Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHỢ GẠO

TỈNH TIỀN GIANG

Bản án số: 39/2024/HS-ST

Ngày: 18 - 7 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ GẠO, TỈNH TIỀN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Tuyền.

- Các Hội thẩm nhân dân.

- Ông Nguyễn Hoa Kiều.

- Ông Trương Hoàng Hoa.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Nguyễn Ái Quyên, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Trinh, Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 19/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2024/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 5 năm 2024 và quyết định hoãn phiên tòa số 12/2024/HSST-QĐ ngày 20 tháng 6 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Đặng Hoàng Q, sinh ngày 06/4/1995 tại Hậu Giang; Căn cước công dân: [...]; Nơi thường trú: Ấp G, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang; Nơi ở: Số H khu dân cư V, khu phố P, phường V, thành phố T, tỉnh Bình Dương; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 01/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đặng Văn Đ, sinh năm 1973 và bà Lưu Thị T, sinh năm 1975; Bị cáo có 03 anh chị em; Bị cáo chưa có vợ con;

Tiền sự: Không

Tiền án: 01

Năm 2022, bị Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo bản án số 144/2022/HS-ST ngày 05/5/2022; chấp hành xong ngày 19/3/2023, đã đóng án phí.

Nhân thân:

Ngày 17/01/2020, bị Tòa án nhân dân Quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, chấp hành xong ngày 28/11/2020.

Bị cáo đang chấp hành án tại trại giam M-Bộ C2 theo bản án hình sự sơ thẩm số 79/2024/HS-ST ngày 03/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh về tội trộm cắp tài sản và có mặt tại phiên tòa.

2. Nguyễn Minh T1, sinh ngày 27/01/1991 tại tỉnh Đồng Tháp; Căn cước công dân: [...]; Nơi cư trú: Nơi cư trú: Số A khu phố Đ, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 06/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Minh T2 (đã chết) và bà Nguyễn Thị T3, sinh năm 1971; Bị cáo có vợ là Võ Ngọc H (đã ly hôn) và 01 con sinh năm 2020;

- Tiền sự: 01

Năm 2020, bị Tòa án nhân dân Quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, chấp hành xong ngày 07/5/2022.

- Tiền án: Không

- Nhân thân:

Năm 2016, bị Tòa án nhân dân Quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, chấp hành xong ngày 10/7/2017.

Năm 2023, bị Tòa án nhân dân Quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Ngày 05/01/2024 thì có Quyết định tạm đình chỉ thi hành Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Bị bắt tạm giam từ ngày 05/01/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện C, tỉnh Tiền Giang và có mặt tại phiên toà.

* Bị hại:

- Anh Lê Hồ Thanh T4, sinh năm 2001, ngụ ấp H, xã V, huyện G, tỉnh Tiền Giang (có đơn xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN :

* Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 24/6/2023, Đặng Hoàng Q cùng Nguyễn Minh T1 về quê của "Chuột" (không rõ họ tên, địa chỉ) ở huyện C, tỉnh Tiền Giang để dự tiệc. Đến khoảng 04 giờ 30 phút ngày 25/6/2023, T1 điều khiển xe Exciter màu trắng, biển số 94F1-295.44 (xe do Q và T1 trộm được ở thành phố Hồ Chí Minh) chở Q về lại thành phố Hồ Chí Minh. Khi chạy ngang dãy nhà trọ T5 thuộc ấp B, xã Đ, huyện C, tỉnh Tiền Giang thì Q phát hiện xe Sirius màu đỏ, biển số 63B5-493.75 của anh Lê Hồ Thanh T4 dựng ở hành lang dãy trọ không ai trông coi nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Qui rủ T1 lấy trộm thì T1 đồng ý. Lúc này T1 chở Q vào dãy nhà trọ, Q xuống xe đi bộ đến dắt xe Sirius đẩy ra lộ, T1 ngồi trên xe Exciter biển số 94F1-295.44 đẩy Qui ngồi trên xe Sirius biển số 63B5-493.75 chạy về hướng thành phố Hồ Chí Minh, đi được một đoạn thì Q xuống xe đấu dây điện nổ máy chạy xe về thành phố Hồ Chí Minh. Khi về đến thành phố Hồ Chí minh, Q đưa cho T1 800.000 đồng là tiền công T1 đi trộm xe cùng với Q, còn Q lấy xe Sirius trộm được để sử dụng. Đến khoảng 06 giờ ngày 25/6/2023, anh Lê Hồ Thanh T4 phát hiện bị mất xe mô tô biển số 63B5-493.75 và trình báo Cơ quan công an.

Theo kết luận định giá tài sản số 73/KL-ĐGTS ngày 30/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C xác định:

“- 01 (một) xe môtô hai bánh, biển số 63B4-493.75, nhãn hiệu YAMAHA, số loại: Sirius, màu sơn: Đỏ - Đen, số máy: E32VE103560, số khung: 3710LY048055.

- Đơn giá: 22.000.000 đồng/chiếc.

- Thành tiền: 01 chiếc x 22.000.000 đồng/chiếc x 60% đồng = 13.200.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản là: 13.200.000 đồng.”

Kết luận giám định số 1957/KL-KTHS(Đ2) ngày 27/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Xe môtô biển số 63B4-493.75, màu sơn: Đỏ-Đen có số máy: E32VE103560, số khung: 3710LY048055 trước và sau giám định không đổi.

* Vật chứng thu giữ:

- 01 (một) xe môtô biển số 63B4-493.75, nhãn hiệu YAMAHA, số loại: Sirius, màu sơn: Đỏ - Đen, số máy: E32VE103560, số khung: 3710LY048055. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại xe mô tô biển số 63B4-493.75 cho anh Lê Hồ Thanh T4.

Tại Cơ quan điều tra, bị cáo Q và bị cáo T1 hoàn toàn thừa nhận hành vi của mình.

* Bị hại: Anh Lê Hồ Thanh T4 khai nhận: Ngày 25/6/2023, anh bị Đặng Hoàng Q và Nguyễn Minh T1 lấy trộm xe môtô biển số 63B4-493.75, nhãn hiệu YAMAHA, số loại: Sirius, màu sơn: Đỏ - Đen tại nhà T thuộc ấp B, xã Đ, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Cơ quan điều tra Công an huyện C đã trả lại xe cho anh và anh nhận lại nguyên vẹn nên không yêu cầu các bị cáo bồi thường gì thêm.

Tại Cáo trạng số 26/CT-VKSCG ngày 23/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo truy tố bị cáo Đặng Hoàng Q và bị cáo Nguyễn Minh T1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa,

- Các bị cáo khai nhận về hành vi các bị cáo đã thực hiện đúng như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo đã truy tố.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

+ Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, 50, 56 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Đặng Hoàng Q từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù về tội «Trộm cắp tài sản». Tổng hợp hình phạt 01 năm 06 tháng tù theo bản án hình sự sơ thẩm số 79/2024/HS-ST ngày 03/4/2024 của Toà án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh về tội trộm cắp tài sản.

+ Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, 50 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T1 từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội «Trộm cắp tài sản ».

Các bị cáo không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

+ Về vật chứng của vụ án: Đã xử lý xong nên đề nghị không xem xét.

+ Về trách nhiệm dân sự: Cơ quan điều tra đã trả tài sản cho bị hại nên không xem xét.

- Các bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo thấy mình sai, ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của mình. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa, bị hại có đơn xin vắng mặt. Xét việc bị hại có lời khai tại hồ sơ. Việc vắng mặt không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị hại.

[2] Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đều thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.

[3] Về hành vi phạm tội của các bị cáo:

[3.1] Tại phiên tòa các bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi của mình: Do lòng tham, khoảng 04 giờ 30 phút ngày 25/6/2023, Đặng Hoàng Q rủ Nguyễn Minh T1 lén lút trộm xe mô tô biển số 63B4-493.75 của anh Lê Hồ Thanh T4 để tại nhà trọ T5 thuộc ấp B, xã Đ, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Kết luận định giá xác định giá trị tài sản bị lấy trộm là 13.200.000 đồng.

[3.2] Lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác thu thập có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với kết quả xét hỏi và tranh tụng tại phiên tòa hôm nay. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Đặng Hoàng Q và Nguyễn Minh T1 phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự:

“Điều 173. Tội trộm cắp tài sản

1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm....”

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo truy tố đối với các bị cáo là có cơ sở và đúng pháp luật.

[4] Về tính chất, mức độ phạm tội của các bị cáo: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của bị hại. Nhằm mục đích muốn có tài sản sử dụng, phục vụ cho lợi ích cá nhân, ý thức lười lao động nhưng lại thích hưởng thụ các bị cáo đã có hành vi lén lút lấy tài sản của bị hại. Hành vi này của các bị cáo xâm phạm trực tiếp đến quyền tài sản của người khác; Bản thân các bị cáo đã từng bị xử lý và xử phạt về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý, được giáo dục chấp hành các quy định pháp luật tuy nhiên vẫn thực hiện các hành vi về trộm cắp tài sản. Hành vi trộm cắp tài sản của các bị cáo làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương nơi xảy ra vụ án, gây tư tưởng hoang mang, lo lắng, bất an trong quần chúng nhân dân. Do đó, các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự do hành vi phạm tội của mình gây ra.

[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của các bị cáo:

[5.1] Đối với bị cáo Q:

- Tình tiết tăng nặng: Bị cáo Q có 01 tình tiết tăng nặng là tái phạm theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự bởi lẽ bị cáo đã bị xét xử về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo bản án số 144/2022/HS-ST ngày 05/5/2022 của Toà án nhân dân thành phố Thủ Đức, chấp hành xong ngày 19/3/2023, chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội do lỗi cố ý.

- Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa xét thấy, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

- Về nhân thân: Bị cáo Q có nhân thân không tốt. Ngày 17/01/2020, bị Tòa án nhân dân Quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, chấp hành xong ngày 28/11/2020.

[5.1] Đối với bị cáo T1:

- Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tiền án. Tuy nhiên bị cáo có 01 tiền sự, Năm 2020, bị Tòa án nhân dân Quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, chấp hành xong ngày 07/5/2022.

- Về tính tiết giảm nhẹ: Bị cáo T1 có tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

- Về nhân thân: Bị cáo T1 có nhân thân không tốt. Năm 2016, bị Tòa án nhân dân Quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, chấp hành xong ngày 10/7/2017.

[6] Vai trò của các bị cáo

Trong vụ án này có đồng phạm nhưng mang tính chất giản đơn, trong đó Qui giữ vai trò chính, còn bị cáo T1 là người giúp sức tích cực bởi lẽ khi phát hiện tài sản Q là người rủ T1 trộm và Q trực tiếp lấy tài sản và sau đó đưa cho T1 800.000 đồng tiền công.

Với tình tiết nêu trên, Hội đồng xét xử cân nhắc khi lượng hình để tuyên xử mức án nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của từng bị cáo. Xét cần thiết phải buộc các bị cáo cách ly ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho gia đình, xã hội và nhằm răn đe, phòng ngừa chung.

[7] Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử thống nhất không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[8] Về vật chứng của vụ án: Xe mô tô Exciter biển số 94F1-295.44 mà các bị cáo sử dụng lúc trộm tài sản thì bị cáo trộm tại hẻm B đường B, phường B, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh xe là của ông Lê Văn C và ông C xác định xe là do ông mua và đứng tên, ông đưa cho em gái là Lê Thị B sử dụng và phát hiện bị mất vào ngày 23/6/2023. Đối với hành vi này, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã có văn bản gửi đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh để xác minh và giải quyết theo thẩm quyền. Đồng thời bị cáo T1 khai hiện xe này bị cáo đã bán cho người tên Đ1 (không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể), chỉ biết ở chợ Đ2, thành phố Hồ Chí Minh nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C không triệu tập làm việc được, khi nào xác minh được nhân thân đối tượng sẽ làm rõ và xử lý theo quy định.

[9] Về trách nhiệm dân sự: Anh C1 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[10] Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.

[11] Xét phân tích và đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp với nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Bị cáo Đặng Hoàng Q và bị cáo Nguyễn Minh T1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17, Điều 38, 50, 55, 58 Bộ luật Hình sự,

    - Xử phạt:

    Bị cáo Đặng Hoàng Q 01 (Một) năm 06 (S) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 01 năm 06 tháng tù của bản án sơ thẩm số 79/2024/HS-ST ngày 03/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh về tội trộm cắp tài sản. Tổng hợp hình phạt chung là 03 (Ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16 tháng 11 năm 2023.

  3. Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 38, 50Bộ luật Hình sự,

    - Xử phạt:

    Bị cáo Nguyễn Minh T1 01 (Một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo ngày 05 tháng 01 năm 2024.

  4. Về án phí:

    Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự

    Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

    • Bị cáo Q phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
    • Bị cáo T1 phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự,

    Bị cáo Q, bị cáo T1 được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết hợp lệ bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tiền Giang;
  • - VKSND tỉnh Tiền Giang (P7);
  • - VKSND huyện Chợ Gạo;
  • - Chi cục THADS huyện Chợ Gạo;
  • - Cơ quan điều tra CAH Chợ Gạo;
  • - Nhà tạm giữ CAH Chợ Gạo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Thanh Tuyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 39/2024/HS-ST ngày 18/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ GẠO, TỈNH TIỀN GIANG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 39/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ GẠO, TỈNH TIỀN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đặng Hoàng Q và Nguyễn Minh T1 phạm tội Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger