|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 39/2024/HNGĐ-ST Ngày: 20/8/2024 V/v: Tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Quý Sửu
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đinh Thanh Hải
2. Bà Hà Thị Dung
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thùy Dương; Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Lê Ngọc Kim Loan; Kiểm sát viên
Ngày 20 tháng 8 năm 2024, tại Hội trường Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 38/2024/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 7 năm 2024 về việc ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2024/QĐXX-ST ngày 26 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Phan Thị L, sinh năm 1998; nơi thường trú: Xóm T, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên; có mặt.
Bị đơn: Anh Dương Văn H, sinh năm 1990; nơi thường trú: Xóm T, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên; hiện đang lao động xuất khẩu tại F, Nhật Bản, không rõ địa chỉ; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn xin ly hôn, bản tự khai và tại phiên toàm nguyên đơn chị Phan Thị L trình bày:
Chị Phan Thị L và anh Dương Văn H kết hôn năm 2017 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc. Năm 2020, anh H đi lao động tại Nhật Bản, từ đó vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do chị L không đồng ý để anh H đi lao động ở nước ngoài. Từ năm 2023, vợ chồng không còn liên hệ với nhau nữa. Chị L xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh Dương Văn H.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Dương Như Y, sinh ngày 12/5/2018 và Dương Diệu H1, sinh ngày 10/01/2020, hiện nay hai con đang ở với chị L. Chị L đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng hai con, yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi 02 con chung là 3.000.000 đồng/ 01 tháng.
Về tài sản chung vợ chồng: Chị L xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Biên bản xác minh ngày 02/7/2024 của Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên với Công an xã T, huyện P xác định: Anh H hiện đăng ký hộ khẩu thường trú tại xóm T, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên, hiện tại anh H không có mặt địa phương.
Biên bản làm việc ngày 02/7/2024 của Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên với bà Đinh Thị V, là mẹ đẻ của anh Dương Văn H tại xóm T, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên, bà Đinh Thị V không hợp tác, tuy nhiên bà V xác định: Anh Dương Văn H hiện đang đi lao động ở nước ngoài, thỉnh thoảng có gọi điện về cho gia đình. Bà không biết việc ly hôn giữa chị L và anh H, bà không biết địa chỉ của anh H ở nước ngoài.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật. Về nội dung giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị L, cho chị L được ly hôn anh H. Về con chung: Giao 02 con chung Dương Như Y, sinh ngày 12/5/2018 và Dương Diệu H1, sinh ngày 10/01/2020 cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng, buộc anh H cấp dưỡng nuôi 02 con chung là 3.000.000 đồng/tháng kể từ tháng 8/2024 đến khi con đủ 18 tuổi, hoặc đến khi có sự thay đổi khác. Về tài sản chung vợ chồng, nguyên đơn không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, sau khi nghe ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
[1] Chị Phan Thị L là nguyên đơn có nơi thường trú tại xóm X, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Anh Dương Văn H là bị đơn có nơi thường trú tại xóm T, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Tại Công văn số 1658/PQLNXC(Đ1) ngày 08/5/2024 của Phòng Q Công an tỉnh T xác định, anh Dương Văn H đã xuất nhập cảnh nhiều lần; lần gần đây nhất anh H xuất cảnh ngày 30/3/2023 qua cửa khẩu N, hiện chưa có thông tin nhập cảnh trở lại. Hội đồng xét xử xác định, đây là vụ án yêu cầu ly hôn có yếu tố nước ngoài, thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên, theo quy định tại Điều 37, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Tòa án tiến hành tống đạt Thông báo về việc thụ lý vụ án cho chị Lý Thị D, sinh năm 1991, là chị dâu của anh H cùng địa chỉ thường trú với anh Dương Văn H tại xóm T, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên; tống đạt Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm cho bà Đinh Thị V, là mẹ đẻ anh Dương Văn H có cùng địa chỉ thường trú với anh Dương Văn H ở Việt Nam; bà V, chị D đều cam kết gửi các văn bản tố tụng của Toà án cho anh H qua Zalo. Tại đơn trình bày của chị L gửi Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên, xác định đã gửi Thông báo về việc thụ lý vụ án cho anh H qua M, anh H đã xem và không có ý kiến gì.
[3] Mặc dù, nguyên đơn chị Phan Thị L không cung cấp được địa chỉ của anh H ở nước ngoài, tuy nhiên quá trình giải quyết vụ án, thông qua thân nhân của anh H là bà Đinh Thị V, chị Lý Thị D, có đủ căn cứ xác định anh H vẫn liên hệ với bà V là mẹ đẻ và chị D là chị dâu sống cùng địa chỉ thường trú trước khi anh H ra nước ngoài. Anh H biết việc chị L khởi kiện xin ly hôn và Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên đang thụ lý giải quyết, nhưng không có ý kiến gì.
Căn cứ hướng dẫn tại Điều 10 Nghị quyết số 04/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn giải quyết một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ án về việc Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị đơn anh Dương Văn H.
Về nội dung vụ án:
[4] Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Phan Thị L và anh Dương Văn H trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên, Việt Nam là hôn nhân hợp pháp. Nguyên nhân vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, theo chị L trình bày: Do chị L không đồng ý anh H đi lao động tại Nhật Bản, nên vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống. Từ năm 2023, vợ chồng đã không còn liên lạc, không quan tâm đến nhau. Chị L xác định tình cảm vợ chồng không còn, yêu cầu ly hôn với anh H. Anh H biết việc chị L xin ly hôn nhưng không có ý kiến thể hiện mong muốn vợ chồng đoàn tụ. Thấy rằng, chị L và anh H đã sống xa cách nhau nhiều năm, không còn quan tâm đến nhau, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Phan Thị L, cho chị L được ly hôn với anh H là phù hợp thực tế và Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam.
[5] Về con chung: Chị Phan Thị L và anh Dương Văn H có 02 con chung là Dương Như Y, sinh ngày 12/5/2018 và Dương Diệu H1, sinh ngày 10/01/2020, hiện nay 02 con chung đang ở với chị L, chị L đề nghị được trực tiếp nuôi hai con chung. Xét thấy, hiện tại anh H đang làm việc tại Nhật Bản, không có điều kiện trực tiếp nuôi con, nên giao cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục cả 02 con cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác là phù hợp với thực tế, đảm bảo đúng các quy định của pháp luật tại Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam. Chị L yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi 02 con chung 3.000.000 đồng/tháng là phù hợp, nên chấp nhận.
Anh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con chung và được giải quyết bằng vụ kiện dân sự khác khi các bên đương sự có yêu cầu.
[6] Về tài sản chung vợ chồng: Chị L xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, Hội đồng xét xử không giải quyết về tài sản chung. Các bên đương sự có quyền khởi kiện bằng vụ kiện dân sự khác khi có đủ căn cứ và có yêu cầu.
[7] Về án phí: Chị L phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm được trừ vào tạm ứng án phí; anh H phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.
[8] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 273 và Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điều 28, 37, khoản 2 Điều 38; Điều 273; khoản 1 Điều 228 và khoản 5 Điều 477, Điều 479 của Bộ luật tố tụng Dân sự; Điều 51; 56; 81; 82; 83; Điều 127 Luật hôn nhân và Gia đình; Điều 10 Nghị quyết số 04/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn giải quyết một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ án về việc Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Phan Thị L đối với anh Dương Văn H.
1.1. Về hôn nhân: Chị Phan Thị L được ly hôn anh Dương Văn H.
1.2. Về con chung: Giao 02 con chung là Dương Như Y, sinh ngày 12/5/2018 và Dương Diệu H1, sinh ngày 10/01/2020 cho chị Phan Thị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi con đủ 18 tuổi, có khả năng lao động hoặc có sự thay đổi khác. Anh H có quyền thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở.
1.3. Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Dương Văn H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con Dương Như Y, sinh ngày 12/5/2018 và Dương Diệu H1, sinh ngày 10/01/2020 là 3.000.000 đồng/ tháng, kể từ tháng 8 năm 2024 đến khi con đủ 18 tuổi, có khả năng lao động hoặc đến khi có sự thay đổi khác.
1.4. Tài sản chung vợ chồng: Đương sự không yêu cầu, Tòa án không xem xét giải quyết.
2. Án phí: Chị Phan Thị L phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào 300.000đ tạm ứng án phí ly hôn đã nộp theo biên lai số 0000187 ngày 03/6/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Thái Nguyên; anh Dương Văn H phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con nộp ngân sách Nhà nước.
3. Quyền kháng cáo: Chị Phan Thị L được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Anh Dương Văn H được quyền kháng cáo trong hạn một tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Hoàng Quý Sửu |
Bản án số 39/2024/HNGĐ-ST ngày 20/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 39/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: L-H
