Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN ND HUYỆN NGA SƠN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 39/2024/HSST

Ngày: 21-11-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGA SƠN, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thị Thủy.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Văn Châu và bà Trịnh Thị Yến.

Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Văn Trung – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Phạm Đình Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 21/11/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, mở phiên tòa để xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý 34/2024/TLST-HS ngày 11/10/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/2024/QĐXXST-HS ngày 08/11/2024 đối với bị cáo:

Phạm Văn M - Sinh ngày: 14/01/2003, tại xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; CCCD số: 03820305537; HKTT: Thôn N, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn C và bà Mai Thị H; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, bị cáo áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 14/8/2024 đến nay - Có mặt.

- Bị hại: Ông Nguyễn Văn H1 - Sinh năm 1950 (đã chết).

Người đại diện hợp pháp của bị hại: Anh Nguyễn Văn X - Sinh năm 1987 - Địa chỉ: Thôn T, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa - Vắng mặt.

- Người tham gia tố tụng khác: Người làm chứng:

  1. Anh Cao Ngọc H2 - Sinh năm 1991 - Địa chỉ: Thôn N, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa - Có mặt.
  2. Bà Nguyễn Thị L - Sinh năm 1968 - Địa chỉ: Thôn T, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa - Vắng mặt.
  3. Ông Nguyễn Văn G - Sinh năm 1969 - Địa chỉ: Thôn T, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa - Vắng mặt.
  4. Ông Đào Văn N - Sinh năm 1968 - Địa chỉ: Thôn T, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa - Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phạm Văn M, (sinh năm 2003, ở thôn N, xã N, huyện N) có giấy phép lái xe hạng A1, số [...] do Sở G1 cấp ngày 24/3/2021.

Khoảng 06h45' ngày 15/6/2024, Phạm Văn M điều khiển xe môtô biển kiểm soát 36B4-969.40, chở anh Cao Ngọc H2, sinh năm 1991 (ở cùng thôn) đến Công ty V ở thị xã B, tỉnh Thanh Hóa để làm việc. Khi đi đến km 0+700 tỉnh lộ 527b thuộc thôn T, xã N, huyện N (hướng Đ - T), M nhìn thấy có xe tải đi ngược chiều, nên M giảm tốc độ, điều khiển xe mô tô đi vào lề đường phía Bắc bên phải theo chiều đi của mình để tránh xe ôtô.

Cùng lúc này, ông Nguyễn Văn H1 (sinh năm 1950 ở thôn T, xã N, huyện N) dắt xe đạp từ cổng nhà chị Phạm Thị Q (sinh năm 1994 ở thôn T, xã N, huyện N) ở phía Bắc tỉnh lộ 527b đi ra lề đường theo hướng T – Đông. Do không chú ý quan sát, không giảm tốc độ đến mức an toàn khi tránh xe đi ngược chiều nên mặc dù phát hiện thấy ông H1 dắt xe từ ngõ đi ra lề đường, nhưng M không làm chủ được tay lái đi vào phần lề đường dành cho người đi bộ và phương tiện khác, dẫn đến phần bên phải ốp nhựa mặt nạ đầu xe mô tô va chạm với bên phải giỏ xe đạp của ông Nguyễn Văn H1. Hậu quả: ông H1 bị ngã, đập đầu xuống mặt đường gây chấn thương sọ não, tử vong trên đường đi cấp cứu. M bị ngã, xây xước da ở vùng đuôi lông mày phải, anh H2 ngồi phía sau xe do M điều khiển không bị thương tích gì; chiếc xe đạp của ông H1 bị xây xước nhẹ.

Sau khi tiếp nhận tin báo của Công an xã N, Cơ quan CSĐT Công an huyện N đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, khám phương tiện tham gia giao thông, đồng thời kiểm tra nồng độ cồn trong máu và hơi thở, xét nghiệm tìm chất ma tuý đối với M, kết quả: Mạnh không có nồng độ cồn, âm tính với ma tuý.

Cơ quan CSĐT tạm giữ của Phạm Văn M gồm: 01 (một) xe mô tô BKS: 36B4-969.40, nhãn hiệu YAMAHA, màu xanh bạc, số loại Exciter, số khung 0610FY163640, số máy G3D4E176542, đã qua sử dụng; 01 Giấy phép lái xe mang tên Phạm Văn M,; 01 đăng ký xe mô tô số 113155 đối với xe mô tô biển kiểm soát 36B4-969.40 mang tên Lê Ngọc S; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc số AA25/0485851 đối với xe mô tô biển kiểm soát 36B4-969.40 có giá trị đến ngày 10/01/2025; tạm giữ của ông Nguyễn Văn H1 01 (một) xe đạp, nhãn hiệu THONG NHAT, màu hồng trắng, có giỏ nhựa phía trước, đã qua sử dụng.

* Tại Biên bản khám nghiệm hiện trường thể hiện:

- Hiện trường nơi xảy ra vụ Tai nạn giao thông tại Km 0+700 tỉnh lộ 527b, đoạn thuộc thôn T, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa, có hướng đi Đ - Tây, được trải nhựa bằng phẳng, lòng đường nơi xảy ra tai nạn rộng 5,3m, không có vạch kẻ phân chia đường, lề đất phía bắc rộng 1m, lề đất phía nam rộng 1m. Phía Bắc giáp với nhà ở của gia đình anh Lê Văn T và công trình xây dựng nhà anh Nguyễn Văn X; phía Nam giáp ruộng. Lấy mép đường phía Bắc trục đường tỉnh lộ 527b làm chuẩn; lấy cột mốc có ký hiệu H7/0 (Km 0 +700), nằm trên lề đường phía Nam tỉnh lộ 527% làm điểm mốc.

- Vết cày làm bung bật đá trên nền đất (ký hiệu 1) tại lề phía Bắc tỉnh lộ 527b, có chiều hướng Đ - Tây, kích thước (8x5)cm, cách mép chuẩn 0,52m;

- Cách vết (1) 0,76m về phía Tây là tổ hợp các vết cà xước trên lối đi bê tông (rộng 3m) trước nhà anh Lê Văn T (ký hiệu 2). Tổ hợp vết có chiều hướng Đ - Tây hơi chếch về phía Bắc, nằm trên nền diện tích (1,42x0,3)m. Đầu vết cách mép chuẩn 0,68m, cuối vết cách mép chuẩn 0,9m;

- Cách đầu vết (2) 1,57m về phía T là vết máu khô trên lối đi bê tông trước nhà anh Lê Văn T (ký hiệu 3). Vết có kích thước (8x5)cm, tâm vết cách mép chuẩn 1,1m.

Ngoài ra không phát hiện dấu vết gì.

* Tại biên bản khám nghiệm xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu xanh-bạc, biển kiểm soát 36B4-969.40 có các dấu vết:

- Cạnh phải ốp nhựa mặt nạ đầu xe có các vết cà xước, tì trượt làm mòn nhựa, bám dính chất màu xám song song nhau, mỗi vết cách nhau từ 0,7-1cm, có chiều hướng từ trước về sau, kích thước (10x19)cm, vết cao cách mặt đất từ 74-84cm;

- Cạnh dưới, phía trước cánh yếm phải xe có vết cà xước nhựa, bám dính chất màu xám, chiều hướng từ trước về sau, kích thước (12x2)cm, vết cao cách mặt đất 53 - 60cm;

- Cạnh trước, bên phải trục kim loại gắn bánh trước có vết cà xước kim loại, mất bụi, bám dính chất cao su màu đen, có chiều từ trước ra sau, kích thước (0,3x0,3)cm, vết cao cách mặt đất 28cm.

* Tại biên bản khám nghiệm xe đạp nữ (loại xe mini), màu hồng - trắng, nhãn hiệu THONGNHAT có các dấu vết:

- Mặt ngoài, phía sau, bên phải giỏ xe có vết cà xước nhựa, làm sạch bụi đất, chiều hướng từ trước về sau, kích thước (6x10)cm, cao cách mặt đất từ 74 - 84cm;

- Má ngoài bên phải vành, lốp bánh trước có vết cà xước kim loại, tì trượt làm mòn cao su, chiều hướng từ tâm ra ngoài có kích thước (3x0,5)cm, để vết song song với mặt đất thì cao cách mặt đất 30cm;

- Mặt sau, bên phải ốp kim loại chắn bùn bánh trước có vết cà xước kim loại bám dính chất màu xanh, kích thước (3x5)cm, chiều hướng từ trước về cách mặt đất 45 - 50cm.

- Trục kim loại gắn giỏ xe bị lệch về bên trái, vị trí giỏ xe gắn với trục bị nứt vỡ.

Ngày 15/6/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện N ban hành Quyết định số 233/QĐ- ĐTTH, trưng cầu Phòng K Công an tỉnh T giám định xác định nguyên nhân chết của ông Nguyễn Văn H1.

Tại kết luận giám định số 2560/KLGĐTT - PC09 ngày 09/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận:

- Các kết quả chính: Kết quả khám nghiệm: Các vết xây xước da, bầm tụ máu tại vùng: Đầu, mặt, hai tay, chân trái; Tụ, ngấm máu tổ chức dưới da đầu vùng trán đỉnh thái dương phải, vùng chẩm, cơ thái dương phải; Vỡ xương hộp sọ; Tụ máu dưới màng cứng, xuất huyết khoang dưới nhện; Não thất bên chứa dịch máu. Kết quả xét nghiệm, giám định khác: Không. Kết quả khác: Không.

- Kết luận: Kết luận nguyên nhân chết: Chấn thương sọ não. Kết luận khác: Không.

Về trách nhiệm dân sự: gia đình bị hại yêu cầu Phạm Văn M bồi thường chi phí mai táng phí, tiền tổn thất tinh thần và các chi phí khác là 60.000.000₫ (sáu mươi triệu đồng). Phạm Văn M đã tự nguyện bồi thường cho gia đình ông Nguyễn Văn H1 số tiền 60.000.000₫ (sáu mươi triệu đồng). Đại diện gia đình ông Nguyễn Văn H1 không có bất cứ yêu cầu, đề nghị gì, đồng thời có đơn đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho Phạm Văn M.

Về vật chứng: Sau khi khám nghiệm và xác minh nguồn gốc phương tiện xe mô tô biển kiểm soát 36B4-969.40 là của Phạm Văn M, ngày 15/6/2024, M sử dụng chiếc xe này làm phương tiện để đi làm chứ không phải là phương tiện phạm tội. Mặt khác, M phạm tội với lỗi vô ý nên Cơ quan CSĐT Công an huyện N đã trả lại chiếc xe mô tô cùng các giấy tờ có liên quan cho Phạm Văn M; trả lại chiếc xe đạp nhãn hiệu THONG NHAT, cho gia đình ông Nguyễn Văn H1, đại diện gia đình ông H1 đã nhận lại và không có yêu cầu, đề nghị gì.

Từ những hành vi trên, Cáo trạng số 39/CT-VKSNS ngày 09/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố Phạm Văn M phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự và đề nghị HĐXX áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65 của Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Phạm Văn M từ 12 tháng đến 15 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 tháng đến 30 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Người làm chứng anh Cao Ngọc H2 là người ngồi sau xe của bị cáo, thấy lời khai của bị cáo tại phiên tòa là đúng.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của KSV, của bị cáo và những người tham gia tố tụng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về thủ tục tố tụng: Các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thu thập đúng trình tự quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Cơ quan Cảnh sát điều tra, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Nga Sơn, Điều tra viên cũng như Kiểm sát viên đã thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ mà pháp luật quy định. Các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong giai đoạn điều tra, truy tố là hợp pháp được chấp nhận để làm cơ sở giải quyết vụ án.
  2. Về tội danh:

    Phạm Văn M có giấy phép lái xe mô tô theo quy định của pháp luật. Khoảng 06 giờ 45 phút ngày 15/6/2024, Phạm Văn M điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 36B4-969.40 lưu thông trên tỉnh lộ 527b thuộc thôn T, xã N, huyện N theo hướng Đ – Tây. Khi đến km 0+700, do tránh xe ô tô tải đi ngược chiều, nhưng M không giảm tốc độ đến mức an toàn, không làm chủ được tay lái, không đi đúng phần đường của mình nên đã va chạm với ông Nguyễn Văn H1 đang dắt xe đạp đi bộ từ ngõ ra lề đường phía trước hướng đi của M, hậu quả làm ông H1 bị ngã, gây chấn thương sọ não dẫn đến tử vong.

    Hành vi của Phạm Văn M đã vi phạm quy định tại khoản 23 Điều 8; khoản 1 Điều 9; điểm b khoản 3 điều 30 Luật giao thông đường bộ; khoản 1, khoản 8 Điều 5 Thông tư 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G2. Do đó, lỗi thuộc về Phạm Văn M và bị cáo M đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của BLHS như nội dung cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

  3. Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:

    Bị cáo Phạm Văn M thực hiện hành vi phạm tội khi có đủ năng lực hành vi và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự với lỗi vô ý, dù đã có giấy phép lái xe theo quy định nhưng do bị cáo thiếu ý thức chấp hành pháp luật khi tham gia giao thông dẫn đến gây tai nạn.

    Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về an toàn giao thông đường bộ, trật tự an toàn xã hội và sức khỏe của người khác nên cần phải xử lý nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm răn đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung.

  4. Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (TNHS):

    Bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng TNHS. Bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ TNHS sau: người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại, người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đại diện gia đình bị hại có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt được quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

  5. Về hình phạt:

    Từ những nhận định trên, HĐXX xét thấy bị cáo thực hiện hành vi là do lỗi vô ý, sau khi phạm tội bị cáo đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho gia đình bị hại. Tại cơ quan điều tra, cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn nhận tội và thể hiện sự ăn năn hối cải; từ trước đến nay ngoài lần phạm tội này bị cáo chưa thực hiện một hành vi hành chính, hành vi phạm tội nào khác; bị cáo có địa chỉ và nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ. Do vậy, chỉ cần xử phạt tù, cho hưởng án treo, để bị cáo chấp hành hình phạt tại địa phương dưới sự quản lý, giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú cũng đủ điều kiện giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt cho xã hội, đồng thời cũng thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội.

    Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 260 BLHS.

  6. Về trách nhiệm dân sự:

    Bị cáo Phạm Văn M đã tự nguyện bồi thường cho gia đình ông Nguyễn Văn H1 số tiền 60.000.000đ (sáu mươi triệu đồng), đại diện gia đình ông H1 không yêu cầu gì thêm, nên miễn xét.

  7. Về xử lý vật chứng:

    Chiếc xe mô tô biển kiểm soát 36B4-969.40 là của Phạm Văn M; Ngày 15/6/2024, M sử dụng chiếc xe này làm phương tiện để đi làm chứ không phải là phương tiện phạm tội. Mặt khác, M phạm tội với lỗi vô ý nên Cơ quan CSĐT Công an huyện N đã trả lại chiếc xe mô tô cùng các giấy tờ có liên quan cho Phạm Văn M, nên miễn xét.

    Chiếc xe đạp nhãn hiệu THONG NHAT, Cơ quan CSĐT Công an huyện N đã trả lại cho gia đình ông Nguyễn Văn H1, đại diện gia đình ông H1 đã nhận lại và không có yêu cầu, đề nghị gì, nên miễn xét.

  8. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65 của Bộ luật hình sự:

  1. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn M phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  2. Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn M 12 (mười hai) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 24 (hai mươi bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo M cho UBND xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
  3. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 BLTTHS; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Phạm Văn M phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí HSST.
  4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331; Điều 333 BLTTHS: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND huyện Nga Sơn;
  • - Cơ quan CSĐT Công an huyện Nga Sơn;
  • - Cơ quan THAHS Công an huyện Nga Sơn;
  • - Chi cục THADS huyện Nga Sơn;
  • - Bị cáo; người ĐDHP của bị hại;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trịnh Thị Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 39/2024/HSST ngày 21/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 39/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Văn M bị xử phạt 12 tháng tù cho hưởng án treo về tội "Vi phạm QĐ về tham gia GTĐB" theo điểm a khoản 1 Điều 260 BLHS
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger