|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU - TP. ĐÀ NẴNG Bản án số: 39/2024/KDTM-ST Ngày 18 tháng 9 năm 2024 V/v "Tranh chấp hợp đồng tín dụng" |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU - TP ĐÀ NẴNG
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Ngọc Hà
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Công Lương
Ông Ngô Bá Dũng
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Trâm - Thư ký Tòa án nhân dân
quận Hải Châu, TP Đà Nẵng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng
tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Thùy Dương - Kiểm sát viên.
Trong ngày 18 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải Châu, TP Đà Nẵng, Tòa án xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 54/2024/TLST- KDTM ngày 11 tháng 6 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 54/2024/QĐST-KDTM ngày 29/8/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 54/2024/QĐST-KDTM ngày 17/9/2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Công ty TNHH Đ; Địa chỉ: B, ngách D, đường C, phường Y, quận C, thành phố Hà Nội. Người đại diện theo pháp luật là ông Lương Huyền C - Chức vụ: Giám đốc.
Đại diện theo ủy quyền: Ngân hàng TMCP phát triển thành phố H; Địa chỉ: B Bis N, phường B, quận A, thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện theo pháp luật: ông Phạm Quốc T – Chức vụ: Tổng Giám đốc. Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Nho C1 (theo Quyết định ủy quyền số 2992/2021/QĐ-TGĐ ngày 31/12/2021 của Tổng Giám đốc Ngân hàng TMCP phát triển thành phố H và Giấy ủy quyền số 60/2024/GUQ-HDBank ngày 05/4/2024 của Giám đốc Trung tâm Xử lý nợ- Ngân hàng TMCP phát triển thành phố H); Có mặt.
1
Bị đơn: Ông Nguyễn Đức H, sinh năm 1983 và bà Đinh Trần Dạ A, sinh năm 1983; Địa chỉ: K đường L, phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng. Ông H có mặt, bà A vắng mặt lần thứ 2 không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và các bản tự khai và tại phiên tòa hôm nay, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn – ông Nguyễn Nho C1 trình bày:
Ngân hàng TMCP P- Chi nhánh Đ1 đã cho ông Nguyễn Đức H và bà Đinh Trần Dạ A vay tiền theo các Hợp đồng tín dụng sau:
1/ Hợp đồng tín dụng số 2064/23MB/HĐTD ngày 23/02/2023, Đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 2064/23MB/HĐTD/KUNN01 ngày 24/02/2023:
- -Số tiền vay: 1.500.000.000 đồng (Một tỷ năm trăm triệu đồng)
- -Số tiền giải ngân: 1.500.000.000 đồng (Một tỷ năm trăm triệu đồng)
- -Ngày giải ngân: 24/02/2023
- -Ngày đến hạn: 24/02/2024
- -Lãi suất trong hạn tại thời điểm giải ngân: 13,5 %/ năm
- -Mục đích vay: Vay bổ sung vốn kinh doanh sỉ lẻ bánh gato, bông lan
2/ Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng cá nhân kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 10/08/2022 (Thẻ tín dụng số 416259******2518):
- -Số tiền hạn mức thẻ: 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng)
- -Ngày phát hành: 11/08/2022
- -Ngày hết hạn: 31/07/2027
- -Lãi suất vay: Thay đổi theo từng thời kỳ
3/ Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng cá nhân kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 23/03/2023 (Thẻ tín dụng số 515131******7329):
- -Số tiền hạn mức thẻ: 150.000.000 đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng)
- -Ngày phát hành: 24/03/2023
- -Ngày hết hạn: 28/02/2026
- -Lãi suất vay: Thay đổi theo từng thời kỳ
- -Mục đích vay: Tiêu dùng
4/ Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng cá nhân kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 21/09/2022 (Thẻ tín dụng số 416259******3652):
- -Số tiền hạn mức thẻ: 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng)
2
- -Ngày phát hành: 27/09/2022
- -Ngày hết hạn: 31/08/2027
- -Lãi suất vay: Thay đổi theo từng thời kỳ
- -Mục đích vay: Tiêu dùng
Tài sản bảo đảm: Quyền sử dụng đất và toàn bộ tài sản trên đất tại thửa đất số 53, tờ bản đồ số 2, địa chỉ: Tổ C, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CA 552049, số vào sổ cấp GCN CTs 76987 do Sở tài nguyên và môi trường Thành phố Đ cấp ngày 01/10/2015, Cập nhật thay đổi ngày 06/01/2022, thuộc sở hữu của ông Nguyễn Đức H và bà Đinh Trần Dạ A được thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất số 2064/23MB/HĐBĐ ngày 23/02/2023, công chứng tại văn phòng C2. Đăng ký thế chấp tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai quận C ngày 23/02/2023.
Do ông Nguyễn Đức H và bà Đinh Trần Dạ A đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi đến hạn như đã thoả thuận trong các Hợp đồng tín dụng, các Khế ước nhận nợ mà hai bên đã ký kết. Mặc dù, Ngân hàng đã nhiều lần liên hệ làm việc, yêu cầu trả nợ ông Nguyễn Đức H và bà Đinh Trần Dạ A vẫn không thực hiện nghĩa vụ của mình, hiện khoản vay đã chuyển nợ quá hạn.
Ngày 13/12/2023, H1 đã bán toàn bộ khoản nợ của ông Nguyễn Đức H và bà Đinh Trần Dạ A cho Công ty TNHH Đ theo Hợp đồng mua bán nợ số 116.12.2023/HĐMBN và 117.12.2023/HĐMBN ngày 13/12/2023 được ký kết giữa H1 với Công ty TNHH Đ. Cùng ngày 13/12/2023, Công ty TNHH Đ đã ủy quyền cho H1 thực hiện đầy đủ việc thu hồi nợ, đòi nợ khoản vay (khoản nợ) của ông Nguyễn Đức H và bà Đinh Trần Dạ A theo nội dung Hợp đồng ủy quyền số 116.12.2023/HĐUQ và 117.12.2023/HĐUQ ngày 13/12/2023 được ký kết giữa H1 với Công ty TNHH Đ. Như vậy, kể từ ngày 13/12/2023, Công ty TNHH Đ trở thành chủ nợ đối với khoản vay (khoản nợ) của ông Nguyễn Đức H và bà Đinh Trần Dạ A tại H1.
Nay Công ty TNHH Đ khởi kiện yêu cầu: Ông Nguyễn Đức H và bà Đinh Trần Dạ A phải thanh toán cho Công ty TNHH Đ tổng số nợ còn thiếu tính đến ngày 17/9/2024 là: 2.700.737.235₫ (Hai tỷ bảy trăm triệu bảy trăm ba mươi bảy ngàn hai trăm ba lăm đồng); Trong đó: nợ gốc: 2.043.025.975 đồng; nợ lãi trong hạn: 288.862.468 đồng; nợ lãi quá hạn/ phí phạt: 368.848.892 đồng.
3
Ngoài ra, ông Nguyễn Đức H và bà Đinh Trần Dạ A phải thanh toán cho Công ty TNHH Đ số tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất nợ quá hạn do các bên thỏa thuận trong các Hợp đồng tín dụng và các Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ kèm theo hợp đồng từ ngày 18/9/2024 cho đến khi thanh toán dứt điểm nợ vay. Trường hợp, ông Nguyễn Đức H và bà Đinh Trần Dạ A không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì đề nghị Quý Tòa cho công ty TNHH Đ yêu cầu thi hành án phát mãi tài sản đã thế chấp là: Quyền sử dụng đất và toàn bộ tài sản trên đất tại thửa đất số 53, tờ bản đồ số 2, địa chỉ: Tổ C, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CA 552049, số vào sổ cấp GCN CTs 76987 do Sở tài nguyên và môi trường Thành phố Đ cấp ngày 01/10/2015, Cập nhật thay đổi ngày 06/01/2022, thuộc sở hữu của ông Nguyễn Đức H và bà Đinh Trần Dạ A. Tài sản bảo đảm nêu trên được thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất số 2064/23MB/HĐBĐ ngày 23/02/2023, công chứng tại văn phòng C2. Đăng ký thế chấp tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai quận C ngày 23/02/2023. Toàn bộ số tiền thu được từ việc phát mãi tài sản đảm bảo được dùng để cấn trừ nghĩa vụ trả nợ của ông Nguyễn Đức H và bà Đinh Trần Dạ A đối với Công ty TNHH Đ. Nếu số tiền phát mãi tài sản đảm bảo không đủ thanh toán hết khoản nợ ông Nguyễn Đức H và bà Đinh Trần Dạ A tại Công ty TNHH Đ, ông Nguyễn Đức H và bà Đinh Trần Dạ A phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ.
* Tại Bản tự khai và tại phiên tòa hôm nay, đại diện của bị đơn ông Nguyễn Đức H trình bày:
Chúng tôi xác nhận vào ngày 23/02/2023, vợ chồng tôi có ký Hợp đồng tín dụng số 2064/23MB/HĐTD và được giải ngân theo Khế ước nhận nợ số 2064/23MB/HĐTD/KUNN01 ngày 24/02/2023 để vay số tiền 1.500.000.000 đồng (Một tỷ năm trăm triệu đồng); Lãi suất trong hạn tại thời điểm giải ngân: 13,5 %/ năm; Mục đích vay: Vay bổ sung vốn kinh doanh sỉ lẻ bánh gato, bông lan.
Ngoài ra chúng tôi có kí các Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng cá nhân kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 10/08/2022 (Thẻ tín dụng số 416259******2518) với số tiền hạn mức thẻ: 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng); Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng cá nhân kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng
4
ngày 23/03/2023 (Thẻ tín dụng số 515131******7329) với số tiền hạn mức thẻ: 150.000.000 đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng); Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng cá nhân kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 21/09/2022 (Thẻ tín dụng số 416259******3652) với số tiền hạn mức thẻ: 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng).
Tài sản đảm bảo khoản nợ vay nói trên là Quyền sử dụng đất và toàn bộ tài sản trên đất tại thửa đất số 53, tờ bản đồ số 2, địa chỉ: Tổ C, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CA 552049, số vào sổ cấp GCN CTs 76987 do Sở tài nguyên và môi trường Thành phố Đ cấp ngày 01/10/2015, Cập nhật thay đổi ngày 06/01/2022, thuộc sở hữu của ông Nguyễn Đức H và bà Đinh Trần Dạ A. Tài sản bảo đảm nêu trên được thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất số 2064/23MB/HĐBĐ ngày 23/02/2023, công chứng tại văn phòng C2. Đăng ký thế chấp tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai quận C ngày 23/02/2023. Hiện trang nhà và đất nói trên không có gì thay đổi so với Giấy chứng nhận đã cấp và đang do chúng tôi quản lý, sử dụng.
Ngày 13/12/2023, Ngân hàng đã bán toàn bộ khoản nợ của chúng tôi cho Công ty TNHH Đ theo Hợp đồng mua bán nợ số 116.12.2023/HĐMBN và 117.12.2023/HĐMBN ngày 13/12/2023 được ký kết giữa H1 với Công ty TNHH Đ.
Trong quá trình vay và sử dụng thẻ tín dụng vợ chồng tôi đã vi phạm kì hạn trả nợ nên tính đến ngày 17/9/2024, chúng tôi còn nợ Công ty TNHH Đ tổng số tiền: là 2.700.737.235đ (Hai tỷ bảy trăm triệu bảy trăm ba mươi bảy ngàn hai trăm ba lăm đồng); Trong đó: nợ gốc: 2.043.025.975 đồng; nợ lãi trong hạn: 288.862.468 đồng; nợ lãi quá hạn/ phí phạt: 368.848.892 đồng. Do hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn nên tôi chưa có khả năng trả nợ ngay cho Công ty TNHH Đ được. Do đó, tôi đề nghị Công ty TNHH Đ gia hạn cho tôi đến ngày 18/3/2025 để tôi có thời gian thanh toán nợ.
Nếu trường hợp vợ chồng chúng tôi không trả được nợ thì chúng tôi đồng ý để Công ty TNHH Đ yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất và toàn bộ tài sản trên đất tại thửa đất số 53, tờ bản đồ số 2, địa chỉ: Tổ C, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CA
5
552049, số vào sổ cấp GCN CTs 76987 do Sở tài nguyên và môi trường Thành phố Đ cấp ngày 01/10/2015, Cập nhật thay đổi ngày 06/01/2022, thuộc sở hữu của ông Nguyễn Đức H và bà Đinh Trần Dạ A để thu hồi nợ.
* Tại phiên tòa sơ thẩm, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, TP Đà Nẵng phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều đúng pháp luật.
Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; buộc ông Nguyễn Đức H và bà Đinh Trần Dạ A phải thanh toán cho Công ty TNHH Đ số tiền tính đến ngày 17/9/2024 là 2.700.737.235đ (Hai tỷ bảy trăm triệu bảy trăm ba mươi bảy ngàn hai trăm ba lăm đồng); Trong đó: nợ gốc: 2.043.025.975 đồng; nợ lãi trong hạn: 288.862.468 đồng; nợ lãi quá hạn/ phí phạt: 368.848.892 đồng.
Lãi suất được tiếp tục tính kể từ ngày 18/9/2024 tiền phạt chậm trả lãi, lãi quá hạn phát sinh theo mức lãi suất quy định tại Thỏa thuận về các điều khoản và điều kiện tín dụng chung, Hợp đồng cấp tín dụng, Khế ước nhận nợ, Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng, Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng TMCP phát triển thành phố H cho đến khi ông Nguyễn Đức H và bà Đinh Trần Dạ A thanh toán xong khoản nợ. Tài sản đảm bảo bị xử lý trong trường hợp bị đơn không thực hiện được nghĩa vụ thanh toán và phải chịu án phí, các chi phí tố tụng khác theo quy định pháp luật. Trường hợp ông Nguyễn Đức H và bà Đinh Trần Dạ A thanh toán đầy đủ các khoản nợ cho Công ty TNHH Đ thì Công ty TNHH Đ có trách nhiệm làm thủ tục giải chấp tài sản thế chấp và trả lại toàn bộ giấy tờ bản chính cho người thế chấp theo quy định tại Điều 322 BLDS năm 2015.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” giữa nguyên đơn Công ty TNHH Đ đối với bị đơn ông Nguyễn Đức H và bà Đinh Trần Dạ A thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Hải Châu theo quy định
6
tại khoản 1 Điều 30; điểm b khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố dụng dân sự.
Bị đơn là bà Đinh Trần Dạ A mặt không có lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 để xét xử vắng mặt đương sự nói trên.
[2] Về nội dung vụ án:
Ngân hàng TMCP P cùng ông Nguyễn Đức H và bà Đinh Trần Dạ A kí kết Hợp đồng tín dụng số 2064/23MB/HĐTD ngày 23/02/2023 để vay số tiền 1.500.000.000đ với mục đích vay bổ sung vốn kinh doanh sỉ lẻ bánh gato, bông lan và được giải ngân theo Khế ước nhận nợ số 2064/23MB/HĐTD/KUNN01 ngày 24/02/2023; Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng cá nhân kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 10/08/2022 (Thẻ tín dụng số 416259******2518) cấp ngày 11/08/2022; Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng cá nhân kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 23/03/2023 (Thẻ tín dụng số 515131******7329) cấp ngày 24/03/2023 và Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng cá nhân kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 21/09/2022 (Thẻ tín dụng số 416259******3652) cấp ngày 27/09/2022. Tài sản đảm bảo khoản nợ vay nói trên là Quyền sử dụng đất và toàn bộ tài sản trên đất tại thửa đất số 53, tờ bản đồ số 2, địa chỉ: Tổ C, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CA 552049, số vào sổ cấp GCN CTs 76987 do Sở tài nguyên và môi trường Thành phố Đ cấp ngày 01/10/2015, Cập nhật thay đổi ngày 06/01/2022, thuộc sở hữu của ông Nguyễn Đức H và bà Đinh Trần Dạ A. Tài sản bảo đảm nêu trên được thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất số 2064/23MB/HĐBĐ ngày 23/02/2023, công chứng tại văn phòng C2. Đăng ký thế chấp tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai quận C ngày 23/02/2023. Quá trình vay, ông Nguyễn Đức H và bà Đinh Trần Dạ A đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Ngày 13/12/2023, Ngân hàng đã bán toàn bộ khoản nợ của ông H bà A cho Công ty TNHH Đ theo Hợp đồng mua bán nợ số 116.12.2023/HĐMBN và 117.12.2023/HĐMBN ngày 13/12/2023 được ký kết giữa H1 với Công ty TNHH Đ nên Công ty TNHH Đ khởi kiện yêu cầu ông H bà A thanh toán toàn bộ số tiền còn nợ tính đến ngày 17/9/2024 là 2.700.737.235₫ (Hai tỷ bảy trăm triệu bảy trăm ba mươi bảy ngàn hai trăm ba lăm đồng); Trong đó: nợ gốc: 2.043.025.975 đồng; nợ lãi trong hạn: 288.862.468 đồng; nợ lãi quá hạn/ phí phạt: 368.848.892 đồng. T1 ông H bà A không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì tài sản bảo đảm được cơ quan có thẩm quyền xử lý để thu hồi nợ là Quyền sử dụng đất và toàn bộ tài sản trên đất tại thửa đất số 53, tờ bản đồ số 2, địa chỉ: Tổ C, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng thuộc quyền sở hữu, sử dụng của ông Nguyễn Đức H và bà Đinh Trần Dạ A.
Ông Nguyễn Đức H và bà Đinh Trần Dạ A xác nhận có kí kết với Ngân hàng TMCP phát triển thành phố H 01 Hợp đồng tín dụng số 2064/23MB/HĐTD ngày 23/02/2023 để vay số tiền 1.500.000.000₫ với mục đích vay bổ sung vốn
7
kinh doanh sỉ lẻ bánh gato, bông lan và được giải ngân theo Khế ước nhận nợ số 2064/23MB/HĐTD/KUNN01 ngày 24/02/2023; Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng cá nhân kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 10/08/2022 (Thẻ tín dụng số 416259******2518) cấp ngày 11/08/2022; Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng cá nhân kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 23/03/2023 (Thẻ tín dụng số 515131******7329) cấp ngày 24/03/2023 và Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng cá nhân kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 21/09/2022 (Thẻ tín dụng số 416259******3652) cấp ngày 27/09/2022. Do ngày 13/12/2023, Ngân hàng đã bán toàn bộ khoản nợ của ông H bà A cho Công ty TNHH Đ theo Hợp đồng mua bán nợ số 116.12.2023/HĐMBN và 117.12.2023/HĐMBN ngày 13/12/2023 được ký kết giữa H1 với Công ty TNHH Đ nên ông H xác nhận vợ chồng ông bà còn nợ Công ty TNHH Đ số tiền đến ngày 17/9/2024 là 2.700.737.235₫ (Hai tỷ bảy trăm triệu bảy trăm ba mươi bảy ngàn hai trăm ba lăm đồng); Trong đó: nợ gốc: 2.043.025.975 đồng; nợ lãi trong hạn: 288.862.468 đồng; nợ lãi quá hạn/ phí phạt: 368.848.892 đồng. Nhưng hiện hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn nên chưa có khả năng trả nợ và xin gia hạn đến ngày 18/3/2025 tháng sẽ thanh toán toàn bộ khoản nợ cho Ngân hàng. Nếu trường hợp không trả được nợ thì đồng ý phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì thấy: Căn cứ “Hợp đồng tín dụng số 2064/23MB/HĐTD ngày 23/02/2023" và " Đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 2064/23MB/HĐTD/KUNN01 ngày 24/02/2023”; “ Các Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng cá nhân kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng” của ông Nguyễn Đức H và bà Đinh Trần Dạ A ký với Ngân hàng TMCP phát triển thành phố H, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định Ngân hàng TMCP phát triển thành phố H đã cho ông Nguyễn Đức H và bà Đinh Trần Dạ A vay tiền và sử dụng các thẻ tín dụng với các điều khoản thỏa thuận đã trong Hợp đồng. Ngày 13/12/2023, Ngân hàng TMCP phát triển thành phố H đã bán toàn bộ khoản nợ của ông Nguyễn Đức H và bà Đinh Trần Dạ A cho Công ty TNHH Đ theo Hợp đồng mua bán nợ số 116.12.2023/HĐMBN và 117.12.2023/HĐMBN ngày 13/12/2023 được ký kết giữa Ngân hàng TMCP phát triển thành phố H với Công ty TNHH Đ. Đây là các Hợp đồng tín dụng, có nội dung và hình thức hợp đồng phù hợp với quy định của pháp luật nên khi ông H bà A vi phạm nghĩa vụ trả nợ thì Công ty TNHH Đ có quyền khởi kiện. Như vậy, yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH Đ là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận; cần buộc ông H bà A phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ của bên vay đối với số tiền còn nợ như trên cho Công ty TNHH Đ theo quy định tại điều 463, 466 Bộ luật dân sự và các Điều 91, 98 Luật các Tổ chức tín dụng 2010.
[5] Quá trình thực hiện hợp đồng, ông Nguyễn Đức H và bà Đinh Trần Dạ A vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Công ty TNHH Đ đã nhiều lần yêu cầu ông H bà A thanh toán nhưng đến nay khoản nợ vẫn chưa được thanh toán. Do vậy, Công ty TNHH Đ khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông Nguyễn Đức H và bà Đinh Trần Dạ A phải thanh toán cho Công ty số tiền tạm tính đến ngày 17/9/2024 là 2.700.737.235₫ (Hai tỷ bảy trăm triệu bảy trăm ba mươi bảy ngàn hai trăm ba lăm đồng); Trong đó: nợ gốc: 2.043.025.975 đồng; nợ lãi trong hạn: 288.862.468
8
đồng; nợ lãi quá hạn/ phí phạt: 368.848.892 đồng. Kể từ ngày 18/9/2024, ông Nguyễn Đức H và bà Đinh Trần Dạ A còn tiếp tục phải trả tiền lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng, các Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng cá nhân kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng đã ký kết trên số tiền nợ gốc còn lại cho đến khi tất toán khoản vay. Đồng thời, kể từ ngày bản án/ quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật mà ông Nguyễn Đức H và bà Đinh Trần Dạ A chưa trả được toàn bộ khoản nợ thì Công ty TNHH Đ có quyền cơ quan có thẩm quyền xử lý để thu hồi nợ là Quyền sử dụng đất và toàn bộ tài sản trên đất tại thửa đất số 53, tờ bản đồ số 2, địa chỉ: Tổ C, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CA 552049, số vào sổ cấp GCN CTs 76987 do Sở tài nguyên và môi trường Thành phố Đ cấp ngày 01/10/2015, Cập nhật thay đổi ngày 06/01/2022, thuộc sở hữu của ông Nguyễn Đức H và bà Đinh Trần Dạ A. Tài sản bảo đảm nêu trên được thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất số 2064/23MB/HĐBĐ ngày 23/02/2023, công chứng tại văn phòng C2. Đăng ký thế chấp tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai quận C ngày 23/02/2023.
[6] Ngày 16/8/2024, Tòa án nhân dân quận Hải Châu tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ hiện trạng thực tế của tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất và toàn bộ tài sản trên đất tại thửa đất số 53, tờ bản đồ số 2, địa chỉ: Tổ C, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng thuộc quyền sở hữu, sử dụng của ông Nguyễn Đức H và bà Đinh Trần Dạ A, mặc dù không vào được nhà nhưng sau khi xem xét từ bên ngoài thì hiện trạng không có thay đổi gì so với thời điểm thế chấp tài sản. Hiện tại tại nhà và đất nói trên do ông H và bà A quản lý sử dụng. Ông Nguyễn Đức H và bà Đinh Trần Dạ A đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo thỏa thuận, do đó tài sản thế chấp trên sẽ được xử lý theo quy định của pháp luật trong trường hợp ông bà không thanh toán được nghĩa vụ trả nợ cho Công ty TNHH Đ theo quy định tại các Điều 299, 303, 307 Bộ luật dân sự 2015 để đảm bảo thi hành án.
[7] Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn - ông Nguyễn Đức H và bà Đinh Trần Dạ A phải chịu án phí dân sự sơ thẩm: (72.000.000 + 2%(2.700.737.235- 2.000.000.000)) ~ 86.014.745 đồng. Lệ phí xem xét thẩm định tại chỗ là 4.000.000 đồng, ông Nguyễn Đức H và bà Đinh Trần Dạ A phải chịu. Công ty TNHH Đ đã tạm ứng nên ông Nguyễn Đức H và bà Đinh Trần Dạ A phải hoàn trả lại cho Công ty TNHH Đ chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 4.000.000 đồng.
[8] Các đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa hôm nay là phù hợp pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 63, 147, 180, 227, 228, 235, 266 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
9
Căn cứ Điều 117, 299, 303, 307, 320, 323; 463, 466 Bộ luật dân sự; Điều 91, khoản 2 Điều 95, khoản 3 Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng 2010;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện v/v "Tranh chấp Hợp đồng tín dụng" của Công ty TNHH Đ đối với ông Nguyễn Đức H và bà Đinh Trần Dạ A.
Buộc ông Nguyễn Đức H và bà Đinh Trần Dạ A phải thanh toán cho Công ty TNHH Đ số tiền tính đến ngày 17/9/2024 là 2.700.737.235₫ (Hai tỷ bảy trăm triệu bảy trăm ba mươi bảy ngàn hai trăm ba lăm đồng); Trong đó: nợ gốc: 2.043.025.975 đồng; nợ lãi trong hạn: 288.862.468 đồng; nợ lãi quá hạn/ phí phạt: 368.848.892 đồng.
Kể từ ngày 18/9/2024, ông Nguyễn Đức H và bà Đinh Trần Dạ A còn phải chịu số tiền lãi phát sinh cho đến ngày thanh toán hết mọi khoản nợ với mức lãi suất theo “Hợp đồng tín dụng số 2064/23MB/HĐTD ngày 23/02/2023", " Đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 2064/23MB/HĐTD/KUNN01 ngày 24/02/2023” và “ Các Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng cá nhân kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng” của ông Nguyễn Đức H và bà Đinh Trần Dạ A ký với Ngân hàng TMCP phát triển thành phố H.
Trường hợp ông Nguyễn Đức H và bà Đinh Trần Dạ A không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Công ty TNHH Đ thì Công ty TNHH Đ có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất và toàn bộ tài sản trên đất tại thửa đất số 53, tờ bản đồ số 2, địa chỉ: Tổ C, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng thuộc quyền sở hữu, sử dụng của ông Nguyễn Đức H và bà Đinh Trần Dạ A để thu hồi toàn bộ khoản nợ.
2. Án phí và chi phí tố tụng khác:
- Án phí Dân sự sơ thẩm: 86.014.745đ (T2 mươi sáu triệu không trăm mười bốn ngàn bảy trăm bốn mươi lăm đồng), ông Nguyễn Đức H và bà Đinh Trần Dạ A phải chịu.
Hoàn trả cho Công ty TNHH Đ số tiền tạm ứng án phí 40.418.052đ (Bốn mươi triệu bốn trăm mười tám ngàn không trăm năm mươi hai đồng) đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải Châu, TP Đà Nẵng theo biên lai thu số 0000384 ngày 06/6/2024.
- Lệ phí xem xét thẩm định tại chỗ là 4.000.000 đồng, ông Nguyễn Đức H và bà Đinh Trần Dạ A phải chịu. Công ty TNHH Đ đã tạm ứng nên ông Nguyễn
10
Đức H và bà Đinh Trần Dạ A phải hoàn trả lại cho Công ty TNHH Đ chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 4.000.000 đồng.
3. Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm hôm nay. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết công khai.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Phạm Thị Ngọc Hà |
11
Bản án số 39/2024/KDTM-ST ngày 18/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU - TP. ĐÀ NẴNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 39/2024/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/09/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU - TP. ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
