TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
Bản án số: 39/2024/HNGĐ-ST Ngày: 16 - 9 - 2024 “V/v Tranh chấp xin ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hải Hà
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dương Thành Công
Ông Phạm Văn Đông
Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Thanh Khuyên là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa:
Bà Từ Thanh Thùy – Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 45/2024/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 6 năm 2024 về việc “Tranh chấp xin ly hôn”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 33/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
- · Nguyên đơn: Ông L, W, sinh năm 1964 (xin vắng)
- Địa chỉ: Số A, đoạn B, đường D, khóm E, phường Q, Khu Q, thành phố Đ, Đài Loan.
- · Bị đơn: Bà Phạm Mỹ T, sinh năm 1990 (xin vắng)
- Địa chỉ: 9 L, khóm A, phường H, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn ông L, W trình bày: Qua mai mối ông và bà Phạm Mỹ T quen biết nhau và tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thành phố C, tỉnh Cà Mau ngày 01/4/2024. Sau khi kết hôn thì xảy ra mâu thuẫn, tình tính không hợp dẫn đến thường xuyên cự cải, từ đó không liên lạc với nhau, không quan tâm lẫn nhau, mỗi người có cuộc sống riêng. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông xin ly hôn với bà Phạm Mỹ T.
Về con chung, tài sản chung và nợ: ông xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do ở Đài Loan nên đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt ông.
Bị đơn bà Phạm Mỹ T trình bày: Bà và ông L, W có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thành phố C, tỉnh Cà Mau ngày 01/4/2024. Do hai người không hợp nhau nên ông L, W yêu cầu ly hôn thì bà đồng ý. Về con chung, tài sản chung và nợ: bà xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đi làm tại Bình Dương nên đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt bà.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; về phía đương sự đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho ông L, W được ly hôn với bà Phạm Mỹ T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn được xác định là “Tranh chấp xin ly hôn”. Bị đơn có quốc tịch nước ngoài và có địa chỉ cư trú ở nước ngoài. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau; nguyên đơn, bị đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, căn cứ Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt đối với các đương sự.
[2] Ông L, W và bà Phạm Mỹ T có đăng ký kết hôn vào ngày 01/4/2024 tại Ủy ban nhân dân thành phố C, tỉnh Cà Mau đúng theo quy định pháp luật Việt Nam, nên quan hệ hôn nhân của hai đương sự được công nhận là vợ chồng.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, theo nguyên đơn trình bày: Sau khi kết hôn thì vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, tình tính không hợp dẫn đến thường xuyên cự cải, từ đó không liên lạc với nhau, không quan tâm lẫn nhau, mỗi người có cuộc sống riêng, bà T cũng không phản đối với yêu cầu khởi kiện của ông L, W và đồng ý ly hôn. Hội đồng xét xử xét thấy, hiện nay mỗi đương sự sống ở một quốc gia khác nhau, có khoảng cách địa lý và với thực tế hôn nhân như các đương sự trình bày, cho thấy mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, nếu duy trì cũng không có kết quả. Do đó, căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cho ông L, W được ly hôn với bà Phạm Mỹ T.
[4] Về con chung, tài sản chung và nợ: Nguyên đơn, bị đơn xác định không có, không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
[5] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
[6] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu theo quy định pháp luật.
[7] Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 28, 37, 147, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng khoản 1 Điều 56, Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Tuyên bố ông L, W được ly hôn bà Phạm Mỹ T.
- Về án phí sơ thẩm: Ông L, W phải chịu 300.000 đồng, đã dự nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0000185 ngày 14/6/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau được chuyển thu.
- Về quyền kháng cáo: Ông L, W được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 30 ngày, bà Phạm Mỹ T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày. Thời điểm kể từ ngày nhận bản án hoặc được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Hải Hà |
Bản án số 39/2024/HNGĐ-ST ngày 16/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU về tranh chấp xin ly hôn
- Số bản án: 39/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp xin ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: cho ly hôn; có yếu tố nước ngoài
