Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PH

TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 39/2024/DS-ST

Ngày: 04/9/2024

V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P - TỈNH PHÚ YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Thu Hiền;

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phan Thị Thúy Hằng;

Ông Đoàn Minh Trung.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Phú Yên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P, tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Ông Phan Công Đồ - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện P mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 46/2024/TLST-DS ngày 15 tháng 4 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2024/QĐXXST-DS ngày 29 tháng 6 năm 2024; quyết định hoãn phiên tòa số 23/2024/QĐST-DS ngày 16/7/2024; thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa ngày 19/7/2024; quyết định hoãn phiên tòa số 31/2024/QĐST-DS ngày 15/8/2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng N1 (viết tắt là Ngân hàng A).

Địa chỉ: Số B đường L, phường T, quận B, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Toàn V – chức vụ: Tổng giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Huỳnh Hoàng V1 – chức vụ: Trưởng phòng khách hàng – chi nhánh Agribank huyện P, tỉnh Phú Yên (theo giấy ủy quyền số 26 ngày 23/02/2024; quyết định ủy quyền số 2665/QĐ-NHNo-PC ngày 01/12/2022);

Địa chỉ: Khu phố Đ, thị trấn P, huyện P, tỉnh Phú Yên. Có mặt tại phiên tòa.

Bị đơn: Ông Trần Văn L, sinh năm: 1968; Bà Nguyễn Thị Ngọc L1, sinh năm 1972; Vắng mặt tại phiên tòa.

Địa chỉ: Thôn P, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên; Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình tham gia tố tụng nguyên đơn Ngân hàng N1 chi nhánh huyện P trình bày:

Bị đơn Trần Văn L có vay tín dụng của ngân hàng A chi nhánh huyện P, tỉnh Phú Yên với số tiền 70.000.000 đồng, theo hợp đồng vay số 4608LAV20202102014 ngày 22/6/2021, áp dụng lãi suất 11%/năm, lãi suất quá hạn 150%/năm, thời hạn vay 24 tháng (từ ngày 22/6/2021 đến ngày 22/6/2023), mục đích vay chăn nuôi bò, vay không có tài sản bảo đảm.

Tại phụ lục hợp đồng nhận tiền vay và định kỳ hạn trả nợ ngày 22/6/2021 ông Trần Văn L đã nhận số tiền 70.000.000 đồng và kỳ hạn trả lãi là 03 tháng.

Để thực hiện hợp đồng tín dụng tại ngân hàng, bà Nguyễn Thị Ngọc L1 có giấy ủy quyền ngày 21/6/2021, ủy quyền cho chồng là ông Trần Văn L vay vốn tại ngân hàng A chi nhánh huyện P, giấy ủy quyền được chứng thực tại Ủy ban nhân dân (viết tắt là UBND) xã H, huyện P vào ngày 21/6/2021.

Quá trình sử dụng vốn vay, bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả nợ, tính đến ngày 22/6/2023 đến kỳ hạn trả nợ nhưng bị đơn không thực hiện nghĩa vụ nên ngân hàng bên nguyên đơn đã chuyển toàn bộ nợ gốc sang nợ quá hạn kể từ ngày tiếp theo. Tính đến ngày 23/02/2024 nguyên đơn khởi kiện, bị đơn còn nợ của ngân hàng A số tiền là 90.678.382 đồng (trong đó nợ gốc 70.000.000 đồng, lãi trong hạn 18.131.533 đồng, lãi quá hạn 2.56.849 đồng). Nguyên đơn yêu cầu khởi kiện buộc vợ chồng bị đơn phải trả toàn bộ nợ gốc và lãi phát sinh từ hợp đồng tín dụng.

Bị đơn Trần Văn L, Nguyễn Thị Ngọc L1 được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần, nhưng đều vắng mặt không đến Tòa để tham gia tố tụng. Tại biên bản xác minh ngày 05/6/2024 Công an xã H cung cấp ông Trần Văn L, bà Nguyễn Thị Ngọc L1 có đăng ký thường trú tại thôn P, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên.

Tòa án đã mở phiên họp kiểm tra việc công khai chứng cứ và hòa giải tại Tòa nhưng bị đơn, người liên quan vắng mặt nên không tiến hành hòa giải được.

Tại phiên tòa: Nguyên đơn trình bày vẫn giữ nguyên các yêu cầu khởi kiện, yêu cầu ông L, bà L1 trả số tiền nợ gốc và lãi tính đến ngày xét xử 04/9/2024 là 96.100.027 đồng (trong đó nợ gốc 70.000.000 đồng, lãi trong hạn 20.747.425 đồng, lãi quá hạn 5.352.602 đồng) và lãi phát sinh tiếp theo.

Bị đơn vắng mặt không trình bày ý kiến.

Viện kiểm sát nhân dân huyện P phát biểu quan điểm: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý đến khi xét xử, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử (HĐXX) đều tuân thủ đúng quy định pháp luật. Đương sự chấp hành đúng quy định pháp luật, riêng bị đơn chấp hành không đúng; Về đề xuất giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông L, bà L1 phải có nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng N2 số tiền là 96.100.027 đồng, tính đến ngày xét xử 04/9/2024 và lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng. Bị đơn phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định:

[2] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn Ngân hàng A khởi kiện hợp đồng tín dụng với bị đơn Trần Văn L, Nguyễn Thị Ngọc L1 có địa chỉ tại huyện P, tỉnh Phú Yên. Đây là quan hệ tranh chấp hợp đồng tín dụng, thuộc thẩm quyền giải quyết sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện P theo quy định tại Khoản 3 Điều 26, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS).

Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng bị đơn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Tòa án căn cứ theo Điều 227, 228 BLTTDS tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo thủ tục chung.

[3] Về thời hiệu khởi kiện: Bị đơn không thực hiện hợp đồng tín đụng đã giao kết là vi phạm nghĩa vụ thanh toán từ sau ngày 22/6/2023, ngân hàng có đơn khởi kiện vào ngày 05/3/2024 là còn trong thời hiệu khởi kiện theo quy định tại Điều 429 BLDS 2015.

[4] Về nội dung vụ án: Xét các yêu cầu khởi kiện trả nợ gốc và lãi theo hợp đồng tín dụng của nguyên đơn, HĐXX thấy rằng:

Giữa ngân hàng A và bị đơn ông Trần Văn L có tự nguyện giao kết với nhau bằng hợp đồng tín dụng số 4608-LAV-20202102014 vào ngày 22/6/2021, theo đó tại phụ lục hợp đồng ký ngày 22/6/2021 Ngân hàng A đã giải ngân cho ông Trần Văn L vay vốn trực tiếp với số tiền 70.000.000 đồng, mục đích chăn nuôi bò, lãi suất cho vay 11%/năm, lãi suất quá hạn 150%/năm.

Bà Nguyễn Thị Ngọc L1 mặc dù không trực tiếp ký hợp đồng tín dụng với Ngân hàng A. Tuy nhiên, Bà L1 có giấy ủy quyền ngày 21/6/2021 cho ông Trần Văn L (chồng) trực tiếp thực hiện các giao dịch liên quan đến việc vay vốn với ngân hàng, trong đó có việc ký kết hợp đồng tín dụng, nhận tiền vay. Giấy ủy quyền có chứng thực của địa phương đúng quy định nên có hiệu lực. Do vậy, bà L1 có nghĩa vụ đồng trả nợ như ông L.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông L, bà L1 chỉ trả được 01 đợt lãi vào ngày 07/10/2021 với số tiền 1.966.136 đồng). Sau đó, ngân hàng N2 đã nhiều lần làm việc với bị đơn thông qua địa phương nhưng chỉ hứa hẹn đi làm ăn có tiền về trả nợ và đều vắng mặt.

Đến ngày 22/6/2023 đến hạn trả nợ gốc và lãi 01 lần theo hợp đồng tín dụng. Nhưng ông L, bà L1 không thực hiện các nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi theo như hợp đồng tín dụng đã giao kết là vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Do đó, từ ngày 23/6/2023 ngân hàng đã chuyển toàn bộ nợ gốc sang nợ quá hạn theo như khoản 5 Điều 5 Hợp đồng tín dụng có nội dung thỏa thuận “Đến hạn trả nợ, khách hàng không trả đúng hạn và không được ngân hàng chấp thuận cho cơ cấu lại thời hạn trả nợ thì số nợ gốc, lãi đến hạn chưa trả được chuyển sang nợ quá hạn. Khách hàng phải chịu lãi suất quá hạn trên số nợ gốc quá hạn và lãi chậm trả trên số lãi quá hạn...”. Lãi suất quá hạn theo thỏa thuận từ hợp đồng tín dụng là 150%/năm.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đòi nợ gốc và lãi phát sinh từ hợp đồng tín dụng, trong đó việc tính lãi của nguyên đơn là phù hợp với các quy định của pháp luật tại các Điều 91, 95 Luật Các Tổ chức tín dụng năm 2010 và Điều 100, 102, 103 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2024 nên được chấp nhận.

Bị đơn mặc dù được Tòa án tống đạt văn bản tố tụng nhiều lần, nhưng vắng mặt tại phiên tòa là cố tình vắng mặt và từ bỏ quyền và nghĩa vụ tham gia tố tụng của mình.

[5] Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 của BLTTDS và Điều 26, 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội với số tiền 4.805.000 đồng.

[6] Đối với các đề xuất của Kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp với nhận định của HĐXX nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 3 Điều 26, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 157, Điều 227, 228, Điều 273 BLTTDS; Điều 26, 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Căn cứ vào các Điều 91, 95 Luật các Tổ chức tín dụng 2010.

Căn cứ vào các Điều 100, 103, 210 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2024.

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ngân hàng N1 về việc yêu cầu ông Trần Văn L và bà Nguyễn Thị Ngọc L1 phải thực hiện hợp đồng tín dụng.

Buộc ông Trần Văn L, bà Nguyễn Thị Ngọc L1 phải có nghĩa vụ trả toàn bộ một lần số tiền 96.100.027 đồng (trong đó nợ gốc 70.000.000 đồng, lãi trong hạn 20.747.425 đồng, lãi quá hạn 5.352.602 đồng) cho nguyên đơn là Ngân hàng N1, theo hợp đồng tín dụng mà các bên đã ký kết.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 04/9/2024) ông Trần Văn L, bà Nguyễn Thị Ngọc L1 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi, lãi suất quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng N1 với ông L cho đến khi thanh toán xong các khoản nợ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Về án phí: Ông Trần Văn L, bà Nguyễn Thị Ngọc L1 phải chịu 4.805.000 đồng (Bốn triệu tám trăm linh năm nghìn đồng chẵn) án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn lại cho nguyên đơn Ngân hàng Nông nghiệp và N1 số tiền 2.260.000 đồng (Hai triệu hai trăm sáu mươi nghìn đồng chẵn) đã nộp tạm ứng án phí tại biên lai thu tiền số 0010377 ngày 11/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Hòa, tỉnh Phú Yên.

Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND huyện P;
  • - Chi cục THADS huyện P;
  • - TAND tỉnh Phú Yên;
  • - VKSND tỉnh Phú Yên;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Trương Thị Thu Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 39/2024/DS-ST ngày 04/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P - TỈNH PHÚ YÊN về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 39/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P - TỈNH PHÚ YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn ngân hàng N khởi kiện hợp đồng tín dụng với bị đơn ông Trần Văn L, bà Nguyễn Thị Ngọc L1, bị đơn vắng mặt, tài sản không có thế chấp.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger