TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MINH HÓA TỈNH QUẢNG BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 39/2024/HS-ST Ngày 23-10-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MINH HÓA, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Quốc Hoàn
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông: Đinh Minh Tặng
Bà: Cao Thị Thu Ngà
- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Bá Thi – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Mỹ Hoa - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Minh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 37/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:
Bị cáo: Hồ Danh, tên gọi khác: Không có; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 06/10/2000 tại huyện M, tỉnh Quảng Bình; Nơi đăng ký HKTT: Bản Ông T, xã T, huyện M, tỉnh Quảng Bình; Quốc tịch: Việt Nam, Dân tộc: Bru Vân K, Tôn giáo: Không tôn giáo; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 09/12; Bố: Hồ X, sinh năm 1975 và mẹ: Hồ Thị K1, sinh năm 1973; Anh chị em ruột: Có 05 người, D1 là con thứ ba trong gia đình; Vợ: Hồ Thị C, sinh năm 2004. Hiện đang là lao động tự do tại Bản Ông T, xã T, huyện M, tỉnh Quảng Bình; Con: Hồ Thị Ngọc D, sinh năm: 2023. Còn nhỏ; Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 28/6/2024 đến ngày 04/7/2024 chuyển tạm giam cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện M (có mặt)
Người làm chứng: anh Hồ G, sinh ngày 20/8/2000; địa chỉ: bản Ông T, xã T, huyện M, tỉnh Quảng Bình (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 28/6/2024, Đồn Biên phòng R chủ trì phối hợp với phòng Phòng chống ma túy và tội phạm Bộ đội Biên phòng tỉnh Q và Công an xã T, huyện M tiến hành tuần tra địa bàn xã T. Tại khu vực ngã ba đường quốc lộ 12A nối với đường bê tông đi vào bản Khe Rôông, xã T phát hiện Hồ G điều khiển xe mô tô hiệu Sirius màu đen, BKS 73C1-114.47 chở sau Hồ D1 đang di chuyển theo hướng từ bản Khe Rôông ra đường quốc lộ 12A có dấu hiệu nghi vấn, tổ tuần tra yêu cầu dừng xe kiểm tra phát hiện đối tượng Hồ D1 ngồi phía sau xe đang cầm trong lòng bàn tay trái một gói ni lon trong suốt được dán kín, bên trong có chứa 06 viên nén hình tròn màu hồng, trên mặt mỗi viên đều có in chữ “WY”. Hồ D1 khai nhận số viên nén là ma túy tổng hợp dạng hồng phiến. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Hồ D1, tạm giữ tang vật theo đúng quy định.
Quá trình điều tra Hồ D1 khai nhận: Vào chiều ngày 28/6/2024, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Hồ D1 đã sử dụng điện thoại di động thông qua ứng dụng Zalo liên lạc với tài khoản có tên “Sèo Ht” để hỏi mua ma túy và được chủ tài khoản Zalo này đồng ý bán. D1 và người bán ma túy thống nhất địa điểm, thời gian giao ma túy là vào chiều tối ngày 28/6/2024, tại đoạn đường vắng thuộc bản K, xã T. Do D1 không có xe máy để đi mua ma túy nên D1 đã đến gặp Hồ G để nhờ G chở đi, D1 nói với G nhờ chở đi mua xăng về chạy máy cưa nên G đồng ý. G điều khiển xe mô tô hiệu Sirius màu đen, BKS 73C1-114.47 chở D1 đi từ bản Ông T, xã T đến bản K, xã T. Khi đến đoạn đường dốc trong rừng keo thuộc bản K, xã T, D1 nói với G dừng xe để đi vệ sinh nhưng thực chất là D1 lén lút đi đến chỗ hẹn để lấy ma túy được giấu dưới tảng đá ven đường, bên trong có 06 viên ma túy tổng hợp dạng hồng phiến và đặt vào vị trí đó số tiền 300.000 đồng. Sau khi lấy ma túy xong, D1 cất giấu số ma túy trong lòng bàn tay trái và tiếp tục nhờ G chở về nhà. Khi chạy được đoạn đường khoảng 300m thì bị tổ công tác phát hiện, bắt quả tang.
Tại bản Kết luận giám định số 725/KL-KTHS ngày 30/6/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh Q kết luận: Mẫu ký hiệu A là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng: 0,58 gam (không phẩy năm tám gam).
Vật chứng vụ án:
- Số ma túy sau giám định được niêm phong trong 01 phong bì thư dán kín, trên ghi nội dung “725/KL-KTHS”, niêm phong bằng hình dấu của Phòng K2 Công an tỉnh Q và chữ ký của những người tham gia niêm phong, ngoài cùng dán băng dính trong suốt;
- Một điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, màu xanh, phần kính camera phía sau bị vỡ, số IMEI1: 860620044990897, số IMEI2: 860620044990889. Điện thoại đã được niêm phong trong 01 phong bì thư dán kín các mép, được niêm phong bằng chữ ký của những người tham gia, trên mép dán của phong bì được đóng 3 hình dấu của Cơ quan CSĐT Công an huyện M, tỉnh Quảng Bình.
Tại Cáo trạng số 37/CT-VKSMH ngày 01 tháng 10 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Minh Hóa đã truy tố bị cáo Hồ D1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
- Bị cáo Hồ D1 thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của Kiểm sát viên, xin Hội đồng xét xử xử phạt nhẹ.
Kiểm sát viên trình bày lời luận tội: Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo từ 12 đến 18 tháng tù và xử lý vật chứng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng và chứng cứ trong hồ sơ vụ án: trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Minh Hóa, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng cũng như các chứng cứ được thu thập trong quá trình điều tra. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện và chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đều hợp pháp.
[2] Hành vi phạm tội của bị cáo: Khoảng 17 giờ 30 phút, ngày 28/6/2024, tại khu vực ngã ba đường quốc lộ 12A nối với đường bê tông đi vào bản K, xã T, huyện M, tỉnh Quảng Bình, Hồ D1 đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,58 gam ma túy, loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng cá nhân thì bị lực lượng chức năng phát hiện bắt giữ.
[3] Bị cáo là người thành niên, có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là xâm phạm chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước nhưng vẫn cố ý thực hiện thông qua việc cất giấu ma túy và sự thừa nhận của bị cáo tại phiên tòa. Vì vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Minh Hóa truy tố bị cáo ra trước phiên tòa hôm nay và lời buộc tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Minh Hóa đối với bị cáo tại phiên tòa là có căn cứ, đúng người, đúng tội và phù hợp với quy định của pháp luật. Do đó, cần có hình phạt tương xứng, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để đảm bảo mục đích răn đe, giao dục và phòng ngừa chung.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trong quá trình điều tra cũng như trước phiên toà hôm nay, bị cáo đã tỏ rõ thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Vì vậy, cần xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.
[5] Về hình phạt bổ sung, xét bị cáo thuộc thành phần lao động tự do, làm thuê kiếm sống, thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Về trách nhiệm của người liên quan: Trong vụ án này còn có người đàn ông bán ma túy cho D1 thông qua ứng dụng Zalo, tuy nhiên do D1 không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của người đó nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra, xác minh đối tượng trên. Đối với Hồ G, là người đã điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 73C1-114.47 chở D1 đi mua ma túy để sử dụng, tuy nhiên do D1 không nói và G cũng không biết D1 đi mua ma túy nên không xem xét trách nhiệm hình sự đối với G.
[7] Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
- - Lượng ma túy bị thu giữ khi bắt quả tang bị cáo D1 là vật cấm lưu hành. Vì vậy, tịch thu, tiêu hủy lượng ma túy bị thu giữ theo điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- - Một điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, màu xanh, phần kính camera phía sau bị vỡ, số IMEI1: 860620044990897, số IMEI2: 860620044990889 là tài sản của bị cáo sử dụng làm phương tiện để liên lạc mua ma túy nên tịch thu sung công quỹ nhà nước là phù hợp với quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[8] Về án phí và quyền kháng cáo:
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Tuyên bố bị cáo Hồ D1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Xử phạt: bị cáo Hồ D1 12 (mười hai) tháng tù;
Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính kể từ ngày bị tạm giữ, ngày 28/6/2024.
Tiếp tục tạm giam bị cáo Hồ D1 45 ngày theo quyết định của Hội đồng xét xử để đảm bảo thi hành án.
- Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Tịch thu, tiêu hủy:
Số ma túy sau giám định được niêm phong trong 01 phong bì thư dán kín, trên ghi nội dung “725/KL-KTHS”, niêm phong bằng hình dấu của Phòng K2 Công an tỉnh Q và chữ ký của những người tham gia niêm phong, ngoài cùng dán băng dính trong suốt;Tịch thu sung công quỹ nhà nước:
Một điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, màu xanh, phần kính camera phía sau bị vỡ, số IMEI1: 860620044990897, số IMEI2: 860620044990889. Điện thoại đã được niêm phong trong 01 phong bì thư dán kín các mép, được niêm phong bằng chữ ký của những người tham gia, trên mép dán của phong bì được đóng 3 hình dấu của Cơ quan CSĐT Công an huyện M, tỉnh Quảng Bình.Số vật chứng trên đã được chuyển giao và hiện đang bảo quản tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Minh Hóa theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 04/10/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện M và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Minh Hóa.
- Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Hồ D1 phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (23/10/2024) để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Quảng Bình xét xử theo trình tự phúc thẩm.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Quốc Hoàn |
Bản án số 39/2024/HS-ST ngày 23/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MINH HÓA, TỈNH QUẢNG BÌNH về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 39/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MINH HÓA, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hồ Danh tàng trữ trái phép chất ma túy
