Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI

TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 39/2024/DS–ST.

Ngày: 30/8/2024.

V/v “Tranh chấp Hợp đồng vay tài

sản và Hợp đồng thế chấp tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Ông Cao Đình Thành.
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông La Văn Hợp, ông Nguyễn Văn Được.
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Bích Thùy – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Hường – Kiểm sát viên.

Trong ngày 30 tháng 8 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước, Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 22/2024/TLST-DS ngày 16 tháng 01 năm 2024 về việc “Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản và Hợp đồng thế chấp tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42/2024/QĐXXST-DS ngày 24 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 28/2024/QĐ-HPT ngày 12 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

  • * Nguyên đơn:
  • Ngân hàng N1.
  • Địa chỉ: Số B đường L, phường T, quận B, thành phố Hà Nội.
  • Người đại diện theo ủy quyền Ngân hàng N1: Bà Bùi Thị Gia N - Sinh năm: 1995 (Vắng mặt – Có đơn xin xét xử vắng mặt).
  • Trú tại: ấp D, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Phước.
  • * Bị đơn:
  • Bà Vũ Thị H – Sinh năm: 1985 (Vắng mặt).
  • Trú tại: Khu phố 5, phường Long Phước, thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước.
  • Nơi ở: Khu phố 3, phường Tân Đồng, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước.

NHẬN THẤY

* Theo đơn khởi kiện của Ngân hàng N1 và đơn xin xét xử vắng mặt, bà Bùi Thị Gia N là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ngày 14/3/2022, bà Vũ Thị H và Ngân hàng N1 - Chi nhánh tỉnh B (viết tắt là A Chi nhánh tỉnh B) sau quá trình thỏa thuận đã đồng ý ký kết Hợp đồng tín dụng số: 5600LAV202200658, theo đó A Chi nhánh tỉnh B cấp cho bà Vũ Thị H một khoản cấp tín dụng sử dụng với nội dung như sau:

  • Mục đích vay: Bù đắp tài chính mua đất.
  • Số tiền vay: 5.000.000.000 đồng (Năm tỷ đồng).
  • Thời hạn vay: 36 tháng, kể từ ngày ký Hợp đồng tín dụng đến hết ngày 14/03/2025.
  • Lãi suất tại thời điểm ký Hợp đồng tín dụng: 10,5%/năm.
  • Phương thức áp dụng lãi suất: Lãi suất điều chỉnh. Lãi suất cho vay được điều chỉnh định kỳ 3 tháng/lần kể từ ngày giải ngân, được tính bằng lãi suất huy động tiết kiệm dân cư VNĐ kỳ hạn 12 tháng trả lãi sau hiện hành của A chi nhánh tỉnh B + (cộng) 5,5%/năm.
  • Hạn trả nợ gốc chia 03 kỳ:
    • Kỳ 01: Ngày 14/3/2023 số tiền: 300.000.000 đồng.
    • Kỳ 02: Ngày 14/3/2024 số tiền: 300.000.000 đồng.
    • Kỳ 03: Ngày 14/3/2025 số tiền: 4.400.000.000 đồng.
  • Định kỳ trả lãi: Theo quý (03 tháng/lần).

Để đảm bảo nợ vay, ngày 11/3/2022 A Chi nhánh tỉnh B đã ký kết với bà Vũ Thị H Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 2022-091185006897/HĐTC để thế chấp tài sản sau: Quyền sử dụng đất có diện tích 8.097,1 m², tọa lạc tại thôn B, xã P, huyện P, tỉnh Bình Phước, thuộc thửa đất số 88, tờ bản đồ số 98, đất có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số có số sổ CV875419, số vào sổ cấp GCN: CS 04059/CDOI do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp cho bà Mai Thị B ngày 14/9/2020, được chỉnh lý trang 4 sang tên bà Vũ Thị H ngày 08/3/2022.

Bà Vũ Thị H đã cam kết nếu không thực hiện đúng những điều khoản đã nêu trong hợp đồng tín dụng thì sẽ bị xử lý theo pháp luật quy định. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, A Chi nhánh tỉnh B đã giải ngân số tiền 5.000.000.000 đồng (Năm tỷ đồng) theo đúng quy định. Tuy nhiên bà Vũ Thị H không thực hiện nghĩa vụ trả đầy đủ nợ lãi cho A, vi phạm hợp đồng kể từ ngày 07/10/2022 (vi phạm nợ lãi) vì không trả đầy đủ nợ quy định tại điểm c khoản 2 Điều 7 Hợp đồng tín dụng số 5600LAV202200658 ngày 14/3/2022 “Hoàn trả nợ gốc và lãi tiền vay, phí đầy đủ đúng thời hạn thỏa thuận tại Hợp đồng này”.

Căn cứ khoản 1 Điều 6 Hợp đồng tín dụng số 5600LAV202200658 ngày 14/3/2022, khách hàng vi phạm về thời hạn trả nợ lãi quy định theo thỏa thuận nên A Chi nhánh tỉnh B thực hiện chấm dứt cho vay, thu hồi nợ trước hạn. A Chi nhánh tỉnh B đã thực hiện thông báo cho khách hàng về việc chấm dứt cho vay, thu hồi nợ trước hạn theo quy định.

Đến ngày 30/8/2024, bà Vũ Thị H chưa trả nợ gốc, trả được kỳ tính lãi trong hạn từ ngày 11/3/2022 đến ngày 06/10/2022 với số tiền là 295.178.082 đồng và lãi chậm trả lãi: 363.443 đồng.

Tổng cộng nợ gốc và lãi tạm tính đến ngày 30/8/2024 (do nợ lãi vẫn tiếp tục phát sinh) bà Vũ Thị H phải trả cho Ngân hàng N1 là 6.092.429.589 đồng (Sáu tỷ không trăm chín mươi hai triệu bốn trăm hai mươi chín ngàn năm trăm tám mươi chín đồng), trong đó: Nợ gốc là 5.000.000.000 đồng (Năm tỷ đồng), tiền lãi trong hạn là 998.592.877 đồng (Chín trăm chín mươi tám triệu năm trăm chín mươi hai ngàn tám trăm bảy mươi bảy đồng), tiền lãi quá hạn là 93.836.712 đồng (Chín mươi ba triệu tám trăm ba mươi sáu ngàn bảy trăm mười hai đồng), tiền nợ lãi chậm trả: 67.065.003 đồng (Sáu mươi bảy triệu không trăm sáu mươi lăm ngàn không trăm lẻ ba đồng).

A chi nhánh tỉnh B đã nhiều lần đôn đốc thu hồi nợ nhưng bà Vũ Thị H vẫn chây ỳ không chịu trả nợ cho Ngân hàng.

Để đảm bảo cho hoạt động kinh doanh của A chi nhánh tỉnh B không bị ảnh hưởng xấu bởi hành vi vi phạm của bà Vũ Thị H, nay Ngân hàng N1 yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài giải quyết buộc bà Vũ Thị H phải trả cho Ngân hàng N1 số tiền gốc và tiền lãi tính đến hết ngày 30/8/2024 là: 6.092.429.589 đồng (Sáu tỷ không trăm chín mươi hai triệu bốn trăm hai mươi chín ngàn năm trăm tám mươi chín đồng), trong đó: Nợ gốc là 5.000.000.000 đồng (Năm tỷ đồng), tiền lãi trong hạn là 998.592.877 đồng (Chín trăm chín mươi tám triệu năm trăm chín mươi hai ngàn tám trăm bảy mươi bảy đồng), tiền lãi quá hạn là 93.836.712 đồng (Chín mươi ba triệu tám trăm ba mươi sáu ngàn bảy trăm mười hai đồng), tiền nợ lãi chậm trả: 67.065.003 đồng (Sáu mươi bảy triệu không trăm sáu mươi lăm ngàn không trăm lẻ ba đồng). Đồng thời, tiếp tục trả lãi phát sinh từ ngày 31/8/2024 cho đến ngày thực tế bà Vũ Thị H trả hết nợ gốc cho Ngân hàng N1 theo Hợp đồng tín dụng số: 5600LAV202200658 ngày 14/3/2022.

Trường hợp bà Vũ Thị H không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ nêu trên, Ngân hàng N1 có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản đã thế chấp là Quyền sử dụng đất có diện tích 8.097,1 m², tọa lạc tại thôn B, xã P, huyện P, tỉnh Bình Phước, thuộc thửa đất số 88, tờ bản đồ số 98, đất có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số có số sổ CV875419, số vào sổ cấp GCN: CS 04059/CDOI do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp cho bà Mai Thị B ngày 14/9/2020, được chỉnh lý trang 4 sang tên bà Vũ Thị H ngày 08/3/2022 theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 2022-091185006897/HĐTC ngày 11/3/2022 để Ngân hàng N1 thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.

* Bị đơn bà Vũ Thị H vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên không có bản tự khai.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

  • Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng khác đã tuân thủ theo đúng quy định của pháp luật.
  • Về việc giải quyết vụ án: Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN :

Sau khi nghiên cứu đầy đủ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền của Toà án: Đây là vụ án dân sự về “Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản và Hợp đồng thế chấp tài sản”. Trong đó, bị đơn là Vũ Thị H hiện đang cư trú tại khu phố C, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước. Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài.

[1.2] Về thủ tục giải quyết vắng mặt:

Nguyên đơn Ngân hàng N1 và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là bà Bùi Thị Gia N vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ vào Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn theo thủ tục chung.

Bị đơn bà Vũ Thị H vắng mặt tại phiên tòa nhưng Tòa án đã tiến hành tống đạt giấy triệu tập đầy đủ đúng theo quy định của pháp luật. Căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo thủ tục chung.

[2] Về nội dung vụ án.

[2.1] Xét nội dung Ngân hàng N1 yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài giải quyết buộc bà Vũ Thị H phải trả cho Ngân hàng N1 số tiền gốc và tiền lãi tính đến hết ngày 30/8/2024 là 6.092.429.589 đồng (Sáu tỷ không trăm chín mươi hai triệu bốn trăm hai mươi chín ngàn năm trăm tám mươi chín đồng), trong đó: Nợ gốc là 5.000.000.000 đồng (Năm tỷ đồng), tiền lãi trong hạn là 998.592.877 đồng (Chín trăm chín mươi tám triệu năm trăm chín mươi hai ngàn tám trăm bảy mươi bảy đồng), tiền lãi quá hạn là 93.836.712 đồng (Chín mươi ba triệu tám trăm ba mươi sáu ngàn bảy trăm mười hai đồng), tiền nợ lãi chậm trả: 67.065.003 đồng (Sáu mươi bảy triệu không trăm sáu mươi lăm ngàn không trăm lẻ ba đồng). Đồng thời, tiếp tục trả lãi phát sinh từ ngày 31/8/2024 cho đến ngày thực tế bà Vũ Thị H trả hết nợ gốc cho Ngân hàng N1 theo Hợp đồng tín dụng số: 5600LAV202200658 ngày 14/3/2022.

Căn cứ vào Hợp đồng tín dụng số: 5600LAV202200658 ký ngày 14/3/2022 có chữ ký của bà Vũ Thị H; Căn cứ vào nội dung ký kết trong hợp đồng. Hội đồng xét xử có cơ sở để xác định bà Vũ Thị H đã vay của Ngân hàng N1 số tiền 5.000.000.000 đồng (Năm tỷ đồng), mục đích vay: Bù đắp tài chính mua đất, thời hạn vay: 36 tháng, kể từ ngày ký Hợp đồng tín dụng đến hết ngày 14/03/2025, hạn trả nợ gốc chia 03 kỳ: Kỳ 01: Ngày 14/3/2023 trả số tiền: 300.000.000 đồng, K 02: Ngày 14/3/2024 trả số tiền: 300.000.000 đồng, K 03: Ngày 14/3/2025 trả số tiền: 4.400.000.000 đồng.

Ngân hàng N1 và bà Vũ Thị H ký kết Hợp đồng tín dụng trên cơ sở tự nguyện, không trái pháp luật, đạo đức xã hội, tuân thủ các quy định của pháp luật về hình thức và nội dung nên được thừa nhận, bảo vệ và là căn cứ phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự.

Xét thấy, trong quá trình thực hiện hợp đồng, mặc dù thời hạn hợp đồng vay chưa hết hạn nhưng việc bà Vũ Thị H không thanh toán số tiền lãi cho Ngân hàng N1 theo định kỳ trong hợp đồng đã làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của Ngân hàng N1, vi phạm thỏa thuận đã cam kết trong hợp đồng. Do đó, Ngân hàng N1 khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Vũ Thị H phải trả toàn bộ số nợ gốc và tiền lãi cho ngân hàng là phù hợp với quy định theo quy định tại Điều 5, Điều 6, Điều 7 của Hợp đồng tín dụng số: 5600LAV202200658 ký ngày 14/3/2022 về việc chuyển nợ quá hạn và thu hồi nợ trước hạn.

Vì vậy, việc Ngân hàng N1 yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài giải quyết buộc bà Vũ Thị H phải trả cho Ngân hàng N1 số tiền gốc và tiền lãi tính đến hết ngày 30/8/2024 là 6.092.429.589 đồng (Sáu tỷ không trăm chín mươi hai triệu bốn trăm hai mươi chín ngàn năm trăm tám mươi chín đồng), trong đó: Nợ gốc là 5.000.000.000 đồng (Năm tỷ đồng), tiền lãi trong hạn là 998.592.877 đồng (Chín trăm chín mươi tám triệu năm trăm chín mươi hai ngàn tám trăm bảy mươi bảy đồng), tiền lãi quá hạn là 93.836.712 đồng (Chín mươi ba triệu tám trăm ba mươi sáu ngàn bảy trăm mười hai đồng), tiền nợ lãi chậm trả: 67.065.003 đồng (Sáu mươi bảy triệu không trăm sáu mươi lăm ngàn không trăm lẻ ba đồng). Đồng thời, tiếp tục trả lãi phát sinh từ ngày 31/8/2024 cho đến ngày thực tế bà Vũ Thị H trả hết nợ gốc cho Ngân hàng N1 theo Hợp đồng tín dụng số: 5600LAV202200658 ngày 14/3/2022 là có căn cứ.

[2.2] Xét nội dung Ngân hàng N1 yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài giải quyết: Trường hợp bà Vũ Thị H không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ nêu trên, Ngân hàng N1 có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản đã thế chấp là Quyền sử dụng đất có diện tích 8.097,1 m², tọa lạc tại thôn B, xã P, huyện P, tỉnh Bình Phước, thuộc thửa đất số 88, tờ bản đồ số 98, đất có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số có số sổ CV875419, số vào sổ cấp GCN: CS 04059/CDOI do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp cho bà Mai Thị B ngày 14/9/2020, được chỉnh lý trang 4 sang tên bà Vũ Thị H ngày 08/3/2022 theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 2022-091185006897/HĐTC ngày 11/03/2022 để Ngân hàng N1 thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.

Xét thấy, khoản vay theo Hợp đồng tín dụng số 5600LAV202200658 ký ngày 14/3/2022 có bảo đảm bằng Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 2022-091185006897/HĐTC ngày 11/3/2022 được Phòng C tỉnh Bình Phước công chứng ngày 11/3/2022. Hợp đồng thế chấp được các bên xác lập tuân thủ đúng quy định về nội dung, hình thức, chủ thể giao kết hợp đồng có đầy đủ năng lực pháp luật dân sự nên Hợp đồng công chứng là hợp pháp.

Tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất có diện tích 8.097,1 m², tọa lạc tại thôn B, xã P, huyện P, tỉnh Bình Phước, thuộc thửa đất số 88, tờ bản đồ số 98, đất có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số có số sổ CV875419, số vào sổ cấp GCN: CS 04059/CDOI do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp cho bà Mai Thị B ngày 14/09/2020, được chỉnh lý trang 4 sang tên bà Vũ Thị H ngày 08/3/2022. Sau khi hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất được công chứng, tài sản thế chấp đã được thế chấp tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo đúng quy định của pháp luật.

Vì vậy, việc Ngân hàng N1 yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài giải quyết: Trường hợp bà Vũ Thị H không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ nêu trên, Ngân hàng N1 có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản đã thế chấp là Quyền sử dụng đất có diện tích 8.097,1 m², tọa lạc tại thôn B, xã P, huyện P, tỉnh Bình Phước, thuộc thửa đất số 88, tờ bản đồ số 98, đất có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số có số sổ CV875419, số vào sổ cấp GCN: CS 04059/CDOI do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp cho bà Mai Thị B ngày 14/9/2020, được chỉnh lý trang 4 sang tên bà Vũ Thị H ngày 08/3/2022 theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 2022-091185006897/HĐTC ngày 11/3/2022 để Ngân hàng N1 thu hồi nợ theo quy định của pháp luật là có căn cứ.

[3] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài có cơ sở và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Án phí sơ thẩm và chi phí thẩm định tại chỗ:

[4.1] Chi phí thẩm định tại chỗ: Bà Vũ Thị H phải chịu 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) tiền chi phí thẩm định tại chỗ. Ngân hàng N1 đã tạm ứng số tiền này, do đó bà Vũ Thị H phải trả lại cho Ngân hàng N1 số tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng).

[4.2] Án phí dân sự sơ thẩm:

  • Ngân hàng N1 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm do yêu cầu khởi kiện được chấp nhận.
  • Bà Vũ Thị H phải chịu 114.092.429 đồng (Một trăm mươi bốn triệu không trăm chín mươi hai ngàn bốn trăm hai mươi chín đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ nêu trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 155; Điều 156; Điều 157; Điều 227; Điều 228; Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng Điều 317; Điều 318; Điều 319; Điều 323; Điều 299; Điều 463; Điều 466 và Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015;

Áp dụng Điều 91; Điều 95 và Điều 98 của Luật các tổ chức tín dụng;

Áp dụng Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTV-QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N1.

Buộc bà Vũ Thị H phải trả cho Ngân hàng N1 số tiền gốc và tiền lãi tính đến hết ngày 30/8/2024 là: 6.092.429.589 đồng (Sáu tỷ không trăm chín mươi hai triệu bốn trăm hai mươi chín ngàn năm trăm tám mươi chín đồng), trong đó: Nợ gốc là 5.000.000.000 đồng (Năm tỷ đồng), tiền lãi trong hạn là 998.592.877 đồng (Chín trăm chín mươi tám triệu năm trăm chín mươi hai ngàn tám trăm bảy mươi bảy đồng), tiền lãi quá hạn là 93.836.712 đồng (Chín mươi ba triệu tám trăm ba mươi sáu ngàn bảy trăm mười hai đồng), tiền nợ lãi chậm trả: 67.065.003 đồng (Sáu mươi bảy triệu không trăm sáu mươi lăm ngàn không trăm lẻ ba đồng). Kể từ ngày 31 tháng 8 năm 2024 cho đến ngày thực tế bà Vũ Thị H trả hết nợ gốc cho Ngân hàng N1, bà Vũ Thị H còn phải tiếp tục trả các khoản tiền lãi phát sinh trên số tiền nợ gốc còn lại theo mức lãi suất trong Hợp đồng tín dụng số: 5600LAV202200658 ngày 14/3/2022.

Trường hợp bà Vũ Thị H không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ nêu trên, Ngân hàng N1 có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản đã thế chấp là Quyền sử dụng đất có diện tích 8.097,1 m², tọa lạc tại thôn B, xã P, huyện P, tỉnh Bình Phước, thuộc thửa đất số 88, tờ bản đồ số 98, đất có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số có số sổ CV875419, số vào sổ cấp GCN: CS 04059/CDOI do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp cho bà Mai Thị B ngày 14/9/2020, được chỉnh lý trang 4 sang tên bà Vũ Thị H ngày 08/3/2022 theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 2022-091185006897/HĐTC ngày 11/3/2022 để Ngân hàng N1 thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

2. Án phí dân sự sơ thẩm và chi phí thẩm định tại chỗ:

2.1 Chi phí thẩm định tại chỗ:

Bà Vũ Thị H phải trả lại cho Ngân hàng N1 số tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) tiền chi phí thẩm định tại chỗ.

2.2 Án phí dân sự sơ thẩm:

  • Ngân hàng N1 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại cho Ngân hàng N1 số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 56.000.000 đồng (năm mươi sáu triệu đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004928 ngày 13 tháng 6 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước.
  • Bà Vũ Thị H phải chịu 114.092.429 đồng (Một trăm mươi bốn triệu không trăm chín mươi hai ngàn bốn trăm hai mươi chín đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo:

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Phước
  • - VKSND TP.Đồng Xoài;
  • - CCTHADS TP.Đồng Xoài;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, Văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

CAO ĐÌNH THÀNH

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 39/2024/DS–ST ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI TỈNH BÌNH PHƯỚC về tranh chấp hợp đồng vay tài sản và hợp đồng thế chấp tài sản

  • Số bản án: 39/2024/DS–ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản và Hợp đồng thế chấp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: “Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản và Hợp đồng thế chấp tài sản”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger