|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 39/2024/HS - PT Ngày 06 - 11 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Thuỷ.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Đức Nam và ông Triệu Ngọc Thức.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hương Giang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tính - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 54/2024/TLPT-HS ngày 08 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo Tô Văn Nguyên D có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 77/2024/HS-ST ngày 01 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang.
Bị cáo có kháng cáo:
Tô Văn N, giới tính: Nam, sinh ngày 04/9/1993; Nơi cư trú: Thôn B, xã Đ, huyện S, tỉnh Tuyên Quang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Cao Lan; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Chức vụ trước khi phạm tội: Không; Con ông Tô Văn B, sinh năm 1957 và bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1957; Anh, chị em ruột: Có 04 người, bị cáo là thứ tư; Vợ, con: Chưa có.
Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt).
Ngoài ra trong vụ án còn có 01 bị hại không có kháng cáo và không bị kháng cáo, không bị kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 00 giờ ngày 16/12/2023, Tô Văn N, trú tại thôn B, xã Đ, huyện S, tỉnh Tuyên Quang và Nguyễn Văn T, trú tại tổ dân phố D, phường M, thành phố T đang ăn ốc, uống rượu tại quán bán đồ ăn đêm của bà La Thị T1 tại tổ dân phố F, phường M, thành phố T thì thấy Trần Doãn T2, trú tại thôn L, xã Đ, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang điều khiển xe ô tô biển số 22L-6522 đến quán ăn cháo. Tại đây, N, T và T2 làm quen, cùng giao lưu uống rượu với nhau. Khoảng 01 giờ cùng ngày, T2 rủ N và T lên xe ô tô của T2 đi ra trung tâm thành phố T chơi, cả hai đồng ý. Sau đó, T2 điều khiển xe ô tô chở T, N đi theo hướng Mỹ L ra thành phố T. Đi được khoảng 02-03km, do không muốn đi nữa nên T2 dừng xe. T2 bảo N và T tự gọi xe taxi đi về nhưng T, N không đồng ý, yêu cầu T2 phải chở hai người về quán bà T1 để N, T2 lấy xe mô tô đang gửi ở quán. Sau đó, T2 điều khiển xe ô tô chở T, N quay lại (T ngồi ghế phụ phía trước, N ngồi ở hàng ghế sau phía bên phải). Do bực tức việc N, T yêu cầu quay lại, khi đến khu vực gần cổng trường Mầm non P thuộc tổ dân phố C, phường M, thành phố T, T2 dừng xe, cầm bình xịt hơi cay (lấy trong cốp xe trước ghế phụ) giơ lên cao ngang đầu, xịt về phía T làm T, N bị cay mắt nên mở cửa xe chạy ra ngoài. T2 xuống xe tiếp tục cầm bình xịt hơi cay đuổi theo T đang chạy về hướng phường M nhưng không đuổi kịp nên quay về chỗ xe ô tô. T cũng quay lại thì bị T2 tiếp tục xịt hơi cay nhưng T tránh được, cả hai xảy ra cãi nhau, do tức giận T đã dùng cả hai tay đấm vào mặt T2 gây rách da, chảy máu, bầm bím xung quanh mắt rồi T chạy về phía Công an phường M, T2 cầm bình xịt hơi cay đuổi theo. Thấy vậy, N chạy theo sau, khi đến gần đã dùng chân phải đạp một nhát trúng vào vùng lưng phải của T2 gây trầy xước da rồi bỏ chạy về hướng đi suối khoáng M, lúc này T quay lại đứng sau xe ô tô khoảng 05-06 mét. T2 đuổi theo N được khoảng 10 mét thì quay lại điều khiển xe ô tô lùi về phía T, T chạy sang đường phần đường bên trái (hướng thành phố T đi M) thì T2 điều khiển xe tiến về phía N, N cũng chạy sang đường cùng T. Lúc này, T2 điều khiển xe ô tô vòng sang đường để quay đầu xe đi về nhà nhưng do đang say rượu không làm chủ được tốc độ nên xe ô tô của T2 đã đâm trúng vào cánh cửa sắt nhà ông Vương Văn C (trú tại tổ dân phố C, phường M) ở phía bên trái đường theo hướng thành phố T đi Công an phường M gây hư hỏng cửa. Sau đó, T2 điều khiển xe ô tô đi về hướng thành phố T. Nguyên chạy bộ theo sau thì gặp và đi nhờ xe mô tô của một nam thanh niên (không xác định được họ tên, địa chỉ, biển số xe) đuổi theo T2. Khoảng 02 giờ cùng ngày, khi đến khu vực chợ S thuộc xã K, thành phố T, thấy T2 điều khiển xe ô tô đi chậm và quay đầu xe; khi cách đầu xe ô tô của T2 khoảng 18 mét, N xuống xe nhặt ở lề đường 01 nắm sỏi khoảng 04-05 viên có kích thước khoảng (3x4)cm ném trúng vào sườn bên trái xe ô tô rồi nhặt 01 hòn gạch không nung kích thước (11x11,5x6)cm tiến đến vị trí cách xe khoảng 06 mét, ném trúng vào sườn trái xe ô tô của T2 và tiếp tục nhặt sỏi (từng nắm khoảng 04-05 viên có kích thước như trên) ở lề đường ném 03-04 lần trúng vào sườn xe, kính chắn gió phía trước và phía sau bên trái của xe ô tô. Hậu quả xe ô tô của T2 bị nứt vỡ kính chắn gió phía trước, kính chắn gió phía trước và phía sau bên trái; móp méo ốp viền kim loại giữa kính chắn gió phía trước và cánh cửa bên trái, ốp kim loại bên trái. Thấy vậy, T2 điều khiển quay đầu xe ô tô đi về phía thành phố T, do không làm chủ được tay lái nên đâm trúng cây bằng lăng trong sân nhà anh Phạm Văn H thuộc thôn A, xã K, thành phố T.
Kết quả kiểm tra nồng độ cồn ngày 16/12/2023 xác định: Nồng độ cồn trong cơ thể của Trần Doãn T2 là 0,839miligam/lít khí thở.
Bản Kết luận định giá tài sản số 11/KL-HĐĐGTS ngày 02/4/2024 và Văn bản số 02/HĐĐG ngày 09/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố T kết luận: Tổng giá trị thiệt hại (chi phí khắc phục sửa chữa) của xe ô tô nhãn hiệu Chevrolet, số loại Cruze, màu sơn đen, biển số 22L-6522 là 7.100.000₫ (Bảy triệu một trăm nghìn đồng). Trong đó chi tiết: Thay kính chắn gió phía trước 3.800.000 đồng, thay kính chắn gió phía trước và phía sau bên trái 2.300.000 đồng, sửa chữa ốp kim loại giữa kính chắn gió phía trước và cánh cửa bên trái 500.000đ, sửa chữa ốp kim loại bên trái xe ô tô 500.000đ.
Bản Kết luận giám định số 2984/KL-KTHS ngày 20/5/2024 của V - Bộ C1 kết luận: Chất lỏng trong bình xịt hình trụ tròn màu xanh, trên thân bình có dòng chữ “NATO” gửi giám định có thành phần Nonivamide. Khi N1 tiếp xúc với con người sẽ gây kích ứng mạnh niêm mạc da và mắt, sưng, viêm niêm mạc, bỏng rát, chảy nước mắt. Bình xịt gửi giám định là bình xịt hơi cay, thuộc công cụ hỗ trợ.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 77/2024/HS-ST ngày 01 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang đã quyết định:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 178; các điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Tô Văn N phạm tội: “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Tô Văn N 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày đi thi hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, tuyên án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 09 tháng 8 năm 2024, bị cáo Tô Văn N có đơn kháng cáo xin hưởng án treo. Tại phiên toà, giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Kết thúc phần xét hỏi, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang phát biểu quan điểm:
Về thủ tục tố tụng đảm bảo đúng quy định pháp luật; đơn kháng cáo bị cáo là hợp lệ trong hạn luật định; thủ tục giải quyết vụ án đúng trình tự tố tụng.
Về nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết liên quan đến vụ án trên cơ sở các tài liệu chứng cứ thu thập được trong quá trình điều tra, đánh giá mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để xử phạt bị cáo Tô Văn N 06 tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” là đúng người, đúng tội, đúng với hành vi phạm tội của bị cáo.
Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo xuất trình biên lai thu tiền án phí hình sự sơ thẩm, 01 giấy chứng nhận hộ cận nghèo và 01 đơn xin giảm nhẹ hình phạt của bị hại Trần Doãn T2 có xác nhận của chính quyền địa phương. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần được áp dụng cho bị cáo. Xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nhân thân tốt nên không cần thiết buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù mà cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ cải tạo, giáo dục bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án hình sự sơ thẩm số 77/2024/HS-ST ngày 01 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang. Căn cứ: Khoản 1 Điều 178; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Tô Văn N 06 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” thời gian thử thách 01 năm, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm. Giao bị cáo cho Uỷ ban nhân dân xã nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách của án treo. Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Khi được Hội đồng xét xử cho phép nói lời sau cùng, bị cáo Tô Văn N đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục kháng cáo của bị cáo là hợp lệ, đúng pháp luật; trình tự, thủ tục giải quyết vụ án của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là đúng quy định.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Tô Văn N tiếp tục thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai của bị cáo, bị hại và người làm chứng tại giai đoạn điều tra cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: Khoảng 02 giờ ngày 16/12/2023, tại thôn A, xã K, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang; Tô Văn N, trú tại thôn B, xã Đ, huyện S, tỉnh Tuyên Quang đã có hành vi dùng gạch, sỏi ném nhiều lần vào xe ô tô nhãn hiệu Chevrolet, số loại Cruze, màu sơn đen, biển số 22L-6522 của Trần Doãn T2, trú tại thôn L, xã Đ, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang gây hư hỏng tài sản với tổng trị giá 7.100.000 đồng (Bảy triệu một trăm nghìn đồng). Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội Cố ý làm hư hỏng tài sản quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự.
[2] Xét nội dung kháng cáo của bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử cho hưởng án treo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo là có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện. Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết liên quan đến vụ án trên cơ sở các tài liệu chứng cứ thu thập được trong quá trình điều tra, đánh giá mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xử phạt bị cáo Tô Văn N 06 tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” là đúng người, đúng tội, đúng với hành vi phạm tội của bị cáo. Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo xuất trình tài liệu mới là đơn của bị hại Trần Doãn T2 xin cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất có xác nhận của chính quyền địa phương, biên lai thu tiền án phí hình sự sơ thẩm và 01 giấy chứng nhận hộ cận nghèo. Xét thấy, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, tự nguyện bồi thường cho bị hại và bị hại có đơn xin cho bị cáo mức án thấp nhất nên không cần buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù mà cho bị cáo hưởng mức án treo là cũng đủ giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt cho xã hội như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà.
[4] Về án phí: Kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Ghi nhận bị cáo đã nộp xong án phí hình sự sơ thẩm.
[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Tô Văn N, sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 77/2024/HS-ST ngày 01 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang về hình phạt như sau:
1. Căn cứ: Khoản 1 Điều 178; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Tô Văn N 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”, thời gian thử thách 01 (một) năm. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (06/11/2024).
Giao bị cáo Tô Văn N cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện S, tỉnh Tuyên Quang nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.
Trong thời gian thử thách nếu bị cáo thực hiện hành vi phạm tội mới thì buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật hình sự.
Trong thời gian thử thách của án treo nếu bị cáo Tô Văn N cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.
2. Về án phí: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Ghi nhận bị cáo đã nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm tại Biên lai số 0000335 ngày 07/8/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (06/11/2024).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Xuân Thuỷ |
Bản án số 39/2024/HS - PT ngày 06/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG về cố ý làm hư hỏng tài sản
- Số bản án: 39/2024/HS - PT
- Quan hệ pháp luật: Cố ý làm hư hỏng tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 06/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo
