Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂY SƠN

TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 39/2024/HS-ST

Ngày: 04 – 9 – 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY SƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Minh Trí
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Văn Trị.
  • Bà Nguyễn Thị Tuyết Dung.
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hưởng là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Ông Trần Bình Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 9 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 31/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 83/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Trần Trọng N, sinh ngày 23 tháng 10 năm 2002 tại huyện T, tỉnh Bình Định; nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Vinh N1, sinh năm 1972 và bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1975; vợ, con: chưa; tiền án, tiền sự: không; Bị cáo có nhân thân tốt. Bị cáo bị Cơ quan CSĐT Công an huyện T bắt tạm giam từ ngày 23/01/2024 đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
  2. Châu Văn T, sinh ngày 20 tháng 01 năm 1996 tại huyện T, tỉnh Bình Định; nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Châu Quang T1, sinh năm 1959 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1962; vợ, con: chưa; tiền án, tiền sự: không; Bị cáo có nhân thân tốt. Bị cáo bị Cơ quan CSĐT Công an huyện T bắt tạm giam từ ngày 23/01/2024 đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
  3. Võ Ngọc H1, sinh ngày 29 tháng 12 năm 2002 tại huyện T, tỉnh Bình Định; nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Ngọc H2, sinh năm 1974 và bà Lê Thị L, sinh năm 1976; vợ, con: chưa; tiền án, tiền sự: không; Bị cáo có nhân thân tốt. Bị cáo bị Cơ quan CSĐT Công an huyện T bắt tạm giam từ ngày 02/02/2024 đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Nguyễn Trọng T2, sinh năm 1998 (có mặt);
  2. Bà Nguyễn Thị Y, sinh năm 1981 (có mặt);
    Đồng trú tại: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Bình Định.
  3. Ông Võ Ngọc H2, sinh năm 1974 (có mặt);
    Trú tại: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Bình Định.
  4. Bà Châu Thị Mỹ D, sinh năm 1984 (có mặt);
    Trú tại: Thôn T, xã V, huyện V, tỉnh Bình Định.

- Người làm chứng:

  • Bà Dương Thị H3, sinh năm 1979 (vắng mặt);
    Trú tại: Khu V, phường Q, thành phố Q, tỉnh Bình Định.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ ngày 22/01/2024, Trần Trọng N, sinh năm 2002, ở T, T, T, Bình Định nhắn tin, gọi điện thoại rủ Châu Văn T, sinh năm 1996 và Võ Ngọc H1, sinh năm 2002, cùng ở T, T, T đến Cầu S ở khu vực có tục danh Hầm Than thuộc T, T, T để sử dụng ma túy, nhưng T ngủ không trả lời, còn H1 không đồng ý do đang mệt và do không có tiền.

Đến khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày, sau khi ngủ dậy, do muốn sử dụng ma túy nên H1 nhắn tin cho N hỏi N có đang sử dụng ma túy không để H1 đến sử dụng, N nói đang ở nhà do không gọi được cho T. H1 hỏi N tiền đâu để sử dụng ma tuý thì N nói để N lo. Khoảng 14 giờ cùng ngày, T nhắn tin lại cho N, N nói T đến nhà N lấy tiền đi mua ma túy về cùng nhau sử dụng. T đồng ý và đến nhà N, N đưa cho T 500.000 đồng để đi mua ma túy. T liên hệ với một người phụ nữ (không xác định được nhân thân, lai lịch) hỏi mua 500.000 đồng ma túy, người phụ nữ đồng ý và hẹn giao ma túy ở Ngã 3 cầu A thuộc T, T, T. Trong thời gian T đi mua ma túy, H1 chở N đến Cầu S ngồi chờ T. T đến Ngã 3 cầu A đứng chờ thì có một

người phụ nữ đến giao bán cho T 01 gói ma túy với giá 500.000 đồng rồi điều khiển xe đến Cầu S gặp N và H1. T đưa gói ma tuý cho H1 xem rồi H1 đưa gói ma túy cho N. T lấy từ cốp xe các dụng cụ sử dụng ma túy gồm: 01 nắp nhựa màu xanh có gắn sẵn 01 ống hút nhựa màu vàng và 01 nỏ thủy tinh và 01 dao lam đặt trên nền Cầu S. N lấy dao lam cắt gói ma túy đổ vào lòng bàn tay rồi đổ ma túy vào nỏ thủy tinh rồi lấy 01 chai nhựa chứa nước có sẵn tại Cầu S lắp ráp với nắp nhựa có gắn ống hút và nỏ thủy tinh tạo thành bộ dụng cụ sử dụng ma túy hoàn chỉnh. N đưa bộ dụng cụ sử dụng ma túy cho T cầm, H1 dùng bật lửa có tiêm mồi lửa hơ đốt nấu ma túy, thấy H1 nấu ma túy chưa tan hết nên T tiếp tục nấu ma túy. Khoảng 05 phút sau thì nấu ma túy xong, T, H1 và N bắt đầu sử dụng ma tuý, cụ thể: T tự hơ đốt sử dụng 02 hơi ma túy, T hơ đốt cho N và H1 mỗi người sử dụng 02 hơi ma túy; H1 tự hơ đốt sử dụng 01 hơi ma túy, H1 hơ đốt cho N và T sử dụng mỗi người 01 hơi ma túy.

Trong lúc cả nhóm đang sử dụng ma túy thì Nguyễn Trọng T2, sinh năm 1998, ở T, T, T nhắn tin rủ N góp tiền mua ma túy sử dụng, nhưng N nói với T2 để tối, đồng thời N rủ T2 đến Cầu S sử dụng ma túy cùng N, T và H1, T2 đồng ý. Khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, T2 đến Cầu S sử dụng ma túy cùng với T, N và H1, cụ thể: T hơ đốt cho T2 sử dụng 02 hơi ma túy, T tự hơ đốt sử dụng 01 hơi ma túy, T hơ đốt cho N và H1 sử dụng mỗi người 01 hơi ma túy.

Đến khoảng 15 giờ 45 phút cùng ngày, lực lượng Công an đến kiểm tra, phát hiện hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của các đối tượng trên. Tại hiện trường phát hiện, thu giữ: 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy có gắn 01 (một) nỏ thuỷ tinh bên trong có chứa tinh thể ma túy; 01 (một) gói nhựa dạng hình chữ nhật, hở 01 cạnh, bên trong có chứa tinh thể ma túy và một số đồ vật có liên quan.

Kết quả xét nghiệm mẫu nước tiểu xác định các đối tượng T, N, H1 và T2 đều dương tính với chất ma túy loại Methamphetamine.

Ngày 24/01/2024, Phòng K - Công an tỉnh B có Kết luận giám định số: 63/KL-KTHS kết luận: Chất rắn màu trắng (dạng tinh thể) bám dính bên trong 01 (một) ống thủy tinh dạng cong dài 6,8cm, một đầu phễu tròn đường kính 1,7cm gửi giám định là ma tuý loại: Methamphetamine, lượng mẫu chất bám dính ít không đủ để xác định khối lượng. Chất rắn màu trắng (dạng tinh thể) bám dính bên trong 01 (một) gói nhựa trong suốt kích thước (1,8x0,5)cm, bị cắt một đầu gửi giám định là ma túy loại: Methamphetamine, lượng mẫu chất bám dính ít không đủ để xác định khối lượng.

Tang vật vụ án, Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã thu giữ gồm:

  • - 01 (một) ống thủy tinh dạng cong dài 6,8cm, một đầu phễu tròn đường kính 1,7cm;
  • - 01 (một) gói nhựa trong suốt, hình chữ nhật, bị cắt 01 đầu, kích thước

(1,8x0,5)cm;

  • - 01 (một) chai nhựa cao 16cm, có dán nhãn POCARI SWEAT, bên trong có 01 ống hút nhựa màu xanh, đường kính đáy 6cm; nắp nhựa màu xanh có đường kính 3,2cm, trên nắp có đục 02 lỗ tròn, trong đó 01 lỗ có gắn ống hút nhựa màu vàng dài 19,8cm;
  • - 01 (một) bật lửa có nhãn hiệu HOA VIỆT, cao 7,8cm;
  • - 01 (một) bật lửa nhãn hiệu HOA VIỆT, cao 7,8cm, không có nắp bảo vệ;
  • - 01 (một) lưỡi dao lam hiệu BIC, kích thước (4,2x2,2)cm.

Những đồ vật trên các đối tượng sử dụng để phục vụ cho việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.

  • - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu tím, số IMEI1: 358457888427689; số IMEI2: 358457884344557, có gắn 01 thẻ sim in dãy số 8984048000070635371 (không kiểm tra chất lượng bên trong). Điện thoại trên thuộc sở hữu của bị cáo Trần Trọng N, ngày 22/01/2024 bị cáo N đã sử dụng điện thoại trên để liên lạc trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội.
  • - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, vỏ màu đen, màn hình bị nứt, số IMEI 1: 358244105374815, số IMEI 2: 358245105374812 (không kiểm tra chất lượng bên trong). Điện thoại trên thuộc sở hữu của bị cáo Châu Văn T, ngày 22/01/2024 bị cáo T đã sử dụng điện thoại trên để liên lạc trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội.
  • - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu xanh, số IMEI1: 356717113388515, số IMEI2: 356717113243496 (không kiểm tra chất lượng bên trong). Điện thoại trên thuộc sở hữu của bị cáo Võ Ngọc H1, ngày 22/01/2024 bị cáo H1 sử dụng điện thoại trên để liên lạc trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội.
  • - 01 (một) xe mô tô biển số 77N1-084.91, nhãn hiệu Yamaha, số loại Exciter, màu xanh đen, số khung: RLCUG1010KY159993, số máy: G3D4E926928 (không kiểm tra chất lượng bên trong). Ngày 20/5/2024, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức giao trả lại xe mô tô trên cho chủ sở hữu hợp pháp là bà Châu Thị Mỹ D.
  • - 01 (một) xe mô tô biển số 77L1-124.50, nhãn hiệu Honda, số loại Air Blade, số khung: RLHJF2708BY224321, số máy: JF27E1004136 (không kiểm tra chất lượng bên trong), Ngày 20/5/2024, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức giao trả lại xe mô tô trên cho chủ sở hữu hợp pháp là ông Võ Ngọc H2.
  • - 01 (một) xe mô tô biển số 77H1-153.38, nhãn hiệu Honda, số loại Future, màu đỏ, số khung: RLHJC5337DY023748, số máy: JC53E1023822 (không kiểm

tra chất lượng bên trong), đứng trên chủ sở hữu của bà Nguyễn Thị Y, sinh năm 1981, ở T, T, T, Bình Định (mẹ ruột của Nguyễn Trọng T2). Ngày 20/5/2024, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu bằng hình thức giao trả lại xe mô tô trên cho chủ sở hữu hợp pháp là bà Nguyễn Thị Y.

Tại Bản cáo trạng số 32/CT – VKSTS ngày 13/6/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định đã truy tố các bị cáo Trần Trọng N, Châu Văn T và Võ Ngọc H1 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà: Các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội nêu trên.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định đề nghị: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo Trần Trọng N, Châu Văn T và Võ Ngọc H1 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”

* Về hình phạt: Đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Trọng Nhân T3 8 năm đến 8 năm 6 tháng tù.
  • - Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Châu Văn T từ 7 năm 6 tháng đến 8 năm tù.
  • - Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Võ Ngọc H1 từ 7 năm đến 7 năm 6 tháng tù.

* Về xử lý vật chứng:

Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu huỷ:

  • - 01 (một) bì thư dán kín niêm phong có 03 dấu tròn “Phòng kĩ thuật hình sự - Công an tỉnh B” trên bì thư có ghi chữ và số:
    • + CÔNG AN TỈNH BÌNH ĐỊNH
    • + Số: 63/KL-KTHS
    • + Hoàn lại đối tượng giám định: Vỏ, bao bì đựng mẫu vật và 01 (một) ống thuỷ tinh dạng cong dài 6,8cm, một đầu phễu tròn đường kính 1,7cm còn lại sau giám định.
    • + Kính gửi: CQCSĐT – C3.
    • + Có 03 chữ ký của Lê Tuấn T4, Trần Tấn C1, Nguyễn Thành T5.
  • (Tại thời điểm giao, nhận bì thư còn nguyên vẹn, không kiểm tra bên trong).
  • - 01 (một) chai nhựa cao 16cm, có dán nhãn POCARI SWEAT, bên trong có 01 ống hút nhựa màu xanh, đường kính đáy 6cm; nắp nhựa màu xanh có đường kính 3,2cm, trên nắp có đục 02 lỗ tròn, trong đó 01 lỗ có gắn ống hút nhựa màu vàng dài 19,8cm;
  • - 01 (một) bật lửa có nhãn hiệu HOA VIỆT, cao 7,8cm;
  • - 01 (một) bật lửa nhãn hiệu HOA VIỆT, cao 7,8cm, không có nắp bảo vệ;
  • - 01 (một) lưỡi dao lam hiệu BIC, kích thước (4,2x2,2)cm.

Tịch thu sung công quỹ Nhà nước:

  • - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu tím, số IMEI1: 358457888427689; số IMEI2: 358457884344557, có gắn 01 thẻ sim in dãy số 8984048000070635371 (không kiểm tra chất lượng bên trong).
  • - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, vỏ màu đen, màn hình bị nứt, số IMEI 1: 358244105374815, số IMEI 2: 358245105374812 (không kiểm tra chất lượng bên trong).
  • - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu xanh, số IMEI1: 356717113388515, số IMEI2: 356717113243496 (không kiểm tra chất lượng bên trong).

(Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 03/7/2024 giữa Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tây Sơn và Công an huyện T).

Về án phí hình sự sơ thẩm:

Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo không có ý kiến tranh luận về quan điểm luận tội cũng như đề nghị giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa.

Lời nói sau cùng của các bị cáo: Đây là bài học cho các bị cáo, các bị cáo hứa không vi phạm nữa, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh và Điều luật áp dụng:

Lời khai nhận tội của các bị cáo Trần Trọng N, Châu Văn T và Võ Ngọc H1 tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định: Trần Trọng N, Châu Văn T và Võ Ngọc H1 là các đối tượng thường sử dụng ma túy. Trưa ngày 22/01/2024, N, nhắn tin, gọi điện thoại rủ T và H1 đến Cầu S ở khu vực có tục danh Hầm Than thuộc T, T, T để sử dụng ma túy. Khoảng 14 giờ cùng ngày, T điều khiển xe mô tô đến nhà N, N đưa cho T 500.000 đồng để đi mua ma túy. T điều khiển xe đến khu vực ngả ba Cầu A thuộc T - T - T gặp một người phụ nữ (không rõ họ tên, địa chỉ) mua 500.000 đồng mà túy rồi quay về C2 sắt gặp N và H1 để cùng nhau sử dụng ma túy. T lấy trong cốp xe mô tô các dụng cụ sử dụng ma túy rồi cả ba cùng nhau hơ đốt ma túy để cùng sử dụng. Khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, Nguyễn Trọng T2 đến C2 sắt sử dụng ma túy cùng với T, N và H1, đến khoảng 15 giờ 45 phút cùng ngày, thì bị lực lượng Công an đến kiểm tra, phát hiện.

Kết luận giám định số 63/KL-KTHS ngày 24/01/2024, Phòng K - Công an tỉnh B xác định: Chất rắn màu trắng (dạng tinh thể) bám dính bên trong 01 (một) ống thủy tinh dạng cong dài 6,8cm, một đầu phễu tròn đường kính 1,7cm gửi giám định là ma tuý loại: Methamphetamine, lượng mẫu chất bám dính ít không đủ để xác định khối lượng. Chất rắn màu trắng (dạng tinh thể) bám dính bên trong 01 (một) gói nhựa trong suốt kích thước (1,8x0,5)cm, bị cắt một đầu gửi giám định là ma túy loại: Methamphetamine, lượng mẫu chất bám dính ít không đủ để xác định khối lượng. Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định truy tố các bị cáo bị cáo Trần Trọng N, Châu Văn T và Võ Ngọc H1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ.

[3] Xét tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của các bị cáo: Các bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý của Nhà nước về sử dụng chất ma túy, làm suy giảm sức khỏe con người và gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Các bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp, nên cần thiết phải xử lý các bị cáo bằng pháp luật hình sự, nhằm để răn đe, cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội.

Xét vai trò của từng bị cáo trong vụ án: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, trong đó:

  • - Bị cáo Trần Trọng N là người khởi xướng, rủ rê và đưa tiền cho bị cáo T đi mua ma tuý để cùng nhau sử dụng nên hình phạt phải cao hơn các bị cáo còn lại.
  • - Bị cáo Châu Văn T là người thực hiện, nhận tiền từ bị cáo N trực tiếp đi mua ma tuý và chuẩn bị công cụ, phương tiện để sử dụng ma tuý cùng nhau nên hình phạt của bị cáo T thấp hơn bị cáo N.
  • - Bị cáo Võ Ngọc H1 người rủ rê bị cáo N và tự hơ đốt sử dụng 01 hơi ma túy, hơ đốt cho N và T sử dụng mỗi người 01 hơi ma túy. Nên hình phạt của bị cáo H1 thấp hơn bị cáo N nhưng ngang với bị cáo T.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân:

[4.1] Về nhân thân: Các bị cáo Trần Trọng N, Châu Văn T, Võ Ngọc H1 có nhân thân tốt.

[4.2] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Trần Trọng N, Châu Văn T, Võ Ngọc H1 không có.

[4.3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, tại phiên tòa các bị cáo Trần Trọng N, Châu Văn T, Võ Ngọc H1 khai báo thành khẩn, thể hiện ăn năn hối cải về hành vi của mình. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 và là căn cứ khi Hội đồng xét xử lượng hình đối với các bị cáo.

Riêng bị cáo Châu Văn T thì gia đình bị cáo có công với cách mạng, cha bị cáo (ông Châu Quang T1) là con liệt sĩ, bà nội bị cáo là Mẹ Việt Nam anh hùng có xác nhận của UBND xã T nên bị cáo Châu Văn T được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Vì vậy cần xem xét giảm nhẹ phần nào về hình phạt đối với bị cáo T cho bị cáo được hưởng mức án khởi điểm khung hình phạt, tạo điều kiện để các bị cáo an tâm cải tạo tốt như mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn cũng đủ tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[5] Đối với Nguyễn Trọng T2 chỉ tham gia sử dụng trái phép chất ma tuý, không thực hiện vai trò gì khác, mặc dù T2 có nhắn tin rủ N góp tiền mua ma túy để sử dụng nhưng N đã hẹn đến tối, do đó không có căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi này.

[6] Đối với người phụ nữ (không rõ họ tên, địa chỉ) bán ma túy cho T, Cơ quan CSĐT tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý theo quy định của pháp luật.

[7] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu huỷ vật chứng gồm:

  • - 01 (một) bì thư dán kín niêm phong có 03 dấu tròn “Phòng kĩ thuật hình sự - Công an tỉnh B” trên bì thư có ghi chữ và số:
    • + CÔNG AN TỈNH BÌNH ĐỊNH
    • + Số: 63/KL-KTHS
    • + Hoàn lại đối tượng giám định: Vỏ, bao bì đựng mẫu vật và 01 (một) ống thuỷ tinh dạng cong dài 6,8cm, một đầu phễu tròn đường kính 1,7cm còn lại sau giám định.
    • + Kính gửi: CQCSĐT – C3.
    • + Có 03 chữ ký của Lê Tuấn T4, Trần Tấn C1, Nguyễn Thành T5.
  • (Tại thời điểm giao, nhận bì thư còn nguyên vẹn, không kiểm tra bên trong).
  • - 01 (một) chai nhựa cao 16cm, có dán nhãn POCARI SWEAT, bên trong có 01 ống hút nhựa màu xanh, đường kính đáy 6cm; nắp nhựa màu xanh có đường kính 3,2cm, trên nắp có đục 02 lỗ tròn, trong đó 01 lỗ có gắn ống hút nhựa màu vàng dài 19,8cm.
  • - 01 (một) bật lửa có nhãn hiệu HOA VIỆT, cao 7,8cm.
  • - 01 (một) bật lửa nhãn hiệu HOA VIỆT, cao 7,8cm, không có nắp bảo vệ.
  • - 01 (một) lưỡi dao lam hiệu BIC, kích thước (4,2x2,2)cm.

Tịch thu sung công quỹ Nhà nước:

  • - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu tím, số IMEI1: 358457888427689; số IMEI2: 358457884344557, có gắn 01 thẻ sim in dãy số 8984048000070635371 (không kiểm tra chất lượng bên trong).
  • - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, vỏ màu đen, màn hình bị nứt, số IMEI 1: 358244105374815, số IMEI 2: 358245105374812 (không kiểm tra chất lượng bên trong).
  • - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu xanh, số IMEI1: 356717113388515, số IMEI2: 356717113243496 (không kiểm tra chất lượng bên trong).

(Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 03/7/2024 giữa Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tây Sơn và Công an huyện T).

[8] Về án phí: Theo quy định tại các Điều 135, 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn,

nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Các bị cáo Trần Trọng N, Châu Văn T, Võ Ngọc H1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[9] Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định đề nghị quan điểm giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về tội danh:
  2. Tuyên bố các bị cáo Trần Trọng N, Châu Văn T, Võ Ngọc H1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

  3. Về hình phạt:
    • - Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
    • Xử phạt: Bị cáo Trần Trọng N 08 (tám) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 23/01/2024.

    • - Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
    • Xử phạt bị cáo Châu Văn T 07 (bảy) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 23/01/2024.

    • - Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
    • Xử phạt bị cáo Võ Ngọc H1 07 (bảy) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 02/02/2024.

  4. Về xử lý vật chứng:
  5. Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

* Tịch thu tiêu huỷ:

  • - 01 (một) bì thư dán kín niêm phong có 03 dấu tròn “Phòng kĩ thuật hình sự - Công an tỉnh B” trên bì thư có ghi chữ và số:
    • + CÔNG AN TỈNH BÌNH ĐỊNH
    • + Số: 63/KL-KTHS
    • + Hoàn lại đối tượng giám định: Vỏ, bao bì đựng mẫu vật và 01 (một) ống thuỷ tinh dạng cong dài 6,8cm, một đầu phễu tròn đường kính 1,7cm còn lại sau giám định.
    • + Kính gửi: CQCSĐT – C3.
    • + Có 03 chữ ký của Lê Tuấn T4, Trần Tấn C1, Nguyễn Thành T5.
  • (Tại thời điểm giao, nhận bì thư còn nguyên vẹn, không kiểm tra bên trong).
  • - 01 (một) chai nhựa cao 16cm, có dán nhãn POCARI SWEAT, bên trong có 01 ống hút nhựa màu xanh, đường kính đáy 6cm; nắp nhựa màu xanh có đường kính 3,2cm, trên nắp có đục 02 lỗ tròn, trong đó 01 lỗ có gắn ống hút nhựa màu vàng dài 19,8cm;
  • - 01 (một) bật lửa có nhãn hiệu HOA VIỆT, cao 7,8cm;
  • - 01 (một) bật lửa nhãn hiệu HOA VIỆT, cao 7,8cm, không có nắp bảo vệ;
  • - 01 (một) lưỡi dao lam hiệu BIC, kích thước (4,2x2,2)cm.

* Tịch thu sung công quỹ Nhà nước:

  • - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu tím, số IMEI1: 358457888427689; số IMEI2: 358457884344557, có gắn 01 thẻ sim in dãy số 8984048000070635371 (không kiểm tra chất lượng bên trong).
  • - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, vỏ màu đen, màn hình bị nứt, số IMEI 1: 358244105374815, số IMEI 2: 358245105374812 (không kiểm tra chất lượng bên trong).
  • - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu xanh, số IMEI1: 356717113388515, số IMEI2: 356717113243496 (không kiểm tra chất lượng bên trong).

(Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 03/7/2024 giữa Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tây Sơn và Công an huyện T).

  1. Về án phí:
  2. Các bị cáo Trần Trọng N, Châu Văn T, Võ Ngọc H1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  3. Về quyền kháng cáo:
  4. Các bị cáo và những người tham gia tố tụng có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Định;
  • - VKSND tỉnh Bình Định;
  • - VKSND huyện Tây Sơn;
  • - Cơ quan CSĐT Công an huyện Tây Sơn;
  • - Cơ quan THAHS Công an huyện Tây Sơn;
  • - Chi cục THADS huyện Tây Sơn;
  • - Bị cáo; bị hại;
  • - Đương sự vụ án;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Minh Trí

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 39/2024/HS-ST ngày 04/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY SƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 39/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY SƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nhân phạm tội ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger