|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ Đ TỈNH ĐIỆN BIÊN Bản án số: 39/2024/HSST Ngày 29/11/2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ Đ, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Bạc Thị Liên
Các hội thẩm nhân dân:
1. Bà Phạm Thị Thanh Hương
2. Ông Lò Văn Hoan
Thư ký phiên toà: Ông Bùi Minh Thắng - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Đ.
Đại diện VKSND Thành Phố Đ, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Ông Phạm Văn Năng - Kiểm sát viên.
Ngày 29/11/2024 tại trụ sở Toà án nhân dân Thành Phố Đ, tỉnh Điện Biên xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 26/2024/HSST ngày 01/11/2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2024/QĐXX-HS ngày 15/11/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lò Văn V. Bị cáo không có tên gọi khác:
Sinh năm 1988. Tại tỉnh Đ
Nơi ĐKTT và chỗ ở: Bản Lao, xã X, huyện M, tỉnh Điện Biên. Dân tộc: Thái; Quốc tịch: Việt Nam. Tôn giáo: Không.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 5/12; Con ông: Lò Văn B; con bà: Lường Thị D; gia đình bị cáo có 7 anh chị em ruột, bị cáo là con thứ 4; Vợ: Cà Thị T (đã ly hôn); Bị cáo có 02 con; Tiền án: Không;
Tiền sự: 01: Ngày 06/10/2020 bị TAND quận T, thành phố H áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 24 tháng, ngày 15/9/2022 chấp hành xong.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam trong vụ án này ngày 17/7/2024, bị cáo có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 19 giờ 45 phút ngày 16/7/2024, Lò Văn V một mình đạp xe mini màu bạc đi đến khu vực bản X, xã T, huyện Đ để tìm mua ma túy. Khi đến đường giữa bản X thì gặp và mua của 01 người đàn ông không quen biết 01 gói Heroine có khối lượng 0,16 gam, gói ngoài bằng mảnh giấy màu trắng, với giá 100.000đ. V cho gói Heroine vào trục cổ yên xe rồi đạp xe về. Hồi 21 giờ 30 phút cùng ngày, khi V đi đến khu vực tổ 08, phường N, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên thì bị tổ công tác Công an thành phố Đ đang làm nhiệm vụ phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng cùng chiếc xe đạp mini màu bạc.
Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng ngày 17/7/2024 đã xác định: Các cục bột thể rắn màu trắng đục nghi Heroine thu giữ khi bắt quả tang của Lò Văn V có khối lượng là 0,16 gam (ký hiệu H) gửi toàn bộ giám định.
Tại bản kết luận giám định số 1244/KL-KTHS ngày 22/7/2024 Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đ đã kết luận: Vật chứng ký hiệu H có khối lượng 0,16 gam các cục chất bột thể rắn màu trắng đục thu giữ của Lò Văn V gửi giám định là chất ma túy loại Heroine. Hoàn lại đối tượng giám định 0,08gam.
Tại bản cáo trạng số 190/CT-VKSTPĐBP ngày 01/11/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ đã truy tố bị cáo Lò Văn V về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện VKSND thành phố Đ vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Lò Văn V về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c Khoản 1 Điều 249/BLHS; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38/BLHS.
Xử phạt bị cáo từ 13 tháng đến 16 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Áp dụng Điểm a, c Khoản 1 Điều 47/BLHS năm 2015; Điểm a, c Khoản 2 Điều 106/BLTTHS năm 2015 về xử lý vật chứng.
Căn cứ Khoản 2 Điều 136/ BLTTHS năm 2015 và Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 về án phí lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo cũng hoàn toàn nhất trí với quan điểm truy tố và luận tội của VKSND thành phố Điện Biên Phủ không có ý kiến tranh luận, lời nói sau cùng của bị cáo: Ngoài xin giảm nhẹ hình phạt không có ý kiến gì khác.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, lời khai của bị cáo tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Xét hành vi phạm tội của bị cáo thấy rằng: Hồi 21 giờ 30 phút ngày 16/7/2024 tại khu tổ 8, phường N, thành phố Đ, tỉnh Đ, Lò Văn V đã có hành vi cất giấu trái phép trên người 0,16 gam Heroine trên người mục đích để sử dụng cho bản thân. Nguồn gốc số ma túy có được là do mua của một người đàn ông không biết tên tại bản X, xã T, huyện Đ với giá 100.000₫ sau khi mua ma túy được V đem về chưa kịp sử dụng thì bị bắt quả tang.
Hành vi tàng trữ 0,16 gam heroine trên người mục đích để sử dụng của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 249/BLHS năm 2015. Lời khai của bị cáo hoàn toàn phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản mở niêm phong xác định khối lượng; Kết luận giám định; Kết luận điều tra, các bản cung có trong hồ sơ vụ án cũng như cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo.
Cáo trạng của VKSND thành phố Đ đã truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Bị cáo có đầy đủ năng lực để chịu trách nhiệm hình sự trước pháp luật về hành vi phạm tội của mình đã gây ra.
[2]. Xét tính chất mức độ phạm tội của bị cáo thì hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là hành vi nguy hiểm cho xã hội, tội phạm mà bị cáo thực hiện thuộc trường hợp nghiêm trọng làm ảnh hưởng đến trật tự trị an, an toàn xã hội. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý. Bị cáo nhận thức được tác hại của ma tuý, nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật. Song vì nhu cầu của bản thân bị cáo đã bất chấp và cố tình vi phạm. Nên cần phải xử lý bị cáo nghiêm minh theo quy định của pháp luật.
[3]. Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Lò Văn V HĐXX thấy rằng: Sinh ra và lớn lên tại xã X, huyện M, tỉnh Đ bản thân học hết lớp 5. Bị cáo có 01 tiền sự. Tuy nhiên trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điểm s khoản 1 Điều 51/BLHS. Xét thấy bị cáo có nhân thân xấu lại là đối tượng nghiện ma túy cần phải áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội để bị cáo tiếp tục cai nghiện cải sửa lỗi lầm trở thành người công dân tốt cho gia đình và xã hội. Xét đề nghị của VKS là phù hợp HĐXX chấp nhận.
[4]. Ngoài hình phạt chính là phạt tù thì bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 249/BLHS là phạt tiền từ 05 triệu đồng đến 500 triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Xét kinh tế bị cáo khó khăn, bản thân lại nghiện chất ma tuý. Nên không có điều kiện để thi hành. Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Đối với người đàn ông bị cáo đã gặp tại bản X, xã T, huyện Đ đã bán ma túy cho bị cáo, do không đủ căn cứ nên cơ quan điều tra không xác minh làm rõ được. HĐXX không xem xét.
[5]. Về hành vi và các Quyết định của cơ quan người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, Điều tra viên, kiểm sát viên. Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục đảm bảo theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại gì do đó các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng là hợp pháp được chấp nhận.
[6]. Vật chứng của vụ án cần áp dụng Điểm a, c khoản 1 Điều 47/BLHS; Điểm a, c Khoản 2 Điều 106/BLTTHS về xử lý vật chứng.
Tịch thu tiêu huỷ H: 0,08 gam Heroine được hoàn lại sau giám định; 01 mảnh giấy màu trắng.
Đối với chiếc xe đạp mi ni màu bạc xe cũ là xe của Nghiêm Văn A khi bị cáo mượn xe đi xuống bản X để mua ma túy anh A không biết bị cáo dùng xe vào việc phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe cho Nghiêm Văn A HĐXX chấp nhận.
[7].Về án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 136/BLTTHS năm 2015 và Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 về án phí lệ phí Tòa án bị cáo Lò Văn V phải chịu 200.000đ án phí HSST
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38/ BLHS; Điều 331, Điều 333/BLTTHS;
Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn V phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Xử phạt bị cáo Lò Văn V 01 (một ) năm 01 (một ) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ (ngày 17/7/2024)
Vật chứng: Căn cứ: Điểm a, c Khoản 1 Điều 47/BLHS; Điểm a, c Khoản 2 Điều 106/BLTTHS.
Tịch thu tiêu huỷ H:0,08 gam Heroine được hoàn lại sau giám định; 01 mảnh giấy màu trắng.
(Vật chứng đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Điện Biên Phủ chuyển cho Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đ vào ngày 01/11/2024 đặc điểm vật chứng mô tả theo biên bản giao nhận).
Về án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 136/BLTTHS năm 2015 và Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 về án phí lệ phí Tòa án bị cáo Lò Văn V phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 29/11/2024).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bạc Thị Liên |
Bản án số 39/2024/HSST ngày 29/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ Đ, TỈNH ĐIỆN BIÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 39/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ Đ, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: xử 13 tháng tù giam
