TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH TỈNH CÀ MAU | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 39/2024/DS-ST Ngày 19-4-2024 V/v tranh chấp hợp đồng góp hụi |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Ông Võ Quốc Văn
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hồ Lệ Hoa
- Ông Nguyễn Tấn Lộc
- - Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Phượng Kiều là Thư ký Tòa án của Toà án nhân dân huyện Thới Bình.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Võ Hồng Quân - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thới Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 53/2024/TLST – DS ngày 12 tháng 3 năm 2024 về tranh chấp hợp đồng góp hụi theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 84/2024/QĐXX - ST ngày 28 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Trần Thị L, sinh năm 1972 (có mặt)
Bị đơn: Anh Đặng Văn G, chị Đỗ Thị M (vắng mặt)
Cùng địa chỉ cư trú: Ấp B, xã T, T, Cà Mau;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 8-3-2024 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Trần Thị L trình bày:
Bà L là chủ hụi còn anh G, chị M là hụi viên có hợp đồng góp hụi như sau:
Dây hui mở ngày 02/03/2020 âm lịch, loại hụi 2.000.000 đồng, mỗi tháng khui một lần, có 22 người chơi, vợ chồng anh G, chị M tham gia 02 chân hụi. Ghi tên “Vào” là tên tay em chơi hụi. Anh G và chị M đã hốt hết cả hai chân hụi: Chân thứ nhất hốt hốt ở kỳ thứ 5 và chân thứ hai hốt ở kỳ thứ 8. Sau khi hốt anh G, chị M có đóng hụi chết cho cả hai chân hụi được số tiền 32.500.000 đồng rồi ngưng luôn không chịu đóng hụi chết cho bà L, tính đến nay hụi đã mãm gần 02 năm, bà nhiều lần liên lạc với vợ chồng anh G, chị M nhưng anh chị vẫn không thanh toán nợ cho bà L. Tổng số hai chân hụi vợ chồng anh G, chị M còn nợ bà L số tiền 27.500.000 đồng (hai mươi bảy triệu năm trăm nghìn đồng).
Vì vậy, bà L yêu cầu Tòa án giải quyết buộc vợ chồng anh Đặng Văn G, chị Đỗ Thị M phải trả cho bà tổng số tiền hụi chết còn nợ trong hai chân hụi là 27.500.000₫ (hai mươi bảy triệu năm trăm nghìn đồng).
Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp cho anh Đặng Văn G, chị Đỗ Thị M1 nhưng anh, chị không có ý kiến.
Tại phiên tòa hôm nay:
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà L đối với anh G, chị M. Buộc anh G, chị M có nghĩa vụ liên đới thanh toán cho bà L số tiền hụi còn nợ là 27.500.000 đồng (hai mươi bảy triệu năm trăm nghìn đồng), về án phí bị đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng:
Theo quy định tại khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, việc tranh chấp giữa các đương sự nêu trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình.
Anh G, chị M đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa dân sự sơ thẩm lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự này.
Về nội dung tranh chấp:
- Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Giữa bà L với anh G, chị M có hợp đồng góp hụi với nhau. Các đương sự tham gia góp hụi trên cơ sở tự nguyện. Vì vậy giao dịch về hụi giữa các đương sự nói trên là hợp pháp.
- Quá trình góp hụi anh G, chị M có tham gia góp hụi với bà L 02 chân trong một dây hụi, cụ thể:
Dây hui mở ngày 02/03/2020 âm lịch, loại hụi 2.000.000 đồng, mỗi tháng khui 01 lần, có 22 người chơi, vợ chồng anh G, chị M tham gia 02 chân hụi. Ghi tên “Vào” là tên tay em chơi hụi. Chân thứ nhất: Vợ chồng anh G, chị M hốt ở kỳ thứ 5, chân thứ hai hốt ở kỳ thứ 8. Sau khi hốt hụi vợ chồng anh G, chị M có đóng hụi chết cho cả hai chân hụi được số tiền 32.500.000 đồng, tính đến nay hụi đã mãn gần 02 năm. Tổng số tiền hụi vợ chồng anh G, chị M còn nợ bà L hai chân hụi là 27.500.000 đồng (hai mươi bảy triệu năm trăm nghìn đồng).
Tại biên bản ghi lời khai người làm chứng ngày 27/3/2024 (BL19) bà Trần Thị B mẹ của anh G xác định có nghe anh G, chị M nói với bà là còn nợ hụi bà L số tiền 27.500.000 đồng chưa thanh toán. Anh G, chị M góp hụi trong thời kỳ hôn nhân. Từ những cơ sở trên và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu khởi kiện của bà L là có cơ sở chấp nhận nên buộc anh Đặng Văn G, chị Đỗ Thị M có nghĩa vụ liên đới thanh toán cho bà Trần Thị L số tiền hụi còn nợ là 27.500.000 đồng (hai mươi bảy triệu năm trăm nghìn đồng). Bà L không yêu cầu tính lãi nên không xem xét.
Kể từ ngày bà L có đơn yêu cầu thi hành án nếu anh G, chị M chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ cho bà L thì phải chịu lãi suất chậm trả theo khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.
- Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Do chấp nhận yêu cầu của bà L nên bà L không phải chịu tiền án phí, số tiền nộp tạm ứng án phí bà L được nhận lại. anh G, chị M phải chịu án phí số tiền 1.375.000 đồng = (27.500.000 đồng x 5%).
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ nêu trên,
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng các Điều 471, 468 của Bộ luật dân sự; Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị L đối với anh Đặng Văn G, chị Đỗ Thị M về thanh toán nợ hụi. Buộc anh Đặng Văn G, chị Đỗ Thị M có nghĩa vụ liên đới thanh toán cho bà Trần Thị L số tiền hụi còn nợ là 27.500.000 đồng (hai mươi bảy triệu năm trăm nghìn đồng). Bà L không yêu cầu tính lãi nên không xem xét.
Kể từ ngày bà L có đơn yêu cầu thi hành án nếu anh G, chị M chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ cho bà L thì phải chịu lãi suất chậm trả theo khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Ngày 12/3/2024 bà Trần Thị L nộp tạm ứng án phí số tiền 688.000 đồng (sáu trăm tám mươi tám nghìn đồng), theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0016042 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thới Bình được nhận lại.
Anh Đặng Văn G, chị Đỗ Thị M phải chịu số tiền 1.375.000 đồng (một triệu ba trăm bảy mươi lăm nghìn đồng)
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bà L được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh G, chị M được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được nhận hoặc được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Võ Quốc Văn |
Bản án số 39/2024/DS-ST ngày 19/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hợp đồng góp hụi
- Số bản án: 39/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng góp hụi
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/04/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Áp dụng các Điều 471, 468 của Bộ luật dân sự; Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. [1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Loan đối với anh Đặng Văn Giàu, chị Đỗ Thị Mừng về thanh toán nợ hụi. Buộc anh Đặng Văn Giàu, chị Đỗ Thị Mừng có nghĩa vụ liên đới thanh toán cho bà Trần Thị Loan số tiền hụi còn nợ là 27.500.000 đồng (hai mươi bảy triệu năm trăm nghìn đồng). Bà Loan không yêu cầu tính lãi nên không xem xét. Kể từ ngày bà Loan có đơn yêu cầu thi hành án nếu anh Giàu, chị Mừng chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ cho bà Loan thì phải chịu lãi suất chậm trả theo khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự. [2] Về án phí dân sự sơ thẩm: Ngày 12/3/2024 bà Trần Thị Loan nộp tạm ứng án phí số tiền 688.000 đồng (sáu trăm tám mươi tám nghìn đồng), theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0016042 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thới Bình được nhận lại. Anh Đặng Văn Giàu, chị Đỗ Thị Mừng phải chịu số tiền 1.375.000 đồng (một triệu ba trăm bảy mươi lăm nghìn đồng) [3] Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
