|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ THỌ TỈNH PHÚ THỌ Bản án số: 39/2024/HSST Ngày 18/7/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc. |
NHÂN DANH
NÓC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ THỌ, TỈNH PHÚ THỌ
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà : Bà Trần Thị Lệ T
- Các hội thẩm nhân dân :
- Bà Trần Thị Mai D;
- Ông Thái Quang T1.
- Thư ký toà án ghi biên bản phiên toà : Bà Đinh Thị Thu H — Thư ký Toà án nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ .
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã P tham gia phiên toà: Bà Hà Thị Thu H1- Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 7 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ - tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 40/2024/HSST ngày 10/6/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2024/QĐXXST-HS ngày 08/7/2024, đối với các bị cáo:
1. Đỗ Văn T2; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 10/01/1971, tại thị xã P, tỉnh Phú Thọ; Nơi cư trú: KDC N, phường Â, thị xã P, tỉnh Phú Thọ; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 04/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Đảng, đoàn: Không; Con ông: Đỗ Trọng C (đã chết); Con bà: Phùng Thị T3 (đã chết); Vợ: Hà Thị Kim T4, sinh năm 1975 (đã ly hôn); Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 1995, con nhỏ sinh năm 2006 . Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, Hiện đang tại ngoại tại phường Â, thị xã P, tỉnh Phú Thọ. Hôm nay có mặt tại phiên toà .
2. Vi Thị C1; Giới tính: Nữ; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 20/10/1979, tại thị xã P, tỉnh Phú Thọ; Nơi cư trú: KDC N, phường Â, thị xã P, tỉnh Phú Thọ. Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 04/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Đảng đoàn: Không; Con ông: Vi Văn Đ; (đã chết); Con bà: Lê Thị L; Sinh năm 1957; Chồng: Vũ Ngọc L1; sinh năm 1978; Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2003, con nhỏ sinh năm 2007. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, Hiện đang tại ngoại tại phường Â, thị xã P, tỉnh Phú Thọ. Hôm nay có mặt tại phiên toà .
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau :
Vào hồi 20 giờ 00 phút ngày 18/01/2024, tại trụ sở Công an tỉnh P, Cơ quan CSĐT tiếp nhận Vi Thị C1, sinh năm 1979, trú tại KDC N, phường Â, thị xã P, tỉnh Phú Thọ đến tự thú và hồi 21 giờ 30 phút cùng ngày Đỗ Văn T2, sinh năm 1971, trú tại KDC N, phường Â, thị xã P, tỉnh Phú Thọ đến đầu thú về hành vi “Đánh bạc” dưới hình thức mua bán số lô, số đề với nhau.
Tại Cơ quan điều tra, Vi Thị C1 tự nguyện giao nộp 01 Điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A73 5G, vỏ màu xanh, số IMEI 1: 352828294681182, số IMEI 2: 354462614681181, bên trong có gắn sim có số 0973130378. Tiến hành kiểm tra khai thác dữ liệu điện thoại, xác định ngày 18/01/2024, Vi Thị C1 nhắn tin qua ứng dụng Zalo để mua các số lô, số đề với Đỗ Văn T2. Cụ thể như sau:
- Tại ứng dụng Z, Vi Thị C1 sử dụng tài khoản Zalo có tên “Vi Chung”, số điện thoại đăng ký tài khoản Zalo là +84 856.304.144 để gửi các tin nhắn mua số lô, số đề đến tài khoản Zalo có tên “Dovantien”, có số điện thoại đăng ký tài khoản Zalo là 0944.631.588 của Đỗ Văn T2. Các tin nhắn được lưu trữ tại thư mục “Tin nhắn ẩn” trên ứng dụng Zalo, mật khẩu đăng nhập là “2010”.
- Tin nhắn 1: “Lô 59.95.mc 5d; Lô 14.41.mc 5d; Lô 69.96.mc 50d; Lô 45.54.88.mc 5d". Tổng số tiền Vi Thị C1 mua số lô, số đề của T2 trong tin nhắn này là 2.970.000 đồng.
- Tin nhắn 2: “Đề con rì a; Lô 12.21.mc 5d”. Tổng số tiền Vi Thị C1 mua số lô, số đề của T2 trong tin nhắn này là 220.000 đồng.
- Tin nhắn 3: “Lô 57.75.56.65.06.23.32.mc 2d; Lô 04.40.89.68.86.mc 2d” Tổng số tiền Vi Thị C1 mua số lô, số đề của T2 trong tin nhắn này là 528.000 đồng.
- Tin nhắn 4: “Đề 12 21. 86. 68. 46. 64. 19. 69. 09. 59. 79. 89. 89. 99. 49. 02. 52. 26. 62. 26. 21. 12. 62. 12. 21. 61. 11. 15. 51. 15. mc 50n; cap A. 24. 09. 01. 00. 14. 23. mc 400n”. Tổng số tiền Vi Thị C1 mua số lô, số đề của T2 trong tin nhắn này là 4.300.000 đồng.
- Tin nhắn 5: “76. 200n 01. 100n 51. 200n 15. 100n; 26. 21. 86. 81. 28. 82. 03. 35. 53. 79. 47. 74. 55. 56. 06. 01. 10. 51. 45. 54. 04. 40. 89. 43. 89. 59. 95. 56. 65. 56. mc 50n”. Tổng số tiền Vi Thị C1 mua số lô, số đề của T2 trong tin nhắn này là 2.100.000 đồng.
- Tin nhắn 6: “Tổng 6.500n; 79. 47. 74. 56 .65. 97. 59. 09. 02. 25. 52. 25. 20. 02. 28. 82. 38. 83. 88. 73. 72. 27. 77. 22. 79. 97. 78. 87. 08. 80. 58. 85. 59. 04. 40. mc 50n. 59. 09. mc 100n”. Tổng số tiền Vi Thị C1 mua số lô, số đề của T2 trong tin nhắn này là 2.450.000 đồng.
- Tin nhắn 7: “Cạp 13. 400n; cạp 11. 200n; cạp 02. 400n; 16. 17. 71. 36. 63. 36. 31. 81. 56. 65. 01. 10. 46. 41. 24. 42. 64. 45. 54. 04. 40. mc 50n”. Tổng số tiền Vi Thị C1 mua số lô, số đề của T2 trong tin nhắn này là 2.050.000 đồng.
- Tin nhắn 8: “Cạp 08.400n 08.80.58.85. mc 100n”. Tổng số tiền Vi Thị C1 mua số lô, số đề của T2 trong tin nhắn này là 800.000 đồng.
Sau khi nhận được tin nhắn mua số lô, số đề của Vi Thị C1 thì Đỗ Văn T2 sẽ trả lời đồng ý bằng cách gửi tin nhắn “ok” cho C1.
Số tiền Vi Thị C1 đánh bạc dưới hình thức mua bán số lô, số đề với Đỗ Văn T2 trong ngày 18/01/2024 là: 15.418.000 đồng. Trong đó tiền mua số lô là 3.718.000 đồng/169 điểm lô (trong đó một điểm lô được tính = 22.000 đồng, số lô không được chiết khấu), tiền mua số đề là 11.700.000 đồng (Do được T2 khuyến mại, trừ chiết khấu 25% = 2.925.000 đồng nên thực tế số tiền mà C1 phải bỏ ra để mua số đề là 8.775.000 đồng).
Đối chiếu với kết quả sổ xố kiến thiết Miền B, mở thưởng vào 18 giờ 15 phút ngày 18/01/2024 thì Vi Thị C1 không trúng số đề nào và trúng được 19 điểm lô (lô 14 trúng 5 điểm x2 lần trúng; lô 23 trúng 2 điểm; lô 59 trúng 5 điểm; lô 86 trúng 2 điểm), số tiền T2 phải trả thưởng cho C1 là 1.520.000 đồng.
Như vậy, tổng số tiền mà Vi Thị C1 đánh bạc dưới hình thức mua bán số lô, số đề với Đỗ Văn T2 trong ngày 18/01/2024 (bao gồm tiền mua số lô, số đề thực tế, tiền được khuyến mại và tiền trúng thưởng) là: 16.938.000 đồng.
Đối với số tiền đánh bạc trên Đỗ Văn T2 và Vi Thị C1 chưa thanh toán cho nhau.
Tại Cơ quan điều tra, Đỗ Văn T2 thừa nhận ngày 18/01/2024 đã dùng 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7, vỏ màu đen, gắn sim số 0944.631.588, bên trong cài ứng dụng mạng xã hội Zalo tên “Dovantien” được đăng ký số điện thoại: 0944.631.xxx bán số lô, số đề cho Vi Thị C1, tuy nhiên điện thoại này T2 đã đánh rơi trên đường đi làm về, không nhớ rơi ở đâu. Nên Cơ quan điều tra không thu hồi được.
Tại Cơ quan điều tra các đối tượng khai nhận hình thức đánh bạc và cách tính thắng thua như sau:
Người chơi bạc có thể mua các số lô, số đề với số tiền và số điểm tùy ý. Sau đó căn cứ kết quả Xổ số kiến thiết Miền B mở thưởng trong ngày để tính thắng thua.
Đối với số đề: Người chơi tự lựa chọn hai số tự nhiên bất kỳ từ 00 đến 99 và căn cứ vào 2 số cuối của giải đặc biệt kết quả Xổ số kiến thiết Miền B để tính thắng thua. Nếu số đề người chơi mua trùng với 02 số cuối của giải đặc biệt thì sẽ trúng thưởng và tiền trúng thưởng sẽ gấp 70 lần số tiền đã mua số đề (tỉ lệ 1 ăn 70), nếu số đề mới mua không trùng với 02 số cuối của giải đặc biệt thì người mua số đề sẽ bị mất số tiền đã mua, người bán số đề được hưởng số tiền mà người chơi đã bỏ ra để mua số đề đó. Người chơi có thể mua số đề dưới dạng đầu, đít, cặp, tổng... là tập hợp gồm các dãy số có liên kết với nhau và được tính thắng thua như đánh số đề.
Khi mua số đề, người chơi sẽ được khuyến mại, trừ phần trăm chiết khấu là 25% (tức là nếu mua số đề với giá 100.000 đồng thì được trừ chiết khấu là 25.000 đồng, người chơi chỉ phải thanh toán tiền đặt cược là 75.000 đồng), khi trúng thưởng thì vẫn được tính 100% số tiền đặt cược trúng thưởng nhân với 70 lần tiền đặt cược ban đầu.
Đối với số lô: Được tính theo điểm, quy ước là 22.000 đồng/1 điểm lô, nếu trúng thưởng số lô nhân thành 80.000 đồng/1 điểm lô. Người chơi tự lựa chọn hai số tự nhiên bất kỳ từ 00 đến 99. Nếu số lô người chơi mua trùng với hai chữ số cuối của một trong 27 kết quả các giải (từ giải đặc biệt đến giải bảy) của kết quả Xổ số kiến thiết Miền B mở thưởng trong ngày thì người chơi trúng thưởng (mỗi lần trùng được tính một lần thắng) và người bán số lô phải trả cho người chơi 80.000 đồng/1 điểm lô/1 lần thắng. Trường hợp số lô đã mua trùng với hai số cuối của nhiều kết quả thì người bán tính đối đa cho người mua là 03 lần trúng. Số tiền trúng thưởng nhân theo số lần thắng. Nếu không trùng với hai chữ số cuối của giải nào thì người bán số lô được hưởng toàn bộ số tiền người chơi đã bỏ ra mua các số lô đó.
Tại cơ quan điều tra Công an thị xã P, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi đánh bạc như đã nêu trên. Lời khai của các bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Ngày 13/5/2024, Vi Thị C1 đã tự nguyện giao nộp số tiền đánh bạc là 15.418.000 đồng, Đỗ Văn T2 tự nguyện giao nộp số tiền 1.520.000 đồng cho Cơ quan điều tra.
Đối với số điện thoại 0856.304.xxx mà Vi Thị C1 đăng ký số tài khoản Zalo tên “Vithichung” sử dụng để đánh bạc ngày 18/01/2024, kết quả điều tra xác định là số điện thoại của chủ thuê bao Khuất Thị K, bà K không biết hiện bà đang sử dụng số thuê bao điện thoại nào và thời gian sử dụng là bao lâu. Không biết thông tin gì về số thuê bao 0856304144. Bà không biết Vi Thị C1 là ai, không tham gia đánh bạc với ai. Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác định bà K liên quan đến hành vi đánh bạc ngày 18/01/2024, không đề cập xử lý.
Về vật chứng, đồ vật, tài sản thu giữ:
Đối với số tiền 16.938.000 đồng là tiền các bị cáo dùng vào việc đánh bạc, T2 và C1 tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra để khắc phục hậu quả; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A73 5G, vỏ màu xanh, số IMEI 1: 352828294681182, số IMEI 2: 354462614681181, bên trong có gắn sim số 0973130378 là điện thoại Vi Thị C1 dùng để thực hiện hành vi mua số lô, số đề với Đỗ Văn T2. Tiền và đồ vật trên được chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự thị xã Phú Thọ.
Về điều kiện kinh tế: Các bị cáo đều làm nghề lao động tự do tại địa phương. Bị cáo T2 đang sinh sống trên thửa đất số 154, tờ bản đồ số 16 diện tích 59,9 m², địa chỉ: KDC N, phường Â, thị xã P, tỉnh Phú Thọ đứng tên Đỗ Văn T2. Bị cáo Vi Thị C1 hiện đang sinh sống cùng với gia đình trên thửa đất số 145, tờ bản đồ số 16, diện tích 65,3 m² đứng tên vợ chồng, địa chỉ: KDC N, phường Â, thị xã P, tỉnh Phú Thọ.
Tại bản cáo trạng số 41/CT VKSTX ngày 06/6/2024 của VKSND thị xã Phú Thọ đã truy tố Đỗ Văn T2, Vi Thị C1 về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 điều 321 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà hôm nay T2, C1 đã thành khẩn khai nhận hành vi: Vào hồi 20 giờ 00 phút ngày 18/01/2024, tại trụ sở Công an tỉnh P, Cơ quan CSĐT tiếp nhận Vi Thị C1, sinh năm 1979, trú tại KDC N, phường Â, thị xã P, tỉnh Phú Thọ đến tự thú và hồi 21 giờ 30 phút cùng ngày Đỗ Văn T2, sinh năm 1971, trú tại KDC N, phường Â, thị xã P, tỉnh Phú Thọ đến đầu thú về hành vi “Đánh bạc” được thua bằng tiền dưới hình thức mua bán số lô, số đề. Tổng số tiền C1 và T2 đánh bạc là 16.938.000. Số tiền đánh bạc Cơ quan điều tra đã thu hồi, nh nội dung bản cáo trạng đã nêu, không có lời tranh luận, bào chữa nào khác.
Đại diện viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị: Tuyên bố các bị cáo Đỗ Văn T2, Vi Thị C1 phạm tội “ Đánh bạc”. Áp dụng khoản 1,3 điều 321, điểm i,s khoản 1, khoản 2 điều 51, điều 36 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Đỗ Văn T2. Áp dụng khoản 1 điều 321, điểm i,r,s khoản 1, khoản 2 điều 51, điều 35 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Vi Thị C1. Đề nghị xử phạt: Đỗ Văn T2 từ 9 -12 tháng cải tạo không giam giữ. Phạt bổ xung bằng tiền đối với bị cáo từ 10 -20 triệu dồng. Miễn khấu trừ thu nhập. Buộc bị cáo T2 phải thực hiện công việc lao động phục vụ cộng đồng theo quy định tại khoản 4 điều 36 Bộ luật hình sự và các nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự.
Xử phạt: Vi Thị C1 từ 40 - 50 triệu đồng. Miễn áp dụng hình phạt bổ xung đối với bị cáo.
Về vật chứng: Áp dụng khoản 1,2 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a,b khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự . Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 16.938.000₫ (mười sáu triệu chín trăm ba mươi tám nghìn đồng) tiền ngân hàng N.
Tịch thu để bán nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A73 5G, vỏ màu xanh. Tịch thu để tiêu hủy 01 sim số 0973130378.
Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, các bị cáo đều thừa nhận bị cáo đã phạm tội đánh bạc. Đề nghị HĐXX áp dụng chính sách khoan hồng của pháp luật cho bị cáo cải tạo ngoài xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau;
L2 khai nhận tội của các bị cáo tại phiên toà hôm nay phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến và vật chứng thu đợc của vụ án. T2, C1 đã thừa nhận hành vi phạm tội như sau: Trong ngày 18/01/2024, qua ứng dụng zalo, T2 và C1 đã đánh bạc dưới hình thức mua bán số lô số đề được thua bằng tiền. Tổng số tiền các bị cáo dùng để đánh bạc được xác định là 16.938.000đ. Bản cáo trạng số 41/CT-VKSTXPT ngày 06/6/2024 của VKSND thị xã Phú Thọ truy tố Đỗ Văn T2, Vi Thị C1 theo khoản 1 điều 321 BLHS về tội đánh bạc là đúng người, đúng tội. Đủ cơ sở kết luận Tiến, C1 phạm tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được qui định tại khoản 1 điều 321 Bộ luật hình sự.
Khoản 1 điều 321 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm ..."
Lời khai của các bị cáo đều phù hợp với lời khai của người làm chứng và vật chứng thu được của vụ án, phù hợp với kết quả tranh luận tại phiên tòa.
[1] Hành vi, quyết định tố tụng: của cơ quan điều tra Công an thị xã P, điều tra viên Công an thị xã P, tỉnh Phú Thọ; Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến, không khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[3] Xét tính chất của vụ án là ít nghiêm trọng, Hành vi của các bị cáo gây nguy hại không lớn cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự. Cờ bạc là căn nguyên của nhiều tệ nạn xã hội, phá hoại hạnh phúc nhiều gia đình, xâm phạm trật tự công cộng, nếp sống văn minh của xã hội, gây mất an ninh trật tự địa phương. Do đó vụ án cần phải được đưa ra xét xử kịp thời nhằm giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung.
[3] Xét về nhân thân các bị cáo thì thấy :
Các bị cáo là người trưởng thành, có hiểu biết xã hội, có năng lực chịu trách nhiệm hình sự, không chịu lao động tu dưỡng rèn luyện bản thân, muốn hưởng lợi ích vật chất từ việc làm trái pháp luật nên đã cố ý thực hiện hành vi đánh bạc bằng hình thức mua bán số lô số đề, được thua bằng tiền. Các bị cáo không có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, khi bị phát hiện đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bị cáo T2 đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội và tự nguyện giao nộp số tiền đánh bạc 1.520.000 đồng, có bố, mẹ đẻ được tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng ba và huy chương kháng chiến hạng nhì. Do đó T2 được hưởng 03 tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i,s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự. HĐXX cân nhắc thấy rằng chỉ cần áp dụng hình phạt cải tạo tại địa phương từ 9-12 tháng cũng đủ răn đe giáo dục đối với T2. Vi Thị C1 tự thú về hành vi phạm tội của mình, tự nguyện giao nộp số tiền đánh bạc 15.418.000 đồng, có bố chồng là thương binh loại A, mẹ chồng được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhất. Do đó, C1 được hưởng 04 tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i,r,s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Chung có nhân thân tốt nên chỉ cần áp dụng hình phạt tiền từ 40 – 50 triệu đồng là phù hợp. Đề nghị của Kiểm sát viên về mức hình phạt đối với các bị cáo cơ bản là phù hợp, cần chấp nhận.
[4]. Về hình phạt bổ sung: Khoản 3 điều 321 Bộ luật hình sự quy định: “ Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến năm mươi triệu đồng”.
Các bị cáo là lao động tự do, có tài sản riêng, nên phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với T2 từ 10 đến 20 triệu dồng là phù hợp. Hình phạt chính của bị cáo C2 là phạt tiền nên HĐXX thấy rằng không áp dụng hình phạt bổ sung đối với C2 là phù hợp.
[5] Về vật chứng của vụ án:
Đối với số tiền các bị cáo dùng để đánh bạc trong ngày 18/01/2024 là 16.938.000đ cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
Đối với một 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A73 5G, vỏ màu xanh, là công cụ C2 dùng phạm tội, cần tịch thu bán nộp ngân sách nhà nước.
Đối với sim số 0973130378 thu của C2, là công cụ C2 dùng phạm tội, cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7, vỏ màu đen, gắn sim số 0944.631.588, bên trong cài ứng dụng mạng xã hội Zalo tên “Dovantien” được đăng ký số điện thoại: 0944.631.xxx, T2 dùng bán số lô, số đề cho Vi Thị C1. T2 khai điện thoại này T2 đã đánh rơi trên đường đi làm về, không nhớ rơi ở đâu. Nên Cơ quan điều tra không thu hồi được vì thế HĐXX không đề cập xử lý là phù hợp.
Đối với số điện thoại 0856.304.xxx mà Vi Thị C1 đăng ký số tài khoản Zalo tên “Vithichung” sử dụng để đánh bạc ngày 18/01/2024, kết quả điều tra xác định là số điện thoại của chủ thuê bao Khuất Thị K, bà K không biết hiện bà đang sử dụng số thuê bao điện thoại nào và thời gian sử dụng là bao lâu. Không biết thông tin gì về số thuê bao 0856304144. Bà không biết Vi Thị C1 là ai, không tham gia đánh bạc với ai. Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác định bà K liên quan đến hành vi đánh bạc ngày 18/01/2024, không đề cập xử lý là đúng quy định.
[6] Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu theo qui định của pháp luật.
Vì các lẽ trên :
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Văn T2, Vi Thị C1 phạm tội “Đánh bạc”.
Căn cứ khoản 1,3 điều 321, điểm i,s khoản 1, khoản 2 điều 51, điều 36 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Đỗ Văn T2.
Căn cứ khoản 1 điều 321, điểm i,r,s khoản 1, khoản 2 điều 51, điều 35 Bộ luật hình sự, đối với bị cáo Vi Thị C1.
Xử phạt: Đỗ Văn T2 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ. Giao bị cáo Đỗ Văn T2 cho Ủy ban nhân dân phường Â, thị xã P, tỉnh Phú Thọ để giám sát giáo dục trong thời gian cải tạo. Gia đình bị cáo T2 có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường Á trong việc giám sát giáo dục bị cáo.
Thời hạn cải tạo không giam giữ được tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an thị xã P nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án. Phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo 10.000.000đ (mười triệu đồng) để nộp ngân sách Nhà nước.Miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo T2.
Buộc bị cáo T2 phải thực hiện công việc lao động phục vụ cộng đồng theo quy định tại khoản 4 điều 36 Bộ luật hình sự và các nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự.
Xử phạt: Vi Thị C1 40(bốn mươi) triệu đồng để nộp ngân sách Nhà nước. Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng: Áp dụng khoản 2 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a,b khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự .
- - Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 16.938.000đ (mười sáu triệu chín trăm ba mươi tám nghìn đồng) tiền ngân hàng N.
- - Tịch thu 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A73 5G, vỏ màu xanh ( thu của Vi Thị C1) để bán nộp ngân sách Nhà nước.
- - Tịch thu 01 sim số 0973130378 ( thu của Vi Thị C1) để tiêu hủy.
- (Các vật chứng trên hiện đang bị tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã P và có đặc điểm như trong biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã P và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Phú Thọ có lưu trong hồ sơ vụ án ).
Về án phí: Áp dụng khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Các bị cáo Đỗ Văn T2, Vi Thị C1, mỗi bị cáo phải chịu 200.000₫ ( hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Áp dụng điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự:
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có mặt được quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh xét xử phúc thẩm.
|
Thẩm phán – chủ tọa phiên Tòa Trần Thị Lệ T |
Bản án số 39/2024/HSST ngày 18/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ THỌ, TỈNH PHÚ THỌ về đánh bạc
- Số bản án: 39/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ THỌ, TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đánh bạc
