|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THÁI HOÀ TỈNH NGHỆ AN Bản án số:39/2024/HS-ST Ngày 20tháng 9 năm 2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THÁI HOÀ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Ngoan.
Các Hội thẩm nhân dân: 1.Ông Ngô Sỹ Lượng
2. Ông Trần Thanh Hải
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị An– Thẩm tra viên Toà án nhân dân thị xã Thái Hòa, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thái Hoà, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà:Ông Hồ Văn Thái - Kiểm sát viên.
Trong ngày 20 tháng 9 năm 2024 tại phòng xử án Tòa án nhân dânthị xã T, tỉnh Nghệ An và điểm cầu Trại tạm giam Công an tỉnh N; Tòa án nhân dân thị xã Thái Hòa, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai, trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 33/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 08 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2024/QĐXXST-HS ngày 05/9/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Ngô Khánh D; Tên gọi khác: Không; sinh ngày 20 tháng 06 năm 2005 tạithị xã T, tỉnh Nghệ An; nguyên quán: Xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An; nơi thường trúvà chỗ ở hiện nay: Xóm P, xã T, thị xã T, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Văn T, sinh 1964; con bà Trần Thị N, sinh năm 1968;vợ, con: Chưa có; tiền sự: Không; tiền án:Ngày 07/11/2023bị TAND huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An xử phạt 13 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 26 tháng về tội “ Gây rối trật tự công cộng” tại bản án số 167/2023/HS-ST;đang trong thời gian chấp hành án.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/06/2024 đến nay “có mặt”.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- + Anh Phạm Hồng N1, sinh ngày 02/5/2006
- Trú tại: Xóm Đồng Tâm A, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An “có đơn xin xét xử vắng mặt”.
- + Chị Vũ Thị T1, sinh năm 1985
- Trú tại: Xóm Đồng Tâm A, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An “có đơn xin xét xử vắng mặt”.
-Người chứng kiến: Ông Nguyễn Xuân T2- Sinh năm 1989.
Trú tại: Xóm T, xã H, thành phố V, tỉnh Nghệ An“vắngmặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN
2
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Theo lời khai của Ngô Khánh D, vào khoảng 17 giờ ngày 20/6/2024, Ngô Khánh D sử dụng tài khoản mạng xã hội Facebook mang tên “Ngo Khanh D1” liên hệ đến tài khoản Facebook mang tên “Ngọc Cương” của Bùi Ngọc C thông qua ứng dụng M để hỏi mua ma tuý để sử dụng thì được C đồng ý. Sau đó Ngô Khánh D mượn chiếc xe máy nhãn hiệu Honda, biển kiểm soát 37G1-872.68 của anh Phạm Hồng N1 một mình điều khiển đi đến nhà Bùi Ngọc C và mua của C 01(một) gói nilon màu trắng, kích thước (7x8)cm, bên trong có chứa 08 (tám) viên nén màu hồng, trên một mặt mỗi viên có chữ “WY” với số tiền 900.000 đồng. Sau khi mua được ma tuý, D cất giấu gói ma tuý vào trong túi quần bên phải đang mặc rồi điều khiển xe máy đến khu vực phường Q, thị xã T, tỉnh Nghệ An để tìm nơi sử dụng. Đến khoảng 17 giờ 40 phút cùng ngày, khi đi đến khu vực ngã 3 thuộc khối B, phường Q, thị xã T, tỉnh Nghệ An thì bị tổ công tác thuộc đội CSGT đường bộ số A, phòng CSGT công an tỉnh N tiến hành kiểm tra bắt giữ, thu giữ tại túi quần phía trước, bên phải của Ngô Khánh D 01(một) gói nilon màu trắng, kích thước (7x8)cm, bên trong có chứa 08(tám) viên nén màu hồng, trên một mặt mỗi viên có chữ “WY” (Ngô Khánh D khai nhận đó là ma tuý dạng hồng phiến). Lực lượng chức năng đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong vật chứng, dẫn giải Ngô Khánh D cùng tang vật về Công an thị xã T để xử lý theo quy định.
Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng và lấy mẫu giám định ngày 21/6/2024 của Cơ quan CSĐT công an thị xã T, tỉnh Nghệ An xác định: 08 (tám) viên nén màu hồng thu giữ của Ngô Khánh D có khối lượng là 0,78 gam.
Tại Kết luận giám định số 704/KL-KTHS(Đ2- MT) ngày 25/6/2024 của phòng K Công an tỉnh N kết luận: Mẫu viên nén màu hồng thu giữ của Ngô Khánh D gửi tới giám định là ma túy (Methamphetamine). Số viên nén màu hồng thu giữ của Ngô Khánh D có khối lượng là 0,78 gam.
Tại bản cáo trạng số: 37/CT-VKS ngày 08tháng 08 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân Thị xã Thái Hoà đã truy tố Ngô Khánh D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo Đ c Khoản 1 Điều 249 - BLHS .
Tại phiên toà, Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm như đã truy tố và qua luận tội đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Ngô Khánh D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Căn cứ Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51, Điểm h Khoản 1 Điều 52;Khoản 2 Điều 56; Khoản 5 Điều 65;Điều 38 - BLHS.
xử phạt bị cáo Ngô Khánh D từ 18(mười tám) đến 20 (hai mươi) tháng tù. Tổng hợp với 13 (mười ba) tháng tù tại bản án hình sự sơ thẩm số 167/2023/HS-ST ngày 07/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là từ 31 (ba mốt) đến 33 (ba ba) tháng tù.
Đề nghị Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Vật chứng vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điểm a, c Khoản 2 Điều 106 - BLTTHS; Điểm c Khoản 1 Điều 47 BLHS tuyên tịch thu, tiêu huỷ:
3
- + 01 phong bì thư kích thước 10 x 18 cm đã được niêm phong bên trong có chứavỏ giấy niêm phong và 06 (sáu) viên nén màu hồng là ma túy (Methamphetamine) có khối lượng 0,58 gam thu giữ của Ngô Khánh D, (đã lấy 02 viên có khối lượng là 0,2 gam để trưng cầu giám định và sử dụng hết trong quá trình giám định).
- + Tịch thu hóa giá, sung quỹ Nhà nước 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, màu trắng, số IMEI 353975101967970, bên trong có gắn sim số 0378.833.623 (máy đã qua sử dụng) đã được niêm phong trong 01 phong bì thư kích thước 10 x 18 cm.
- +Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda, màu đỏ đen, BKS: 37G1-872.68. Quá trình điều tra xác định đây là chiếc xe máy thuộc quyền sở hữu của bà Vũ Thị T1; vào ngày 20/6/2024, Phạm Hồng N1 là con trai của bà sử dụng để đi làm tại quán cắt tóc,sau đó D mượn. Quá trình cho mượn xe máy, Phạm Hồng N1 hoàn toàn không biết việc Ngô Khánh D sử dụng chiếc xe máy đó vào mục đích phạm tội. Ngày 24/7/2024 cơ quan CSĐT công an thị xã T đã tiến hành trao trả lại chiếc xe máy đó cho chủ sở hữu là bà Vũ Thị T1 theo Quyết định xử lý vật chứng số 519/QĐ-ĐCSHS-KT-MT ngày 24/7/2024 của Cơ quan CSĐT Công an thị xã T nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét.
Đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải chịu án phí theo luật định.
Bị cáo đồng ý với quan điểm, đề nghị của Viện kiểm sát, không tranh luận gì.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin được xem xét, giảm nhẹ hình phạt .
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thái Hoà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Đối với người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và người chứng kiếnvắng mặt tại phiên tòa. Xét thấy quá trình điều tra đã có đầy đủ lời khai, ý kiến của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và người chứng kiếnnên việc vắng mặt người chứng kiến không gây trở ngại cho việc xét xử. Căn cứ vào các Điều 292, 293 Bộ Luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và người chứng kiến.
[3] Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người pham tội quả tang lập hồi 17giờ 40 phút ngày 20 tháng 06 năm 2024tại khối B, phường Q, thị xã T, Nghệ An. Lời khai nhận tội của bị cáo còn phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác trong quá trình điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án đã được đưa ra xem xét tại
4
phiên tòa. Từ đó đã xác định đượcvào khoảng 17 giờ 40phút ngày 20/06/2024, tại khối khối B, phường Q, thị xã T, Nghệ An;Ngô Khánh D đã có hành vi tàng trữ trái phép 08 (tám) viên ma túy là Methamphetamine có khối lượng là 0,78gam (không phẩy bảy tám gam)thì bị bắt quả tang; số ma túy mà D tàng trữ là để sử dụng không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy nên hành vi của bị cáoNgô Khánh D đã đầy đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 249 BLHS như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Thị xã Thái Hoà truy tố là có căn cứ.
[4] Bị cáo nhận thức được tác hại của ma túy và hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là bị pháp luật nghiêm cấm và trừng trị nghiêm, nhưng do nghiện chất ma túy, để có ma túy sử dụng, bị cáo đã có hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, xâm phạm đến việc độc quyền quản lý của nhà nước ta về chất ma túy, gây tác hại cho sức khỏe, phẩm giá con người, làm ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội, gây bất bình trong quần chúng nhân dân nên cần xét xử nghiêm hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ điều kiện cải tạo giáo dục riêng bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
[5] Xem xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thấy rằng: Bị cáo đang có 01 tiền ánvà phạm tội trong thời gian thử thách của án treo, nên phải chịu trách nhiệm hình sự vớitình tiết tăng nặng được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 - BLHS, và cần căn cứ khoản 2 Điều 56; khoản 5 Điều 65- BLHS tổng hợp với hình phạt 13 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 26 tháng về tội “ Gây rối trật tự công cộng” theo bản án số 167/2023/HS-ST, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án. Tuy nhiên cũng cần xem xét cho bị cáo quá trình điều tra truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, biết ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, vậy cần áp dụng Điểm s Khoản 1Điều 51 BLHS để xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
[6] Hình phạt bổ sung:Qua biên bản xác minh nguồn thu nhậpngày 27/06/2024 của Cơ quan CSĐT Công an thị xã T thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, thu nhập bình quân thấp, nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
[7] Về vật chứng vụ án:Vật chứng gồm 01 phong bì thư kích thước 10 x 18 cm đã được niêm phong bên trong có chứa vỏ giấy niêm phong và 06 (sáu) viên nén màu hồng là ma túy (Methamphetamine) có khối lượng 0,58 gam thu giữ của Ngô Khánh D, (đã lấy 02 viên có khối lượng là 0,2 gam để trưng cầu giám định và sử dụng hết trong quá trình giám định) cần tịch thu, tiêu huỷ theo Điểm c Khoản 2 Điều 106 - BLTTHS; Điểm c Khoản 1 Điều 47 - BLHS.
Vật chứng là01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, màu trắng, số IMEI 353975101967970, bên trong có gắn sim số 0378.833.623 (máy đã qua sử dụng) đã được niêm phong trong 01 phong bì thư kích thước 10 x 18 cm; bị cáo khai đã sử dụng chiếc điện thoại này để làm phương tiện liên lạc mua ma túy để sử dụng nên căn cứ Điểm a Khoản 2 Điều 106 - BLTTHS; Điểm a Khoản 1 Điều 47 - BLHSTịch thu hóa giá, sung quỹ Nhà nước.
5
+Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda, màu đỏ đen, BKS: 37G1-872.68. Quá trình điều tra xác định đây là chiếc xe máy thuộc quyền sở hữu của bà Vũ Thị T1; vào ngày 20/6/2024, Phạm Hồng N1 là con trai của bà sử dụng để đi làm tại quán cắt tóc,sau đó D mượn. Quá trình cho mượn xe máy, Phạm Hồng N1 hoàn toàn không biết việc Ngô Khánh D sử dụng chiếc xe máy đó vào mục đích phạm tội. Ngày 24/7/2024 cơ quan CSĐT công an thị xã T đã tiến hành trao trả lại chiếc xe máy đó cho chủ sở hữu là bà Vũ Thị T1 theo Quyết định xử lý vật chứng số 519/QĐ-ĐCSHS-KT-MT ngày 24/7/2024 của Cơ quan CSĐT Công an thị xã T là đúng quy định tại Khoản 1, Khoản 3 Điều 106 BLTTHS nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét.
[8]Quá trình điều tra Ngô Khánh D trình bày đã mua 08 (tám) viên ma tuý của Bùi Ngọc C. Tuy nhiên quá trình điều tra Bùi Ngọc C1 thừa nhận việc đã bán ma tuý cho D vào ngày 20/6/2024. Do đó chưa đủ căn cứ để xử lý Bùi Ngọc C về hành vi mua bán trái phép chất ma tuý; đề nghị Cơ quan CSĐT - Công an thị xã T tiếp tục điều tra xác minh, làm rõ để xử lý theo quy định.
[9] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí theo luật định.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51, Điểm h Khoản 1 Điều 52;Khoản 2 Điều 56; Khoản 5 Điều 65;Điều 38 - BLHS.
Xử phạt bị cáo Ngô Khánh D 20(hai mươi) tháng tùvề tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý". Tổng hợp với 13 (mười ba) tháng tù tại bản án hình sự sơ thẩm số 167/2023/HS-ST ngày 07/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 33 (ba ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam20/06/2024.
-Về vật chứng: Căn cứ Điểm a, c Khoản 2 Điều 106 - BLTTHS;Điểm a, c Khoản 1 Điều 47 - BLHS tuyên:
- +Tịch thu, tiêu huỷ 01 phong bì thư kích thước 10 x 18 cm đã được niêm phong bên trong có chứa vỏ giấy niêm phong và 06 (sáu) viên nén màu hồng là ma túy (Methamphetamine) có khối lượng 0,58 gam thu giữ của Ngô Khánh D.
- + Tịch thu hóa giá sung quỹ Nhà nước 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, màu trắng, số IMEI 353975101967970, bên trong có gắn sim số 0378.833.623 (máy đã qua sử dụng) thu giữ của Ngô Khánh D
Các tang vật trên hiện có tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Thái Hoà theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 08 tháng 08 năm 2024 giữa Cơ quan CSĐT Công an thị xã T và Chi cục thi hành án dân sự thị xã Thái Hoà.
Án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án: Buộc bị cáoNgô Khánh D phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí HSST.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có mặt được quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ Antrong
6
hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Ngoan |
Bản án số 39/2024/HS-ST ngày 20/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THÁI HOÀ, TỈNH NGHỆ AN về vụ án hình sự (tàng trữ trái phép chất ma tuý)
- Số bản án: 39/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma tuý)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THÁI HOÀ, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngô Khánh D- Tàng trữ trái phép chất ma túy
