|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HƯNG YÊN TỈNH HƯNG YÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 39/2024/HS-ST
Ngày: 20 - 5 - 2024.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HƯNG YÊN - TỈNH HƯNG YÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Kim Anh.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Bích Thu; Bà Nguyễn Thị Bá Thiệp.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hưng Yên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hưng Yên tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Yến - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 5 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Hưng Yên, mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 35/2024/TLST-HS ngày 25/4/2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2024/QĐXXST-HS ngày 06/5/2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Bùi Văn T (tên gọi khác: Không), sinh năm 1975. Nơi cư trú: Đ, khu phố K, phường L, thành phố H, tỉnh Hưng Yên. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 02/12. Dân tộc: Kinh. Giới tính: Nam. Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Bùi Văn T1 và bà Nguyễn Thị T2. Gia đình bị cáo có 08 anh chị em, bị cáo là con út trong gia đình. Vợ là Nguyễn Thị X. Bị cáo có 03 con, con lớn sinh năm 1996, con nhỏ sinh năm 2004. Tiền án, tiền sự: Chưa.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 29/01/2024. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H. Có mặt tại phiên tòa.
Người làm chứng: Ông Mai Văn T3, sinh năm 1966. Trú tại: Thôn C, xã B, thành phố H, tỉnh Hưng Yên. Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ 15 phút ngày 29/01/2024 Bùi Văn T đi bộ một mình từ nhà đến khu vực đê thuộc xã B, thành phố H mục đích mua ma túy để sử dụng. Tại đây, T nhìn thấy 01 người đàn ông không biết tên, tuổi, địa chỉ khoảng 40 tuổi, trông dáng giống người nghiện ma túy nên T đi đến nói chuyện thì được biết người này có bán ma túy. Thỏa đưa 300.000 đồng cho người đàn ông và T bảo người này bán Heroine cho T. Người đàn ông cầm tiền rồi đưa lại cho T 02 gói nhỏ bằng giấy ô ly có dòng kẻ. Thỏa mở 02 gói giấy ra xem thì thấy bên trong đều có chứa chất màu trắng dạng cục, bột. Do trước đây T đã sử dụng ma túy nên T xác định được là H. Thỏa gói 02 gói ma túy lại rồi cầm trên tay trái để đi tìm nơi sử dụng còn người đàn ông bỏ đi đâu T không biết. Khi T đi đến khu vực đường T, xã B, thành phố H thì bị tổ công tác Công an xã H, thành phố H phối hợp với công an xã B, thành phố H kiểm tra thu giữ trong lòng bàn tay trái của T 02 gói ma túy. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong 02 gói ma túy và đưa T về trụ sở để làm việc.
Kết luận giám định số 222/KL-KTHS ngày 01/02/2024 của Phòng K - Công an tỉnh H, kết luận: Chất màu trắng dạng cục và bột trong niêm phong có khối lượng là 0,374g là ma túy loại Heroine.
Về xử lý vật chứng: 01 phong bì niêm phong ghi số 222/KL-KTHS của Phòng K Công an tỉnh H, bên trong có 0,356g ma túy loại H; 02 mảnh giấy gói ma túy và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định
Quá trình điều tra, Bùi Văn T đã thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội như nêu trên phù hợp với vật chứng thu giữ, người làm chứng và các tài liệu thu thập có trong hồ sơ.
Tại bản Cáo trạng số 38/CT-VKS-TPHY ngày 24/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hưng Yên đã truy tố Bùi Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo không thắc mắc nội dung bản cáo trạng, thành khẩn khai nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của mình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hưng Yên: Giữ nguyên nội dung bản Cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Bùi Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tuyên phạt bị cáo từ 01 năm 09 tháng đến 02 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ; Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự. Điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong số 222/KL-KTHS(MT) bên trong có 0,356g ma túy loại Heroine; 02 mảnh giấy gói ma túy; 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hưng Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Vì vậy các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, cùng các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa, đã có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 13 giờ 15 phút ngày 29/01/2024 tại đường liên thôn thuộc khu vực thôn C, xã B, thành phố H, tỉnh Hưng Yên, Bùi Văn T có hành vi tàng trữ trái phép 0,374g Heroine nhằm mục đích sử dụng thì bị bắt quả tang. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hưng Yên truy tố bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự là đúng, không bị oan sai.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo thật thà, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, sẽ được Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[4] Về hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây mất trật tự trên địa bàn, góp phần làm cho tệ nạn ma túy tại địa phương ngày càng gia tăng. Đây là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe và hạnh phúc gia đình của chính bị cáo. Bản thân bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng để thỏa mãn nhu cầu của bản thân bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là lao động tự do thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng: 01 phong bì niêm phong số 222/KL-KTHS(MT) bên trong có 0,356 gam ma túy loại Heroine là vật cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy. 02 mảnh giấy; 01 vỏ phong bì niêm phong dùng để gói và đựng ma túy không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[8] Đối với người đàn đã mua ma túy cho bị cáo. Bị cáo không biết tên tuổi thật, địa chỉ cụ thể, việc mua ma túy không có ai chứng kiến sự việc. Do đó cơ quan điều tra không xác định được người đàn ông đã bán ma túy là ai nên không có căn cứ để xác minh, xử lý là đúng quy định của pháp luật, nên HĐXX không xem xét.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Điểm a, c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.
[1] Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
[2] Xử phạt: Bị cáo Bùi Văn T 01 năm 09 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 29/01/2024.
[3] Về vật chứng: Tịch thu và tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong số 222/KL-KTHS(MT) bên trong có 0,356 gam ma túy loại Heroine; 02 mảnh giấy; 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định
(Vật chứng trên có đặc điểm, trọng lượng theo Quyết định chuyển vật chứng số 34 ngày 24/4/2024 của Viện kiểm sát thành phố H)
[4] Về án phí: Bị cáo Bùi Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[5] Về quyền kháng cáo: Bị cáo Bùi Văn T được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Vũ Thị Kim Anh |
Bản án số 39/2024/HS-ST ngày 20/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HƯNG YÊN - TỈNH HƯNG YÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 39/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HƯNG YÊN - TỈNH HƯNG YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bùi Văn T tàng trữ ma túy
