Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LỘC BÌNH

TỈNH LẠNG SƠN

Bản án số: 39/2024/HS-ST

Ngày 20-8-2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

---

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC BÌNH, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Hoàng Thị Ngọc

Các Hội thẩm nhân dân:

  • Bà Đặng Thị Phương
  • Bà Lý Thị Phẩm

- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Nhưỡng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà: Ông Hoàng Chí Dũng - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 37/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2024/QĐXXST - HS ngày 01 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:

Hoàng Minh T, sinh ngày 23 tháng 8 năm 1985 tại huyện B, tỉnh Lạng Sơn; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Khu 5B, thị trấn D, huyện B, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Nùng; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn Q, sinh năm 1962 và bà Phạm Thị H, sinh năm 1962; vợ: Tô Thị H, sinh năm 1988; con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Chưa bị xử lý trách nhiệm hình sự, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật. Bị cáo bị giữ, tạm giam từ ngày 12/4/2024 đến ngày 09/8/2024 được áp dụng biện pháp cho Bảo lĩnh; có mặt.

- Bị hại: Bị hại bà Nguyễn Thị L (đã chết)

Người đại diện hợp pháp của bị hại chị Lý Thị H, sinh năm 1994 (con gái)

Cư trú tại: Lương T, xã T, huyện C, tỉnh Thanh Hóa (Giấy ủy quyền ngày 29/4/2004), vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Công ty cổ phần N, trụ sở chính, địa chỉ: Số 32, đường S, phường T, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn.

Người đại diện theo pháp luật bà Vy Thị T, chức vụ: Giám đốc

Người đại diện theo ủy quyền ông Lường Văn S, chức vụ: Nhân viên Công ty cổ phần N (Giấy ủy quyền số: 01/GUQ-NN ngày 02/5/2024).

Địa chỉ: Thôn Q, xã K, huyện B, tỉnh Lạng Sơn, vắng mặt.

  1. Ông Lý Văn H, địa chỉ: Thôn B, xã X, huyện B, tỉnh Lạng Sơn, vắng mặt.

- Người làm chứng

  1. Anh Nguyễn Duy H, sinh năm 1990, có mặt.
  2. Anh Nguyễn Tiến S, sinh năm 1963, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tháng 12/2023, Hoàng Minh T ký hợp đồng lái xe với Công ty cổ phần N địa chỉ: Số 32, đường S, phường T, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn. Khoảng 07 giờ 00 phút, ngày 11/4/2024, Hoàng Minh T nhận xe ô tô buýt Biển kiểm soát (BKS) 12B-003.17 của Công ty và điều khiển xe ô tô xuất phát từ bến xe p, thành phố L chở khách đi thị trấn D, huyện B, tỉnh Lạng Sơn, phụ xe đi cùng là Nguyễn Duy H. Đến khoảng 07 giờ 40 phút cùng ngày, Hoàng Minh T điều khiển xe tô tô đi trên QL4B, hướng thành phố L - thị trấn D đi đến Km14+200, thuộc địa phận thôn N, xã X, huyện B, tỉnh Lạng Sơn, lúc này phía trước đầu xe của Hoàng Minh T khoảng 10 mét có một xe ô tô tải chở rác BKS 12C- 068.86 do Nguyễn Tiến S điều khiển đang dừng ở sát lề đường bên phải để thu gom rác, quan sát phía trước là đoạn đường thẳng và không có phương tiện đi ngược chiều, Hoàng Minh T bật tín hiệu xi nhan và điều khiển xe ô tô sang phần đường bên trái theo chiều đi để vượt qua xe ô tô chở rác, đi tốc độ từ 53km/h đến 55km/h đi trên phần đường bên trái theo chiều đi. Khi xe ô tô do Hoàng Minh T điều khiển đang vượt lên, phần đầu xe buýt qua khỏi đầu xe ô tô chở rác khoảng 04 mét phát hiện xe máy điện không gắn BKS có số máy: ZW48V350WJS13121348, số khung: 201311160000210 do Nguyễn Thị L, điều khiển đi từ phần đường bên phải ngang qua đường hướng sang phần đường trái theo chiều đi của xe Hoàng Minh T. Khi xe máy điện do bà Nguyễn Thị L điều khiển đi đến giữa đường khu vực có vạch kẻ sơn màu vàng phần sườn xe bên phải phía trước ô tô va chạm với phần đầu, cạnh xe bên trái xe máy điện của bà Nguyễn Thị L. Khi va chạm bà Nguyễn Thị L bị ngã xuống đường, xe máy điện đổ nghiêng bên phải tại khu vực giữa đường, do xảy ra nhanh nên khi va chạm Hoàng Minh T mới bắt đầu giẫm phanh xe ô tô và cho xe đi vào sát lề đường bên phải theo chiều đi và dừng lại cách vị trí va chạm hơn 40 mét. Sau đó Hoàng Minh T cùng Nguyễn Duy H đưa bà Nguyễn Thị L đi cấp cứu tại Trung tâm y tế huyện B, sau đó chuyển đến Bệnh viện đa khoa tỉnh Lạng Sơn. Đến 21 giờ 30 phút cùng ngày, bà Nguyễn Thị L tử vong.

Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Lộc Bình đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, trưng cầu trung tâm pháp y tỉnh Lạng Sơn tiến hành khám nghiệm tử thi và tiến hành các biện pháp điều tra khác để thu thập tài liệu, chứng cứ. Kết quả như sau:

Hiện trường vụ tai nạn giao thông được xác định tại Km14 + 200, QL 4B thuộc địa phận thôn N, xã X, huyện B, tỉnh Lạng Sơn,

đoạn đường ngoài khu vực đông dân cư. Nơi xảy ra tai nạn là đoạn đường thẳng, tầm nhìn không bị che khuất, được mô tả theo chiều hướng thành phố L - huyện Đ. Mặt đường trải bê tông nhựa phẳng, mặt đường rộng 5,70m, ở giữa đường có vạch kẻ sơn màu vàng đứt đoạn phân chia thành hai chiều xe chạy, tâm vạch sơn cách mép đường trái 2,90m. Bên trái là đường rẽ vào đường tỉnh 241 (đi khu du lịch S) có tiếp tuyến rộng 24,30m. Lề đường phải là đất và cây cỏ rộng 1,20m, tại lề đường phải có cắm cột biển báo số W207c "Giao nhau với đường không ưu tiên" chân cột biển báo cách cột Km14+200, QL4B về hướng huyện Đ là 66m. Điểm mốc của vụ tai nạn giao thông là cột Km14+200, QL4B tại lề đường phải. Phía trước hiện trường chếch lề đường phải có biển báo W207C. Hiện trường được mô tả theo chiều hướng thành phố L → huyện Đ lấy mép đường bên trái làm chuẩn, các dấu vết, phương tiện được đánh số thứ tự như sau:

  • + Vị trí số 1: Xe ô tô BKS 12C-068.86 đỗ trên phần đường bên phải, đầu xe hướng huyện Đ, đuôi xe hướng thành phố L, trục bánh lốp phía sau bên phải cách mép đường phải 0,25m và cách điểm mốc hiện trường vụ tai nạn là 14,95m; trục bánh lốp phía trước bên phải cách mép đường phải 0,30m, cách điểm đầu tiếp tuyến đường tỉnh 241 hướng huyện Đ là 18,60m; trục bánh lốp phía sau bên trái cách mép đường trái là 4,20m, trục bánh lốp phía trước bên trái cách mép đường trái 4,50m.
  • + Vị trí số 2: Đa vết cày xước trên mặt đường diện (0,27m x 0,20m) điểm đầu vết (2) cách tâm trục bánh lốp phía trước bên trái xe ô tô BKS 12C-068.86 là 6,40m, cách mép đường chuẩn là 2,20m.
  • + Vị trí số 3: Xe máy điện không gắn biển kiểm soát có số máy ZW48V350WJS13121348 đổ nghiêng bên phải, đầu xe hướng huyện Đ, đuôi xe hướng thành phố L, tâm trục bánh lốp phía trước cách mép đường trái là 3,90m, tâm trục bánh lốp phía sau cách mép đường trái 4,20m và cách điểm đầu vết (2) là 1,05m.
  • + Vị trí số 4: Đa vết cày xước trên mặt đường diện (0,90m x 0,15m), có chiều hướng trượt theo hướng thành phố L - huyện Đ, đầu vết cách mép đường trái 4.70m và cách đầu vết (3) là 0,80m, cuối vết cách mép đường trái 4,60m.
  • + Vị trí số 5: Vùng chất dịch màu nâu đỏ trên mặt đường diện (0,60m x 0,50m) tâm vết (5) cách mép đường trái 2,90m và cách điểm cuối vết (4) là 1,90m.
  • + Vị trí số 6: Xe ô tô BKS 12B - 003.17 đỗ trên phần đường bên phải. Đầu xe hướng huyện Đ, đuôi xe hướng thành phố L. Tâm trục bánh lốp phía sau bên trái cách tâm vết (5) là 41,50m và cách mép đường trái 4,70m. Tâm trục bánh lốp phía trước bên trái cách mép đường trái 4,60m.

