TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 394/2024/HNGĐ-ST Ngày: 26-9-2024 V/v “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”. | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Diệp
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Trần Thị Kim Chi
2. Ông Trần Văn Chánh
Thư ký phiên tòa: Ông Phan Hoàng Long - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa;
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa:
Bà Phan Thị Mai – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 1534/2024/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 6 năm 2024, về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 332/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 422/2024/QĐST-HNGĐ ngày 06 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Phương T, sinh năm 1975 – Vắng mặt.
Địa chỉ thường trú: 10/2, khu phố Đ, phường H, thành phố B, tỉnh Đ.
Bị đơn: Ông Ngũ Tuấn A, sinh năm 1976 – Vắng mặt.
Địa chỉ thường trú: 10/2, khu phố Đ, phường H, thành phố B, tỉnh Đ.
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, lời trình bày tại biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng và hoà giải nguyên đơn bà Nguyễn Thị Phương T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Vợ chồng bà kết hôn vào năm 2000, có làm thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND xã H (nay phường H), thành phố B, tỉnh Đ, hôn nhân là hoàn toàn tự nguyện.
Trong thời gian chung sống, vợ chồng ông bà chung sống hạnh phúc được thời gian đầu nhưng đến năm 2020 thì phát bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do
ông bà bất đồng quan điểm sống, thường hay xảy ra cãi vã, bất đồng về lối sống và trong sinh hoạt. Nhiều lần vợ chồng tìm cách để giải quyết khắc phục mâu thuẫn để hàn gắn tình cảm cũng như hai bên gia đình đều khuyên can, hòa giải nhưng đều không có kết quả. Tuy sống chung nhà nhưng bà và ông A việc ai người đó làm, không ai còn quan tâm đến ai. Do vậy, tình cảm vợ chồng đến nay cũng không còn nên bà yêu cầu Toà án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Ngũ Tuấn A.
Về con chung: Ông bà có 02 con chung tên Ngũ Anh T1, sinh ngày 03/10/2001 và Ngũ Anh T2, sinh ngày 17/3/2003. Các con đã đủ 18 tuổi, đều có khả năng lao động nên bà không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về tài sản chung: Bà và ông A tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về nợ chung: Không có.
Bị đơn ông Ngũ Tuấn A đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt, không đến Tòa án làm việc và không có bản khai nộp Tòa án.
* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tại phiên tòa:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án được thực hiện đúng theo quy định pháp luật.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nhận đơn xin ly hôn của bà Nguyễn Thị Phương T; Về con chung: Ông bà có 02 con tên Ngũ Anh T1, sinh ngày 03/10/2001 và Ngũ Anh T2, sinh ngày 17/3/2003. Hiện các con đã đủ 18 tuổi, đều có khả năng lao động nên không đặt ra xem xét.
Về tài sản chung: bà T không yêu cầu Toà án giải quyết để hai bên tự thoả thuận với nhau; Nợ chung: bà T trình bày không có. Tuy nhiên do chưa lấy được lời khai của ông A nên đề nghị tách phần tài sản chung và nợ chung để giải quyết bằng vụ án dân sự khác nếu sau này các bên có yêu cầu.
Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà T phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bà Nguyễn Thị Phương T có đơn xin vắng mặt khi xét xử; bị đơn ông Ngũ Tuấn A mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến tòa để tham gia phiên tòa xét xử nhưng ông vắng mặt không có lý do. Do vậy, căn cứ theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bà T và ông A.
[2] Về thẩm quyền: Bà Nguyễn Thị Phương T khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn với ông Ngũ Tuấn A, có địa chỉ thường trú tại số nhà 10/2, khu phố Đồng Nai, phường H, thành phố B, tỉnh Đ. Căn cứ Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.
[3] Về quan hệ pháp luật và pháp luật áp dụng:
Bà Nguyễn Thị Phương T và ông Ngũ Tuấn A kết hôn vào năm 2000, có làm thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND xã H (nay phường H), thành phố B, tỉnh Đ. Căn cứ Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986, công nhận hôn nhân giữa bà T và ông A là hợp pháp. Bà T làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông A, đây là quan hệ tranh chấp về “Ly hôn” được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[4] Về quan hệ hôn nhân:
Nguyên đơn bà To trình bày tại đơn khởi kiện, tại bản tự khai và lời trình bày tại biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho thấy mâu thuẫn giữa bà T và ông A là có thật. Mặc dù, Tòa án đã tiến hành xác minh mâu thuẫn nhưng địa phương không nắm được. Tuy nhiên, mâu thuẫn giữa các bên thể hiện ở việc cả hai đã không còn quan tâm đến nhau, ông A cũng không có thiện chí hòa giải hàn gắn đoàn tụ với bà T điều này thể hiện qua việc ông A đã không đến tòa trong suốt quá trình giải quyết vụ án. Nhận thấy, mục đích hôn nhân giữa bà T và ông A từ lâu đã không còn đạt được nên nếu có tạo điều kiện về thời gian cho cả hai hòa giải hàn gắn cũng không có kết quả. Vì vậy, căn cứ Điều 56, 131 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, chấp nhận đơn xin ly hôn của bà T, giải quyết cho bà T được ly hôn ông A.
[5] Về con chung: Ông bà có 02 con chung tên Ngũ Anh T1, sinh ngày 03/10/2001 và Ngũ Anh T2, sinh ngày 17/3/2003. Các con đã đủ 18 tuổi, đều có khả năng lao động nên không đặt ra xem xét giải quyết.
[6] Về tài sản chung: bà T trình bày tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết; Nợ chung: không có. Tuy nhiên, do chưa lấy được lời khai của ông A nên tách phần tài sản chung và nợ chung để giải quyết bằng vụ án dân sự khác nếu sau này các bên có yêu cầu.
[7] Về án phí: Bà T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- - Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227, Điều 228, Điều 147, Điều 266, Điều 273 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Căn cứ các Điều 56, 131 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014;
- - Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Phương T.
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Phương T được ly hôn với ông Ngũ Tuấn A.
2. Về con chung: Ông bà có 02 con chung tên là Ngũ Anh T1, sinh ngày 03/10/2001 và Ngũ Anh T2, sinh ngày 17/3/2003. Các cháu đã đủ 18 tuổi, có khả năng lao động nên không xem xét giải quyết.
3. Về tài sản và nợ chung: Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
4. Về án phí HNGĐST: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Phương T phải chịu số tiền 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0004165 ngày 10/6/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
5. Bà Nguyễn Thị Phương T và ông Ngũ Tuấn A có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trương Thị Diệp |
Bản án số 394/2024/HNGĐ-ST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 394/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: mâu thuẫn vợ chồng
