|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 39/2024/HNGĐ-ST Ngày: 16 - 4 - 2024 V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Nam.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Đình Khôi và bà Trần Thị Yến Nhi.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đoàn Văn Năng – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Liên – Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 4 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 549/2023/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 11 năm 2023, về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2024/QĐXXST - HNGĐ ngày 07 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 20/2024/QĐST-HNGĐ ngày 27 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1982; nơi cư trú: Ấp K, xã P L, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai;
- - Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1984; nơi cư trú: Ấp P M X, xã P L, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
(Nguyên đơn vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt;
bị đơn vắng mặt không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ghi ngày 27/10/2023 và lời khai trong thời gian chuẩn bị xét xử vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị L trình bày:
Bà và ông Nguyễn Văn T tự nguyện kết hôn với nhau và được Ủy ban nhân dân xã P L, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 17 tháng 4 năm 2009. Sau khi kết hôn, vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung và ông T nhiều lần đánh đập bà. Năm 2019, bà đã yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn nhưng sau đó, bà đồng ý cho ông T cơ hội sửa đổi bản thân và tiếp tục chung sống với nhau. Tuy nhiên, ông T vẫn không sửa đổi, mỗi lần say xỉn lại chửi bới, xúc phạm bà. Mâu thuẫn giữa vợ chồng kéo dài làm tình cảm vợ chồng không còn nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Văn T.
Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Bà và ông Nguyễn Văn T có 03 (ba) con chung là Nguyễn Hoàng Thiên A - sinh ngày 19/02/2010, Nguyễn Hoàng Thiên L - sinh ngày 26/02/2012 và Nguyễn Hoàng Thiên P, sinh ngày 27/05/2015. Khi ly hôn, bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cả ba con chung và yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi mỗi con, mỗi tháng 1.000.000 đồng.
Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết;
Về nợ chung: Vợ chồng không có nợ chung bất kỳ ai nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại Bản tự khai, lời trình bày trong quá trình chuẩn bị xét xử, bị đơn ông Nguyễn Văn T trình bày:
Ông và bà Nguyễn Thị L tự nguyện đăng kết hôn với nhau và được UBND xã P L, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn năm 2009. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống chung với nhau cho đến nay. Trong thời gian sống chung, vợ chồng có xảy ra bất đồng quan điểm trong việc nuôi dạy con cái, như việc bà L cho con cái sử dụng điện thoại quá nhiều nên vợ chồng xảy ra cãi nhau. Khi vợ chồng cãi nhau thì ông nổi nóng nên đánh bà L hai lần vào năm 2018 và năm 2022, làm bà L gãy mũi. Năm 2019, bà L có khởi kiện ly hôn ra Tòa án nhưng sau đó bà L đã rút đơn khởi kiện và vợ chồng tiếp tục chung sống với nhau. Ông mong muốn hòa giải để vợ chồng tiếp tục chung sống với nhau nên ông không đồng ý ly hôn với bà Nguyễn Thị L.
Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Vợ chồng có 03 (ba) con chung là Nguyễn Hoàng Thiên A - sinh ngày 19/02/2010, Nguyễn Hoàng Thiên L - sinh ngày 26/02/2012 và Nguyễn Hoàng Thiên P, sinh ngày 27/05/2015. Trường hợp vợ chồng ly hôn, ông đồng ý giao cả ba con chung cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng và ông cấp dưỡng nuôi mỗi con, mỗi tháng 1.000.000 đồng cho đến khi con trưởng thành.
Về tài sản chung: Ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Vợ chồng không có nợ chung bất kỳ ai nên ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến như sau:
- Về việc tuân theo pháp luật: Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án Thẩm phán đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử tuân thủ đúng trình tự tố tụng theo quy định đối với một phiên tòa sơ thẩm.
- Về quan điểm giải quyết vụ án:
Căn cứ: Căn cứ: Các Điều 56, 81, 82, 83, 84, 110, 131 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 85, 89, 91, 92, 93 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000; Điều 28, 35, 39, 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn: Cho bà Nguyễn Thị L được ly hôn với ông Nguyễn Văn T; về con chung: Giao 03 con chung là Nguyễn Hoàng Thiên A - sinh ngày 19/02/2010, Nguyễn Hoàng Thiên L - sinh ngày 26/02/2012 và Nguyễn Hoàng Thiên P, sinh ngày 27/05/2015 cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng; ông T cấp dưỡng nuôi mỗi con, mỗi tháng 1.000.000 đồng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi; về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không có yêu cầu nên không giải quyết; về án phí: Nguyên đơn phải nộp 300.000₫ (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm về ly hôn; bị đơn phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm về cấp dưỡng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về áp dụng pháp luật tố tụng:
[1.1] Xác định thẩm quyền giải quyết: Ông Nguyễn Văn T cư trú tại ấp P M X, xã P L, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai. Vì vậy, căn cứ theo điểm a, khoản 1 Điều 35 và điểm a, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự xác định vụ án thuộc thẩm quyền thụ lý, giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
[1.2] Xác định quan hệ pháp luật: Bà L yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông T và được trực tiếp nuôi con chung chưa thành niên. Vì vậy, quan hệ pháp luật được xác định là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
[1.3] Xác định tư cách đương sự: Bà L khởi kiện đối với ông T. Căn cứ theo khoản 2, khoản 3 Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự xác định bà L là nguyên đơn, ông T là bị đơn trong vụ án.
[1.4] Tại phiên tòa, nguyên đơn vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự quyết định xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.
[2] Về áp dụng pháp luật nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhận thấy:
[2.1] Về hôn nhân: Các đương sự tự nguyện kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã P L, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 35, ngày 17 tháng 4 năm 2009. Đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ, khi bà L yêu cầu ly hôn thì Tòa án căn cứ Luật hôn nhân gia đình để giải quyết.
Trên cơ sở lời khai của đương sự và tài liệu, chứng cứ thu thập trong quá trình tiến hành tố tụng thể hiện: Trong thời gian sống chung, các đương sự có xảy ra mâu thuẫn, bất đồng trong việc nuôi dạy con cái; các đương sự không tôn trọng nhau; ông T có lời nói xúc phạm và có đánh đập bà L nên vào 2019, bà L đã khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn nhưng sau đó đã rút yêu cầu khởi kiện. Tuy nhiên, bản thân ông T vẫn không sửa đổi bản thân, vẫn xúc phạm và đánh đập bà L nên nay bà L lại tiếp tục yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.
Từ những đánh giá nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Các đương sự đã vi phạm nghiêm trọng về nghĩa vụ thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ giữa vợ và chồng; vi phạm nghĩa vụ sống chung của vợ chồng được quy định tại Điều 19 của Luật hôn nhân và gia đình, làm hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung của vợ chồng không được liên tục, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp với quy định tại Điều 91 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 và khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
[2.2] Về con và cấp dưỡng nuôi con chung: Các đương sự có 03 (ba) con chung là Nguyễn Hoàng Thiên A - sinh ngày 19/02/2010, Nguyễn Hoàng Thiên L - sinh ngày 26/02/2012 và Nguyễn Hoàng Thiên P, sinh ngày 27/05/2015. Xét thấy, từ khi vợ chồng sống ly thân do bà L trực tiếp nuôi dưỡng, các con chung đều có nguyện vọng sống cùng với bà L và ông T cũng đồng ý giao cả ba con chung cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng. Vì vậy, giao cháu A, cháu L và cháu P cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng là có cơ sở. Về yêu cầu cấp dưỡng nuôi con: Bà L yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi mỗi con, mỗi tháng 1.000.000 đồng và ông T cũng đồng ý với yêu cầu của bà L. Vì vậy, ông T phải cấp dưỡng mỗi con, mỗi tháng 1.000.000đ (Một triệu đồng). Thời điểm cấp dưỡng tính từ khi bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi con chung đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.
[2.3] Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.
[2.4] Về nợ chung: Các đương sự khai không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
[3] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về yêu cầu ly hôn và ông T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về yêu cầu cấp dưỡng theo quy định của pháp luật.
[4] Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa về quan hệ hôn nhân và nuôi dưỡng con chung phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- - Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 144, 147; khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 235, 238, 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
- - Điều 39 của Bộ luật dân sự năm 2015;
- - Các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 và Điều 131 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- - Điều 85, 89, 91, 92, 93 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000;
- - Điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị L.
- Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị L được ly hôn với ông Nguyễn Văn T.
- Về con và cấp dưỡng nuôi con: Các đương sự có 03 (ba) con chung là Nguyễn Hoàng Thiên A - sinh ngày 19/02/2010, Nguyễn Hoàng Thiên L - sinh ngày 26/02/2012 và Nguyễn Hoàng Thiên P, sinh ngày 27/05/2015. Giao cháu A, cháu L và cháu P cho bà L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Ông T có nghĩa vụ cấp dưỡng mỗi con, mỗi tháng 1.000.000đ (Một triệu đồng).
Thời điểm cấp dưỡng tính từ khi bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi con chung đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.
Các đương sự có quyền qua lại thăm nom, chăm sóc con chung không ai được gây cản trở. Vì lợi ích của con chung các đương sự có quyền xin thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người có quyền yêu cầu thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, người phải thi hành án chưa thi hành án thì còn phải trả lãi đối với số tiền theo quy định của pháp luật tương ứng với thời gian theo quy định của pháp luật theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
- Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.
- Về nợ chung: Các đương sự khai không có nên Tòa án không giải quyết.
- Về án phí: Bà Nguyễn Thị L phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hôn nhân và gia đình về ly hôn, được trừ vào số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) bà L đã nộp tạm ứng án phí tại biên lai thu số 0002709 ngày 10/11/2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai. Bà L đã nộp đủ.
Ông Nguyễn Văn T phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm về cấp dưỡng
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của luật.
|
Nơi nhận:
|
THAY MẶT HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Văn Nam |
Bản án số 39/2024/HNGĐ-ST ngày 16/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 39/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn L - T