Mở rộng hiện trường về các hướng: Không phát hiện dấu vết liên quan đến tai nạn giao thông.

Kết quả khám phương tiện

- Dấu vết trên xe ô tô BKS 12B - 003.17 như sau:

  • +Cạnh ngoài bên phải đầu xe có vết mài trượt, bẹp lõm và bong tróc sơn diện (43cm x 14cm).
  • + Mặt ngoài bánh lốp phía trước bên phải có vết mài trượt màu đen diện (13cm x 10cm); đầu vết cách chân van 44cm.
  • + Sườn xe bên phải có vết mài sạch bụi diện (155cm x 32cm).

- Dấu vết trên xe máy điện không gắn biển kiểm soát có số máy ZW48V350WJS13121348 như sau:

  • + Đầu cần tay phanh bên phải gãy rời khỏi vị trí ban đầu diện (0,5cm x 01cm).
  • + Giỏ đựng đồ phía trước bẹp lõm, biến dạng xô lệch từ trái qua phải, từ trước về sau.
  • + Trục bánh lốp phía trước cong lệc từ trái qua phải, từ trước về sau.
  • + Đầu chắn bún trước có vết bẹp lõm, biến dạng diện (11cm x 7cm).
  • + Ống giảm sóc phía trước bên trái có vết mài xước diện (11cm x 5cm).
  • + Ốc bắt giữ ống giảm sóc phía trước bên trái có vết mài xước diện (1cm x 1cm). Bao quanh trục có vế mài trượt màu đen diện (11 cm x 5cm).
  • + Ốp nhựa bình ác quy bung bật khỏi vị trí cố định.

- Dấu vết trên xe ô tô BKS 12C-068.86 như sau: Không phát hiện dấu vết liên quan đến tai nạn giao thông.

Kết quả giám định tử thi: Tại Bản kết luận giám định tử thi số 13a/KLGĐTT-TTPY, ngày 15/4/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh Lạng Sơn đối với tử thi Nguyễn Thị L, kết luận: “Nguyên nhân chết của Nguyễn Thị L do chấn thương sọ não, vỡ lún xương hộp sọ vùng trán do tương tác với vật tày lực quản tính lớn”.

Kết quả giám định tình trạng an toàn kỹ thuật:

Tại Bản kết luận giám định kỹ thuật số 26/GĐKT-ĐK ngày 19/4/2024 của Công ty Cổ phần đăng kiểm xe cơ giới Lạng Sơn:

  • + Đối với xe ôtô BKS 12B - 003.17 xác định khi xảy ra tai nạn, các hệ thống an toàn của xe đầy đủ, hoạt động bình thường và đảm bảo an toàn kỹ thuật.
  • + Đối với xe máy điện xác định khi xảy ra tai nạn, các hệ thống an toàn của xe gắn máy đầy đủ, hoạt động bình thường và đảm bảo an toàn kỹ thuật.

Kết quả định giá tài sản: Tại Bản kết luận định giá tài sản số 13/KL-HĐĐGTS ngày 24/5/2024 của Hội đồng định giá TSTTHS kết luận: Giá trị các bộ phận bị thiệt hại của xe ôtô BKS 12B-003.17 là 600.000 đồng (Sáu trăm nghìn đồng). Xe máy điện không gắn biển kiểm soát bị thiệt hại là 890.000 đồng (Tám trăm chín mươi nghìn đồng).

Kết quả nồng độ cồn, chất ma túy

Tại bản kết luận hóa pháp số 924/PY-XNĐH ngày 25/4/2024 của Viện pháp y Quân Đội kết luận: “Không tìm thấy Ethanol và các chất ma túy trong mẫu máu của Nguyễn Thị L”.

Biên bản xét nghiệm chất ma túy hồi 16 giờ 00 phút ngày 11/4/2024 bằng que thử nhãn hiệu "Quick Test DOA Muli 4 Drug" đối với Hoàng Minh T cho kết quả âm tính với các chất ma túy. Biên bản kiểm tra nồng độ cồn hồi 16 giờ 05 phút ngày 11/4/2024 đối với Hoàng Minh T cho kết quả 0,000mg/L.

Tạm giữ đồ vật tài liệu; xử lý vật chứng:

- 01 (một) xe ô tô khách BKS 12B-003.17; nhãn hiệu BAHAI, màu sơn: Xanh, số máy DADDEJ578411, số khung 17PPFC909417, các giấy tờ liên quan đến xe ô tô và xe máy điện. Ngày 21/6/2024, xét thấy không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, Cơ quan điều tra quyết định xử lý một số vật chứng bằng hình thức trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp ông Lường Văn S 01 (một) xe ô tô khách BKS 12B-003.17; nhãn hiệu BAHAI, màu sơn: Xanh, số máy DADDEJ578411, số khung 17PPFC909417, xe cũ đã qua sử dụng; 01 (một) bản sao chứng thực giấy chứng nhận đẳng ký xe ô tô số 003934, cấp ngày 18/7/2015, đối với xe ô tô BKS 123-003.17, tên chủ xe Công ty cổ phần N; 01 (một) Giấy biên nhận thế chấp số 1112C/2023 đề ngày 11/12/2023 của Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam chi nhánh Lạng Sơn; 01 (một) Giấy chứng nhận kiểm định số 0174081, cấp ngày 17/01/2024 đối với xe ô tô BKS 12B-003.17; 01 (một) Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe ô tô số: [...] đối với xe ô tô BKS: 12B-003.17, có giá trị đến ngày 24/7/2024 là đúng quy định.

Hiện còn đang tạm giữ: 01 (một) Giấy phép lái xe hạng E số: [...], cấp ngày 02/11/2022, nơi cấp: Sở GTVT tỉnh Phú Thọ, giấy phép lái xe mang tên Hoàng Minh T; 01 (một) xe máy điện, màu sơn: trắng- đen, số máy: ZW48V350WJS13121348, số khung: 201311160000210, xe cũ đã qua sử dụng là xe bà Nguyễn Thị L.

Về dân sự: Hoàng Minh T đã tác động gia đình bồi thường toàn bộ thiệt hại cho gia đình Nguyễn Thị L tổng các khoản tiền là 120.000.000 đồng (một trăm hai mươi triệu đồng), gia đình Nguyễn Thị L đã nhận đủ tiền, không có yêu cầu, đề nghị gì thêm đồng thời có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho Hoàng Minh T.

Đối với thiệt hại của ô tô buýt BKS 12B-003.17 do thiệt hại không đáng kể nên Công ty cổ phần N không yêu cầu Hoàng Minh T phải bồi thường.

Bản Cáo trạng số 36/CT-VKSLB, ngày 23 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo Hoàng Minh T về tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ " theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa: Bị cáo Hoàng Minh T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã truy tố.

Người đại diện hợp pháp của bị hại: Chị Lý Thị H trình bày tại Cơ quan điều tra: Chị là con gái của bà Nguyễn Thị L do bố chị ông Lý Văn H không hiểu biết pháp luật nên ủy quyền cho chị đại diện gia đình giải quyết các vấn đề liên quan đến vụ tại nạn của bà Nguyễn Thị L. Chị trình bày: Ngày 11/4/2024 bà Nguyễn Thị L bị tai nạn giao thông khi chị đến hiện trường thì mẹ chị đã được đưa vào Trung tâm y tế huyện B cấp cứu, sau đó được chuyển đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lạng Sơn đến khoảng 21 giờ cùng ngày thì tử vong. Sau khi sự việc xảy ra gia đình Hoàng Minh T đã đến thăm hỏi động viên và thỏa thuận với gia đình các khoản chi phí tổng số tiền là 120.000.000 đồng (một trăm hai mươi triệu đồng). Gia đình đã nhận đủ số tiền, không có yêu cầu đề nghị gì thêm, có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Lý Văn H trình bày tại Cơ quan điều tra: Vợ ông là bà Nguyễn Thị L ngày 11/4/2024 đi xe máy điện bị tai nạn giao thông tại ngã ba S, chiếc xe máy điện này bà Nguyễn Thị L ra thành phố L mua nhưng không làm giấy tờ gì, chiếc xe này hiện nay Công an huyện đang tạm gữi sau khi bị tai nạn xe đã bị hư hỏng ông Lý Văn H có đơn không nhận lại chiếc xe máy điện đề nghị giải quyết theo quy định.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Lường Văn S người đại diện theo ủy quyền của Công ty cổ phần N trình bày tại cơ quan điều tra: Hoàng Minh T là lái xe của Công ty sáng ngày 11/4/2024 nhận xe của Công ty chở khách đi trên QL4B, hướng thành phố L - thị trấn D đi đến Km14+200, thuộc địa phận thôn N, xã X, huyện B, tỉnh Lạng Sơn xảy ra tai nạn giao thông, xe ô tô của Công ty bị hư hỏng không đáng kể phía Công ty không yêu cầu Hoàng Minh T phải bôi thường thiệt hại. Công ty có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho Hoàng Minh T.

Người làm chứng: Anh Nguyễn Duy H trình bày tại cơ quan điều tra và phiên tòa: Khoảng 07 giờ 00 phút, ngày 11/4/2024, Hoàng Minh T điều khiển xe ô tô buýt Biển kiểm soát (BKS) 12B-003.17 xuất phát từ bến xe p, thành phố L để chở khách hướng thành phố L - thị trấn D, huyện B, tỉnh Lạng Sơn anh là phụ xe Hoàng Minh T. Đến khoảng 07 giờ 40 phút cùng ngày xe đi đến Km14+200, thuộc địa phận thôn N, xã X, huyện B, tỉnh Lạng Sơn, Hoàng Minh T điều khiển xe tránh xe ô tô thu gom rác thải và bật tín hiệu vượt lên thì va chạm giao thông với bà Nguyễn Thị L, lúc xảy ra va chạm anh đứng ở cuối xe không nhìn thấy chỉ nghe tiếng khách hô tai nạn rồi. Sau khi sự việc xảy ra anh và Hoàng Minh T đưa nạn nhân đi cấp cứu tại Trung tâm y tế huyện B.

Người làm chứng: Anh Nguyễn Tiến S trình bày tại cơ quan điều tra. Khoảng 07 giờ 30 phút, ngày 11/4/2024 anh lái xe biển kiểm soát 12C 068.86 đang dừng xe để thu gom rác thải tại thôn N, xã X, huyện B, tỉnh Lạng Sơn (gần ngã ba S) thấy một người phụ nữ điều khiển xe máy điện qua đường thấy xe ô tô buýt vượt bên trái xe của anh thì va chạm với xe máy điện của người phụ nữ điều khiển. Sau khi va chạm phụ xe buýt và lái xe buýt cùng ba người dân đưa người phụ nữ vào Trung tâm y tế huyện B cấp cứu.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hoàng Minh T phạm tội: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 50, Điều 65 Bộ luật Hình sự; đề nghị xử phạt bị cáo Hoàng Minh T từ 15 đến 18 tháng tù cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách theo quy định. Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 260 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.

Về dân sự: Gia đình bị cáo và gia đình bị hại đã thỏa thuận bồi thường các khoản chi phí tổng số tiền là 120.000.000 đồng (một trăm hai mươi triệu đồng) đã bồi thường xong, không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.

Về vật chứng: Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, trả cho bị cáo 01 (một) Giấy phép lái xe hạng E số: [...], cấp ngày 02/11/2022, nơi cấp: Sở GTVT tỉnh Phú Thọ, mang tên Hoàng Minh T.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Trong phần tranh luận bị cáo không có ý kiến tranh luận. Nói lời sau cùng, bị cáo nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về thủ tục tố tụng: Người đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Thị L, người đại diện theo ủy quyền của Công ty cổ phần N, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Lý Văn H, người làm chứng anh Nguyễn Tiến S đã có đơn xin xét xử vắng mặt, đã có lời khai tại hồ sơ vụ án. Xét thấy, việc vắng mặt những người này không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại các Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
  2. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa những người tham gia tố tụng không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã được thực hiện hợp pháp.
  3. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, biên bản khám nghiệm, sơ đồ tại hiện trường; bản kết luận giám định pháp y về tử thi và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 07 giờ 40 phút ngày 11/4/2024, Hoàng Minh T điều khiển xe tô tô buýt Biển kiểm soát (BKS) 12B-003.17 đi trên QL4B, hướng thành phố L - thị trấn D đi đến Km14+200, thuộc địa phận thôn N, xã X, huyện B, tỉnh Lạng Sơn, phía trước đầu xe của Hoàng Minh T khoảng 10 mét có một xe ô tô tải chở rác BKS 12C-068.86 đang dừng ở sát lề đường bên phải để thu gom rác, quan sát phía trước là đoạn đường thẳng, không có phương tiện đi ngược chiều, Hoàng Minh T bật tín hiệu xi nhan và điều khiển xe ô tô sang phần đường bên trái theo chiều đi để vượt qua xe ô tô chở rác, tốc độ từ 53km/h đến 55km/h. Khi xe ô tô do Hoàng Minh T điều khiển đang vượt lên, phần đầu xe buýt qua khỏi đầu xe ô tô chở rác khoảng 04 mét thì phát hiện xe máy điện do Nguyễn Thị L điều khiển đi từ phần đường bên phải ngang qua đường. Khi xe máy điện do bà Nguyễn Thị L điều khiển đi đến giữa đường thì phần sườn xe bên phải phía trước ô tô va chạm với phần đầu, cạnh xe bên trái xe máy điện của bà Nguyễn Thị L. Hậu quả bà Nguyễn Thị L tử vong, xe máy điện, xe ô tô buýt bị hư hỏng. Hành vi trên của bị cáo Hoàng Minh T đã cấu thành tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
  4. Xét tính chất, mức độ, hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo có giấy phép lái xe ô tô theo quy định của pháp luật nhưng khi tham gia giao thông bị cáo không chấp hành đúng quy định điều khiển xe ô tô vượt phương tiện khác đã thiếu quan sát, khi không đảm bảo an toàn dẫn đến xảy ra tai nạn giao thông. Hành vi của Hoàng Minh T đã vi phạm quy định tại khoản 2, Điều 14 Luật giao thông đường bộ "Điều 14. Vượt xe... 2. Xe xin vượt chỉ được vượt khi không có chướng ngại vật phía trước, không có xe chạy ngược chiều trong đoạn đường định vượt, xe chạy trước không có tin hiệu vượt xe khác và đã tránh về bên phải". Ngoài ra bị cáo điều khiển xe ô tô đi qua khu vực đoạn đường có biển cảnh báo nguy hiểm giao nhau với đường không ưu tiên bị cáo đã không chủ động giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn dẫn đến xảy ra va chạm với xe máy điện do Nguyễn Thị L điều khiển đã vi phạm quy định tại khoản 1, Điều 5 thông tư số: 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ giao thông vận tải quy định. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được khi tham gia giao thông phải chấp hành đúng quy định của pháp luật, nhưng bị cáo không chấp hành đúng quy định đã xảy ra tai nạn giao thông. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, vô ý gây thiệt hại về tính mạng và tài sản của người khác. Do vậy, hành vi phạm tội của bị cáo cần được xử lý theo quy định của pháp luật mới đảm bảo tính nghiêm minh đồng thời có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
  5. Về nhân thân, tình tiết tặng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo chưa bị xử lý trách nhiệm hình sự, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật là người có nhân thân tốt; quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại các khoản chi phí cho gia đình bị hại tổng số tiền là 120.000.000 đồng (một trăm hai mươi triệu đồng) đã bồi thường xong, gia đình bị hại, Công ty cổ phần N có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, tại địa phương bị cáo ủng hộ quỹ thiên tai năm 2024. Bị cáo có bà nội là Phạm Thị Hồng N được tổng Công ty than Nội địa tặng thưởng huy hiệu thợ mỏ vẻ vang ngành than hạng nhất, hạng nhì; mẹ vợ bị cáo bà Tô Thị H1 là người có công với cách mạng được Nhà nước tặng huy chương kháng chiến hạng nhì, huân chương chiến công hạng ba, huân chương chiến sĩ vẻ vang, tai nạn xảy ra một phần do lỗi bị hại. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
  6. Hình phạt chính: Xét về tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo cần có hình phạt tương xứng với hành vi mà bị cáo gây ra mới đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật. Nhưng xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, ngoài lần phạm tội này bị cáo luôn tôn trọng các quy tắc xã hội, chấp hành đúng chính sách pháp luật, không vi phạm các điều cấm của pháp luật, có nơi cư trú, cụ thể rõ ràng; bị cáo có khả năng tự cải tạo nếu không bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù thì không ảnh hưởng đến cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm. Theo Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì bị cáo đủ điều kiện để hưởng án treo chưa cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian nhất định là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo gây ra.
  7. Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 260 Bộ luật Hình sự quy định, người phạm tội có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm. Biên bản xác minh và tại phiên tòa bị cáo trình bày lái xe là nghề nghiệp chính, ngoài nghề lái xe bị cáo không có nghề nào khác, sự việc xảy ra một phần do lỗi của bị hại. Do vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung cấm hành nghề lái xe đối với bị cáo.
  8. Về trách nhiệm dân sự: Gia đình bị cáo đã thỏa thuận bồi thường các khoản thiệt hại tổng số tiền 120.000.000 đồng (một trăm hai mươi triệu đồng) đã bồi thường xong, gia định bị hại không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  9. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lý Văn H là chồng của bà Nguyễn Thị L là chủ sở hữu xe máy điện, màu sơn: trắng- đen, số máy: ZW48V350WJS13121348, số khung: 201311160000210, xe cũ đã qua sử dụng. Quá trình xác minh tại gia đình bà Nguyễn Thị L xác định không rõ xe máy điện bà Nguyễn Thị L mua ở đâu, không có giấy tờ chứng minh nguồn gốc. Tra cứa trên hệ thống dữ liệu đăng ký xe có số khung, số máy trên chưa được đăng ký trên hệ thống đăng ký xe của Cục C08, Bộ Công an. Do đó, chưa đủ căn cứ để xác định chủ sở hữu hợp pháp của xe máy điện trên, Cơ quan điều tra đã ra thông báo tìm chủ sở hữu phương tiện trên phương tiện thông tin đại chúng, tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa xác định chủ sở hữu hợp pháp của xe mô tô nên Cơ quan điều tra tách vật chứng nêu trên để tiếp tục xác minh khi có căn cứ sẽ xử lý sau. Hội đồng xét xử không xem xét.
  10. Đối với Nguyễn Thị L, điều khiển xe máy điện không cần giấy phép lái xe theo quy định. Nhưng khi điều khiển xe máy điện qua đường đã không quan sát các xe đi tới, qua đường khi chưa đảm bảo an toàn dẫn đến xảy ra tai nạn giao thông. Hành vi của Nguyễn Thị L đã vi phạm quy định tại khoản 2, Điều 15 Luật giao thông đường bộ "Điều 15. Chuyển hướng xe 2. Trong khi chuyển hướng, người lái xe, người điều khiển xe máy chuyên dùng phải nhường quyền đi trước cho người đi bộ, người đi xe đạp đang đi trên phần đường dành riêng cho họ, nhường đường cho các xe đi ngược chiều và chỉ cho xe chuyển hướng khi quan sát thấy không gây trở ngại hoặc nguy hiểm cho người và phương tiện khác". Tuy nhiên, Nguyễn Thị L đã chết nên không đặt vấn đề xử lý.
  11. Đối với xe ô tô chở rác BKS 12C - 068.86 lái xe là Nguyễn Tiến S, thời điểm xảy ra vụ tai nạn đang dừng đỗ xe tại sát mép đường bên phải hướng thành phố L - huyện Đ, việc dừng đỗ xe chấp hành đúng quy định của pháp luật nên không có lỗi.
  12. [13] Về vật chứng: Ngày 21/6/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn đã ra quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả cho ông Lường Văn S 01 (một) xe ô tô khách BKS 12B-003.17; nhãn hiệu BAHAI, màu sơn: Xanh, số máy DADDEJ578411, số khung 17PPFC909417, xe cũ đã qua sử dụng; 01 (một) bản sao chứng thực giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 003934, cấp ngày 18/7/2015, đối với xe ô tô BKS 123-003.17, tên chủ xe Công ty cổ phần N; 01 (một) Giấy biên nhận thế chấp số 1112C/2023 đề ngày 11/12/2023 của Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam chi nhánh Lạng Sơn; 01 (một) Giấy chứng nhận kiểm định số 0174081, cấp ngày 17/01/2024 đối với xe ô tô BKS 12B-003.17; 01 (một) Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe ô tô số: [...] đối với xe ô tô BKS: 12B-003.17, có giá trị đến ngày 24/7/2024 là đúng quy định Hội đồng xét xử không xem xét; đối với 01 (một) Giấy phép lái xe hạng E số: [...], cấp ngày 02/11/2022, nơi cấp: Sở GTVT tỉnh Phú Thọ, giấy phép lái xe mang tên Hoàng Minh T không liên quan đến hành vi phạm tội, căn cứ điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự trả cho bị cáo Hoàng Minh T.
  13. [14] Đối với 01 (một) xe máy điện, màu sơn: trắng- đen, số máy: ZW48V350WJS13121348, số khung: 201311160000210, xe cũ đã qua sử dụng là xe bà Nguyễn Thị L điều khiển khi xảy ra tai nạn. Quá trình xác minh tại gia đình bà L xác định không rõ xe máy điện bà L mua ở đâu, không có giấy tờ chứng minh nguồn gốc. Tra cứa trên hệ thống dữ liệu đăng ký xe có số khung, số máy trên chưa được đăng ký trên hệ thống đăng ký xe của Cục C08, Bộ Công an. Do đó, chưa đủ căn cứ để xác định chủ sở hữu hợp pháp của xe máy điện trên, Cơ quan điều tra đã ra thông báo tìm chủ sở hữu phương tiện trên phương tiện thông tin đại chúng đến nay vẫn chưa xác định chủ sở hữu hợp pháp của xe mô tô nên Cơ quan điều tra tách vật chứng nêu trên để tiếp tục xác minh khi có căn cứ sẽ xử lý sau. Do vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.
  14. [15] Về án phí: Bị cáo Hoàng Minh T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
  15. [16] Xét đề nghị của đại diện của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật được Hội đồng xét xử chấp nhận.
  16. [17] Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 50; khoản 1, 2 và 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 292, Điều 293, Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12- 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Minh T phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Hoàng Minh T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 (ba) năm, thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 13/8/2024.

Giao bị cáo Hoàng Minh T cho Uỷ ban nhân dân thị trấn D, huyện B, tỉnh Lạng Sơn là nơi cư trú của bị cáo để giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  1. Về vật chứng: Trả cho bị cáo 01 (một) Giấy phép lái xe hạng E số: [...], cấp ngày 02/11/2022, nơi cấp: Sở GTVT tỉnh Phú Thọ, giấy phép lái xe mang tên Hoàng Minh T.

(Vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện B, tỉnh Lạng Sơn theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 24 tháng 8 năm 2024).

  1. Về án phí: Bị cáo Hoàng Minh T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.
  2. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lạng Sơn;
  • - VKSND tỉnh Lạng Sơn;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Lạng Sơn;
  • - VKSND huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn;
  • - Công an huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn;
  • - CQTHAHS CA h.Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn;
  • - CCTHADS huyện B, tỉnh Lạng Sơn;
  • - Bị cáo; người đại diện bị hại;
  • - Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Thị Ngọc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 39/2024/HS-ST ngày 20/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC BÌNH, TỈNH LẠNG SƠN về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 39/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC BÌNH, TỈNH LẠNG SƠN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Minh T phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ. 2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Hoàng Minh T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 (ba) năm, thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 13/8/2024.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger