TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO THẮNG, TỈNH LÀO CAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 39/2024/HS-ST Ngày 12 – 9 – 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO THẮNG, TỈNH LÀO CAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Mai Phương
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Hoàng Thị Bích Phượng
2. Ông Phạm Tuấn Thịnh
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Phương Thảo – Là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Mai Ngọc - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 9 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 34/2024/HSST ngày 31 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 37/2024/QĐXXST-HS ngày16 tháng 8 năm 2024 và Quyết định Hoãn phiên toà số 03/2024/HSST-QĐ ngày 27/8/2024; Quyết định hoãn phiên toà số 04/2024/HSST-QĐ ngày 06/9/2024 đối với bị cáo:
- Họ và tên: NGÔ ĐỨC ANH - Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 20 tháng 8 năm 2003, tại thành phố L, tỉnh Lào Cai; Nơi cư trú: thôn D, xã C, thành phố L, tỉnh Lào Cai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; Trình độ học vấn: Lớp 7/12; Con ông Ngô Mạnh N và bà Hoàng Thị N1; Bị cáo có vợ là Lê Thị Kim C và có 01 người con sinh ngày 13/8/2024; Tiền án: Không; Tiền sự: Không.
Bị cáo Ngô Đức A bị tạm giữ từ ngày 06/6/2024 đến ngày 12/6/2024, tạm giam từ ngày 12/6/2024 đến ngày 16/7/2024 được thay thế biên pháp ngăn chặn từ Tạm giam sang B lĩnh. Có mặt
- Bị hại:
- Bà Hà Thị H; sinh năm 1959, trú tại: thôn B, xã G, huyện B, tỉnh Lào Cai - Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Anh Phạm Văn K; sinh năm 1982, trú tại: thôn H, xã G, huyện B, tỉnh Lào Cai - Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- UBND xã G, huyện B, tỉnh Lào Cai. Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Đặng Văn P - Trưởng thôn X, xã G, huyện B, tỉnh Lào Cai (Văn bản uỷ quyền số 01 ngày 11/6/2024) - Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Chị Lê Thị Kim C; địa chỉ: thôn D, xã C, thành phố L, tỉnh Lào Cai - Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt
- Anh Nguyễn Văn S; Địa chỉ: tổ I, thị trấn T, huyện B, tỉnh Lào Cai - Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Anh Nguyễn Anh T; Địa chỉ: tổ G, phường X, thành phố L, tỉnh Lào - Vắng mặt không có lý do.
- Chị Kim Thị T1; Địa chỉ: tổ dân phố P, thị trấn P, huyện B, tỉnh Lào Cai - Vắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngô Đức A đi qua một số Nhà văn hóa trên địa bàn xã G thấy có tài sản có thể trộm cắp nên Ngô Đức A đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Ngô Đức A đã chuẩn bị 01 kìm cắt sắt (kìm cộng lực loại 24 inch) bằng kim loại, chiều dài 600mm, phần tay cầm được ốp nhựa màu đen, phần kìm được sơn màu xanh; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda wave alpha, số khung 121XDY019040, số máy HC12B5019059, biển số 24T1-015.44 của vợ chồng Ngô Đức A. Trong các ngày 03/6/2024 và 04/6/2024, Ngô Đức A đã 02 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản như sau:
Lần thứ nhất: Khoảng 12 giờ ngày 03/6/2024, Ngô Đức A một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda wave alpha mang theo kìm cắt sắt đi theo hướng từ Ủy ban nhân dân xã G đến đường liên thôn P đi thôn T, xã G để tìm tài sản trộm cắp. Đi được khoảng 02km, Ngô Đức A nhìn thấy Nhà văn hóa thôn B2, xã G cổng đang mở, quan sát thấy không có người, Ngô Đức A điều khiển xe vào khu vực đánh bóng chuyền ở sân nhà văn hoá đến vị trí chiếc ghế hàn bằng sắt thuộc sở hữu của bà Hà Thị H để ở đó, Ngô Đức A dùng kìm cắt 02 chân ghế rồi nhấc chiếc ghế sắt đặt lên yên xe chở đến khu vực thôn X, xã G giấu chiếc ghế vào một bụi tre ven đường. Sau khi giấu xong chiếc ghế sắt, Ngô Đức A điều khiển xe đến Nhà văn hóa thôn X, xã G nằm ở bên trái đường theo hướng đi. Quan sát xung quanh không có người nên Ngô Đức A dùng kìm cắt ổ khoá cửa chính rồi cho ổ khóa và then cài vào túi quần, đi vào bên trong mở chốt cửa lách phía trong, dùng hai tay nhấc 01 cánh cửa lách bằng sắt và 03 cánh cửa sắt của cửa chính mang ra đặt lên yên xe mô tô và điều khiển xe mô tô đi ra đường liên thôn đi hướng về Ủy ban nhân dân xã G, đi được khoảng 100m, Ngô Đức A vứt ổ khóa và then cài vào bụi cỏ ven đường, rồi điều khiển xe chở các cảnh cửa sắt vừa trộm cắp xuống cửa hàng thu mua sắt vụn của Nguyễn Văn S bán được 750.000 đồng. Tiếp đó, Ngô Đức A điều khiển xe đến vị trí cất giấu ghế sắt trộm cắp được chở đến cửa hàng thu mua sắt vụn của Nguyễn Anh T bán được 240.000 đồng.
Lần thứ hai: Khoảng hơn 12 giờ ngày 04/6/2024, Ngô Đức A một mình điều khiển xe mô tô không gắn biển kiểm soát và mang theo 01 chiếc kìm cắt sắt từ vụ trộm cắp trước đi từ nhà xuống xã G, huyện B với mục đích tìm tài sản để trộm cắp. Khi đến khu vực xưởng sửa chữa máy xúc của gia đình anh Phạm Văn K, quan sát thấy xưởng đóng cửa, xung quanh không có người, ở sân có 01 chiếc máy xúc màu xanh, bên cạnh chiếc máy xúc có 01 gầu máy xúc nhãn hiệu DooSan W55, chiều dài 80cm, chiều rộng 35cm, khối lượng 89kg. Ngô Đức A điều khiển xe mô tô đến gần vị trí chiếc máy xúc, dùng tay lăn chiếc gầu máy xúc bằng kim loại lên khu vực xích máy xúc, ngang với yên xe, rồi đặt gầu máy xúc lên yên xe chở đến cửa hàng sắt vụn của chị Kim Thị Thu B1 được 750.000 đồng.
Ngày 05/6/2024 các bị hại đã có đơn trình báo gửi Công an xã G, Công an xã G đã triệu tập Ngô Đức A lên làm việc, tại đây Đức A đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản của mình. Toàn bộ số tiền bán tài sản trộm cắp, Ngô Đức A chi tiêu cá nhân hết 50.000 đồng. Số tiền còn lại 1.690.000 đồng Ngô Đức A đã giao nộp lại cho cơ quan điều tra.
Tại Kết luận định giá tài sản số 16/KL-HĐĐGTS ngày 07/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện B, kết luận: 01 gầu máy xúc DooSan W55, chiều dài 80cm, chiều rộng 35cm, trọng lượng 89kg, cũ đã qua sử dụng có giá trị 3.200.000 đồng; 01 ghế hàn bằng sắt, trọng lượng 35kg, cũ đã qua sử dụng, có giá trị 262.500 đồng; 04 cánh cửa sắt được sơn tĩnh điện, tổng trọng lượng 104kg, cũ đã qua sử dụng, có giá trị tại 4.680.000 đồng. Tổng cộng 8.142.500 đồng (Tám triệu một trăm bốn mươi hai nghìn năm trăm đồng)
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Cáo trạng số 33/CT-VKSBT ngày 30/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai truy tố bị cáo Ngô Đức A về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Ngô Đức A phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điểm h, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Ngô Đức A từ 09 tháng đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Đề nghị xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Ngô Đức A nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện B, tỉnh Lào Cai; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Ngày 03 và ngày 04/6/2024, bị cáo Ngô Đức A đã 2 lần thực hiện hành vi trộm cắp gồm 01 ghế hàn bằng sắt; 04 cánh cửa sắt được sơn tĩnh điện 01 gầu máy xúc DooSan W55 có tổng giá trị là 8.142.500 đồng (Tám triệu một trăm bốn mươi hai nghìn năm trăm đồng). Như vậy đã có đủ căn cứ kết luận hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
[3] Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thấy rằng: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác là hành vi vi phạm pháp luật nhưng bị cáo thiếu ý thức chấp hành pháp luật, cố ý thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an trên địa bàn huyện B.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo hai lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản mỗi lần trộm cắp có trị giá trên hai triệu đồng vì vậy bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng phạm tội hai lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo sau khi phạm tội đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình; Phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn; Các bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; Bị cáo có ông nội là liệt sỹ Ngô Văn K1 được tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng 3 đây là tình những tiết giảm nhẹ quy định tại điểm h, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự mà bị cáo được hưởng khoan hồng của pháp luật.
[5] Về quyết định hình phạt: Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, sau khi phạm tội đã ăn năn hối cải, tài sản đã được thu hổi trả lại cho các bị hại, vợ bị cáo mới sinh con, bị cáo là lao động chính trong gia đình, không gây khó khăn cho cơ quan tiến hành tố tụng khi điều tra, xét xử vụ án; bị cáo có nơi cư trú rõ ràng để cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giám sát, giáo dục. Xét thấy không cần phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù, bị cáo cũng có khả năng tự cải tạo và việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, đồng thời thể hiện được sự nhân đạo, khoan hồng của pháp luật, việc cho bị cáo hưởng án treo, giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách là phù hợp.
[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản. Vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra và tại đơn đề nghị xét xử vắng mặt, những người bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã nhận lại được tài sản nên không có yêu cầu, đề nghị gì về trách nhiệm dân sự, nên Hội đồng xét xử không xem xét
[8] Về vật chứng: Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda wave alpha, số khung 121XDY019040, số máy HC12B5019059; 01 biển số 24T-015.44; 01 chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 050157, biển số đăng ký 24T-015.44 mang tên Phạm Văn T2 là phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước; Đối với 01 kìm cộng lực 24 inch bằng kim loại, chiều dài 600mm, phần tay cầm được ốp nhựa màu đen, phần kìm được sơn màu xanh, nhiều vị trí đã bị rỉ sét là công cụ phạm tội không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu huỷ
[9] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điểm h, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 65 của Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Ngô Đức A phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Phạt bị cáo Ngô Đức A 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND xã T, thành phố L, tỉnh Lào Cai nơi bị cáo cứ trú theo dõi, giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội buộc bị cáo Ngô Đức A phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú, làm việc thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Hậu quả của việc vi phạm nghĩa vụ trong thời gian thử thách của án treo: “Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”.
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda wave alpha màu xám đen bạc, số khung 121XDY019040, số máy HC12B5019059; 01 biển số 24T-015.44; 01 chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 050157, biển số đăng ký 24T-015.44 mang tên Phạm Văn T2
Tịch thu tiêu huỷ: 01 kìm cộng lực 24 inch bằng kim loại, chiều dài 600mm, phần tay cầm được ốp nhựa màu đen, phần kìm được sơn màu xanh, nhiều vị trí đã bị rỉ sét
(Vật chứng thể hiện tại Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 31/7/2024)
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Vũ Thị Mai Phương |
Bản án số 39/2024/HS-ST ngày 12/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO THẮNG, TỈNH LÀO CAI về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 39/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO THẮNG, TỈNH LÀO CAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: NGÔ ĐỨC A BỊ XX
