nguyễn Thị L và sử dụng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả đó để thực hiện tội phạm nghiêm trọng theo quy định đã vi phạm tình tiết định khung tại điểm d khoản 2 Điều 341 Bộ luật Hình sự quy định hình phạt tù từ 02 năm đến 05 năm.

Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng với lỗi cố ý, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân, xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính Nhà nước, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.

Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo hiện đang chấp hành bản án số 32/2023/HSST ngày 22/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu xử phạt 14 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 28 tháng. Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp tái phạm, do đó bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo; bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho bị hại; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo có ông nội được tặng thưởng Huân chương kháng chiến chông Mỹ hạng Nhì và Huy chương vì sự nghiệp giao thông vận tải. Vì vậy, cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.

Về nhân thân của bị cáo: Bị cáo là người có nhân thân xấu, bị cáo đang chấp hành bản án số 32/2023/HSST ngày 22/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu xử phạt 14 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 28 tháng về tội đánh bạc, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà tiếp tục có hành vi phạm tội.

Từ những đánh giá nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo, đồng thời có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.

Bản án số 32/2023/HSST ngày 22/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu xử phạt bị cáo 14 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 28 tháng về tội đánh bạc, bị cáo đã bị tạm giữ 8 ngày, bị cáo còn phải chấp hành tiếp là 13 tháng 22 ngày tù. Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp phải tổng hợp hình phạt và phạm tội trong thời gian đang chấp hành bản án, do đó cần áp dụng Điều 55, Điều 56 Bộ luật Hình sự để tổng hợp hình phạt và tổng hợp bản án đối với bị cáo.

[3] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 174 của Bộ luật hình sự quy định người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản; Theo quy định tại khoản 4 Điều 341 của Bộ luật hình sự quy định người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy quá trình điều tra và thẩm vấn công khai tại phiên tòa thấy rằng bị cáo không có tài sản riêng có giá trị, không có nghề nghiệp và công việc ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.

[4] Về bồi thường dân sự:

Sau khi xảy ra sự việc bị cáo Nguyễn Đức N đã tự nguyện trả lại cho chị Nguyễn Thị L số tiền là 80.179.000 đồng. Bị hại đã nhận đủ số tiền bồi thường và không yêu cầu bồi thường gì thêm. Xét việc bồi thường trên của bị cáo Nguyễn Đức N với bị hại là hoàn toàn tự nguyện, đúng quy định của pháp luật, cần ghi nhận.

[5] Về vật chứng của vụ án:

Đối với 01 chiếc điện thoại di động kiểu dáng Iphone XS Max thu giữ của Nguyễn Đức N, là tài sản hợp pháp của bị cáo sử dụng để liên lạc với bị hại và người làm giả giấy tờ, xét thấy là công cụ bị cáo sử dụng vào hành vi phạm tội cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

Đối với 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DE 347605 mang tên bà Nguyễn Thị L là giấy tờ giả, xét là chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội nên cần chuyển lưu hồ sơ vụ án.

[6] Về các vấn đề khác:

Đối với người đã làm giả Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bị cáo Nguyễn Đức N không điều tra được lai lịch, địa chỉ do đó không có căn cứ để điều tra làm rõ.

[7] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng phù hợp với khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Thời hạn tạm giam của bị cáo dưới 45 ngày nên Hội đồng xét xử ra quyết định tạm giam đối với bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

    Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức N phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức N 02 (Hai) năm tù.

    Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

  2. Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 341; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

    Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức N phạm tội Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức N 02 (Hai) năm tù.

    Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

  3. Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt cho cả hai tội. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 04 (bốn) năm tù.

    Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

    - Áp dụng Điều 56 Bộ luật Hình sự Tổng hợp hình phạt chưa chấp hành của bản án số 32/2023/HSST ngày 22/11/2023 là 13 tháng 22 ngày. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của hai bản án là 05 (năm) năm 01 (một) tháng 22 (Hai mươi hai) ngày tù.

    Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 04/5/2024.

    Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

  4. Căn cứ khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 13, 584, 585, 586, 589 Bộ luật dân sự, về bồi thường dân sự:

    Ghi nhận việc bị cáo Nguyễn Đức N đã tự nguyện trả lại cho chị Nguyễn Thị L số tiền là 80.179.000 đồng (T1 mươi triệu, một trăm bẩy mươi chín nghìn đồng).

  5. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Về vật chứng của vụ án:

    Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động kiểu dáng Iphone XS Max thu giữ của Nguyễn Đức N.

    Chuyển lưu hồ sơ vụ án 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DE 347605 mang tên bà Nguyễn Thị L.

    (Theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số: 13/BBVC-CCTHA ngày 21/10/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện M và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mộc Châu).

  6. Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Đức N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng chẵn).

  7. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự:

    Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 29/11/2024).

    Bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La;
  • - VKSND tỉnh Sơn La;
  • - VKSND huyện Mộc Châu;
  • - CQCSĐT Công an huyện Mộc Châu;
  • - Chi cục THADS huyện Mộc Châu;
  • - UBND xã Hua Păng;
  • - THA HS;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Sở tư pháp tỉnh Sơn La;
  • - Lưu: Hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA

(đã ký)

Tăng Thị Hải Oanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 39/2024/HS-ST ngày 29/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA về lừa đảo chiếm đoạt tài sản và sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức

  • Số bản án: 39/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đức Nam lừa đảo và làm giả tài liệu
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger