Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CAN LỘC

TỈNH HÀ TĨNH

Bản án số: 39/2024/HS-ST

Ngày: 24-9-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAN LỘC, TỈNH HÀ TĨNH

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Thanh

Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Quốc Linh, ông Dương Văn Nhạ.

Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Trọng Bính - Thư ký Toà án nhân dân huyện Can Lộc.

Đại diện VKSND huyện Can Lộc tham gia phiên tòa: Ông Bùi Trường L - Kiểm sát viên.

Ngày 24/9/2024, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân huyện Can Lộc, Hà Tĩnh kết nối với điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh H, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số 35/2024/TLST ngày 29/8/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2024/QĐXXST- HS ngày 10/9/2024 đối với bị cáo: Nguyễn Anh D; Giới tính: Nam; Sinh ngày 05 tháng 11 năm 1997; Nơi sinh và nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Nguyễn Công T và bà Trần Thị H; Vợ, con: Chưa có

Tiền án: Ngày 16/8/2023 bị Tòa án nhân dân huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt 08 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản quy định tại khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự. Bị cáo kháng cáo. Ngày 16/11/2023 Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh xét xử giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm.

Tiền sự: Không

Nhân thân: Ngày 25/5/2023 bị Công an xã K, huyện C phạt tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, đã nộp phạt ngày 24/8/2023.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/6/2024 cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H.

- Bị hại: Anh Lê Văn L1; Đã chết vào ngày 28/6/2024; Nơi thường trú trước khi chết: Thôn T, xã T, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh.

- Đại diện hợp pháp của anh Lê Văn L1: Bà Nguyễn Thị H1; Sinh năm 1955; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. (Mẹ đẻ).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • + Anh Nguyễn Văn T1; Sinh năm 1974; Nghề nghiệp: Sữa chữa xe; Địa chỉ: K, phường T, thành phố V, tỉnh Nghệ An; Vắng mặt.
  • + Anh Lê Tiến Đ; Sinh năm 2005; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Địa chỉ: Xóm F, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An; Vắng mặt.

- Người tham gia tố tụng khác: Cán bộ, chiến sỹ tại điểm cầu thành phần hỗ trợ phiên tòa: Ông Bùi Thiên T2 - Tổ trưởng; Ông Nguyễn Văn T3 (cán bộ dẫn giải).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 16/6/2024, Công an xã T nhận được trình báo của anh Lê Văn L1 về việc mất trộm một chiếc xe mô tô dựng ở sân nhà.

Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã xác định được Nguyễn Anh D là người thực hiện hành vi trộm cắp chiếc xe mô tô của anh Lê Văn L1. Cụ thể, vào khoảng 01 giờ 30 phút ngày 14/6/2024, D mặc áo chống nắng trùm kín đầu, mang theo 01 chiếc tulovit và 01 chiếc đèn pin đội đầu rồi đi bộ đến nhà anh L1. Do anh L1 không đóng cửa cổng nên D đẩy chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave Alpha, màu đen bạc, mang biển kiểm soát 38C1 - 410.87 để ở sân, đi ra khu vực giữa cánh đồng Đồi Bảy trong thôn. Tại đây, D sử dụng tulovit mang theo mở vỏ nhựa phía trước đèn chiếu sáng rồi dùng tay giật đứt đường dây điện kết nối vào ổ khóa, sau đó nối hai dây điện vào nhau và nổ xe mô tô đi ra thành phố V, tỉnh Nghệ An tìm nơi tiêu thụ. D điều khiển xe mô tô đi đến tiệm sửa xe máy “Văn Tiên” của anh Nguyễn Văn T1 để thay ổ khóa. Sau khi thay được ổ khóa, D mở cốp xe mô tô để kiểm tra thì thấy trong đó có 01 chiếc ví da màu đen bên trong có một số giấy tờ gồm bằng lái xe, căn cước công dân, giấy chứng nhận đăng ký xe đều mang tên Lê Văn L1 nên D để lại trong cốp. Do chưa tìm được nơi tiêu thụ nên D điều khiển xe mô tô đến bãi đậu xe của quán B thuộc khối F, phường B, thành phố V, tỉnh Nghệ An cất dấu rồi đi taxi đi về nhà. Đến ngày 17/6/2024, Nguyễn Anh D nhận được giấy triệu tập của Cơ quan Công an, biết không thể che giấu hành vi vi phạm của bản thân nên đã chủ động đến quán B lấy xe mô tô đưa giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C và đầu thú về hành vi phạm tội của bản thân.

Bản Kết luận định giá số 12/KL-HĐĐG ngày 23/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C kết luận: 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave Alpha 110 số máy: JA39E2341987, số khung: RLHJA3923MY220828, mang biển kiểm soát 38C1-410.87 của anh Lê Văn L1, trị giá 7.000.000 đồng

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì về dân sự.

Ngày 15/8/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C ban hành bản kết luận điều tra số 33/KLĐT, đề nghị truy tố Nguyễn Anh D về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Ngày 28/8/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Can Lộc truy tố Nguyễn Anh Dũng về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 điều 173 Bộ luật Hình sự tại cáo trạng số 36/CT-VKS-CL.

Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, thừa nhận hành vi trộm cắp xe mô tô của anh L1 như Cáo trạng truy tố.

Bà Nguyễn Thị H1 trình bày đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường về dân sự và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm b, s khoản 1,2 điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 12 đến 15 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 17/6/2024; Tịch thu tiêu huỷ chiếc đèn pin đội đầu của bị cáo; Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là hợp pháp, tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Những người tham gia tố tụng không có khiếu nại gì về các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên.

[2] Về trách nhiệm hình sự:

[2.1] Xét hành vi của bị cáo:

  • - Về tội danh: Bị cáo lợi dụng sự sơ hở trong quản lý tài sản của chủ sở hữu để chiếm đoạt chiếc xe mô tô trị giá 7.000.000 đồng. Tuy bị cáo chưa kịp tiêu thụ, hưởng lợi nhưng đã đưa tài sản ra khỏi nơi quản lý ban đầu nên hành vi cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”.
  • - Tình tiết tăng nặng: Bị cáo chưa được xoá án tích lại tiếp tục phạm tội nên bị áp dụng tình tiết “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
  • - Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, tự nguyện lấy xe mô tô về trả cho bị hại, đầu thú và được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
  • - Về hướng xử lý: Hành vi của bị cáo xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội trên địa bàn, tái phạm cùng loại tội nên phải tiếp tục cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để đảm bảo tính răn đe và giáo dục chung.

[2.2] Xét hành vi của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • - Nguyễn Văn T1, là người đã thay ổ khóa xe máy cho D không biết đó là tài sản liên quan đến hành vi phạm tội. Vì vậy không có căn cứ để xem xét xử lý trách nhiệm hình sự đối với anh Nguyễn Văn T1.
  • - Lê Tiến Đ là nhân viên quán B, trực tiếp quản lý quán vào thời điểm D đưa xe mô tô đến quán nhưng không biết việc D để xe máy tại bãi đậu xe của quán, không biết xe do trộm cắp mà có. Vì vậy, không có căn cứ để xem xét, xử lý trách nhiệm hình sự đối với Lê Tiến Đ.

[3] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không có ý kiến gì về dân sự nên miễn xét.

[4] Về xử lý vật chứng: Cần phải tịch thu tiêu huỷ chiếc đèn pin màu xanh của bị cáo.

Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại và người liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự;

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47, điểm a,c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 6; điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức án phí, lệ phí Tòa án;

Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;

1. Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Anh D phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh D: 12 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17/6/2024.

2. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ chiếc đèn pin màu xanh của bị cáo. Tình trạng đặc điểm vật chứng có tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 30/8/2024 giữa Công an huyện C và Chi cục thi hành án dân sự huyện Can Lộc.

3. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Anh D phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo bản án: Bị cáo và đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo; Đại diện hợp pháp của bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - VKSND huyện Can Lộc;
  • - Cơ quan CSĐT Công an huyện Can Lộc;
  • - Cơ quan THAHS Công an huyện Can Lộc;
  • - Hồ sơ nghiệp vụ Công an huyện Can Lộc;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Can Lộc;
  • - UBND xã Thanh Lộc;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Tĩnh;
  • - TAND tỉnh Hà Tĩnh; VKSND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Thị Thanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 39/2024/HS-ST ngày 24/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAN LỘC, TỈNH HÀ TĨNH về trộm cắp tài sản (hình sự)

  • Số bản án: 39/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAN LỘC, TỈNH HÀ TĨNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Anh D phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh D: 12 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17/6/2024.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger