Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ NGHI SƠN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 39/2024/HNGĐ - ST

Ngày 17 - 6- 2024

V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Ngọc Sơn

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hải

Ông Nguyễn Văn Dương

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Vân Ánh - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Hà Thị Hường - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 13/2024/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 01 năm 2024, về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 23/2024/QĐST-HNGĐ ngày 22/5/2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1989

Nơi cư trú: TDP S, phường X, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Như H, sinh năm 1988

Nơi cư trú: TDP S, phường X, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.

Tại phiên tòa có mặt chị T; vắng mặt anh H.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị T trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa vào ngày 13/3/2013. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận được thời gian ngắn, đến năm 2014 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do hai bên không hợp nhau, bất đồng quan điểm, không thể hòa hợp được, mâu thuẫn thường xuyên xảy ra và ngày càng trầm trọng, mâu thuẫn đã được gia đình và bạn bè hòa giải nhưng không hòa hợp được, khoảng tháng 5 năm 2015 anh H uống rượu say đánh đuổi chị, chị phải về nhà mẹ đẻ để nương tựa, vợ chồng bắt đầu sống ly thân nhưng thi thoảng hai bên vẫn qua lại. Tuy nhiên, trong cuộc sống anh H không có trách nhiệm gì với vợ con. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng dành cho nhau không còn, mâu thuẫn gia đình đã trầm trọng, cuộc sống hôn nhân không có hạnh phúc, nên đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn anh H.

Về con chung: Chị và anh H có 03 con chung là Nguyễn Đức A, sinh ngày 04 tháng 4 năm 2013; cháu Nguyễn Ngọc Á, sinh ngày 04/7/2015 và cháu Nguyễn Gia K, sinh ngày 02/02/2019 kể từ khi vợ chồng sống ly thân cả 03 con ở với chị, anh H không quan tâm đến các con, khi chị làm đơn ly hôn anh H nói với chị anh sẽ không nuôi con. Nên chị đề nghị khi ly hôn chị được trực tiếp nuôi dưỡng cả 03 con chung, tại đơn khởi kiện chị yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 3.000.000 đồng cho cả 03 con, tại bản tự khai và tại phiên tòa chị T trình bày anh H không có công việc ổn định, không có thu nhập nên chị không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn anh Nguyễn Như H: Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho anh H, nhưng anh H từ chối nhận, anh H không đến Tòa án để giải quyết việc ly hôn với chị T và cũng không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị T.

Tòa án tiến hành xác minh tình trạng hôn nhân, mâu thuẫn vợ chồng giữa chị T và anh H, theo biên bản xác minh ngày 12/3/2024 xác định: Quá trình chung sống vợ chồng anh H và chị T có xảy ra mâu thuẫn, không có hạnh phúc, hiện nay đang sống ly thân, nguyên nhân mâu thuẫn là do anh H hay uống rượu và thường xuyên đánh đập chị T.

Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa. Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn không chấp hành quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị T. Về hôn nhân giải quyết cho chị T được ly hôn anh H; Về con chung: giao cả 03 con chung là cháu Nguyễn Đức A, sinh ngày 04 tháng 4 năm 2013; cháu Nguyễn Ngọc Á, sinh ngày 04/7/2015 và cháu Nguyễn Gia K, sinh ngày 02/02/2019 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, chị T không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung, nên không xem xét; Về tài sản chung: chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét; Về án phí: chị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Chị T yêu cầu Tòa án giải quyết về ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn giữa chị và anh H; anh H cư trú tại phường X, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự; chị T đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải, nên vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 4 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự. Anh H từ chối nhận các văn bản tố tụng của Tòa án, vắng mặt tại phiên tòa, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh H theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Xét yêu cầu ly hôn và tình trạng hôn nhân giữa chị T và anh H: Quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh H trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do tính tình không hợp, anh H không chăm lo cho vợ con, chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn anh H. Anh H đã biết việc chị T yêu cầu ly hôn, nhưng từ chối nhận các văn bản tố tụng của Tòa án không đến Tòa án để giải quyết và tham gia phiên hòa giải, thể hiện anh H không tha thiết níu kéo hạnh phúc gia đình.

Tòa án tiến hành xác minh mâu thuẫn vợ chồng giữa chị T và anh H xác định trong cuộc sống vợ chồng có mâu thuẫn, không có hạnh phúc, anh H thường xuyên đánh đập chị T.

Căn cứ vào trình bày của chị T và kết quả xác minh có căn cứ để xác định, hôn nhân giữa chị T và anh H đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

[3] Về con chung: Chị T và anh H có 03 con chung là cháu Nguyễn Đức A, sinh ngày 04 tháng 4 năm 2013; cháu Nguyễn Ngọc Á, sinh ngày 04/7/2015 và cháu Nguyễn Gia K, sinh ngày 02/02/2019, kể từ khi vợ chồng sống ly thân cả 03 con chung ở với chị T, anh H không quan tâm đến các con. Khi ly hôn chị T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cả 03 con chung.

HĐXX xét thấy chị T có đủ điều kiện để trực tiếp nuôi con, kể từ khi vợ chồng sống ly thân các con ở với chị T, anh H không chăm lo cho các con, cháu A và cháu Á đều trên 07 tuổi và có nguyện vọng ở với chị T khi bố mẹ ly hôn, cháu K còn nhỏ cần sự chăm sóc của người mẹ. Vì vậy, chấp nhận yêu cầu của chị T giao cả 03 con cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp, đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của các con.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị T không yêu cầu, nên HĐXX không xem xét.

[4] Về tài sản chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về án phí: Chị T khởi kiện vụ án ly hôn, không thuộc trường hợp được miễn án phí, nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 235, Điều 266, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình;

Điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQ14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị T:

  • - Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh Nguyễn Như H.
  • - Về con chung: Giao cháu Nguyễn Đức A, sinh ngày 04 tháng 4 năm 2013; cháu Nguyễn Ngọc Á, sinh ngày 04/7/2015 và cháu Nguyễn Gia K, sinh ngày 02/02/2019 cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Anh Nguyễn Như H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Nghi Sơn theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007022 ngày 11/01/2024.

4. Quyền kháng cáo: Chị T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; anh H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền tự nguyện thi hành án, thoả thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND thị xã Nghi Sơn;
  • - TAND tỉnh Thanh Hoá;
  • - Chi cục THADS thị xã Nghi Sơn;
  • - UBND phường Xuân Lâm, TX Nghi Sơn;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA

Phạm Ngọc Sơn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 39/2024/HNGĐ - ST ngày 17/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 39/2024/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị T ly hôn anh H
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger