|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ CÚ TỈNH TRÀ VINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 39/2024/HS-ST
Ngày 02-5-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ CÚ, TỈNH TRÀ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Truyền
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Sơn Ken
Bà Phước Thị Kim Huê
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Chế Linh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Lê Thanh Tú, Kiểm sát viên
Ngày 02 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 23/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 3 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/2024/QĐXXST-HS, ngày 17 tháng 4 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Bị cáo Võ Ngọc L, sinh ngày 16 tháng 12 năm 1996, tại huyện T, tỉnh Trà Vinh; Nơi cư trú trước khi bị bắt Khóm E, thị trấn T, huyện T, tỉnh Trà Vinh; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa (học vấn): 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không tôn giáo; quốc tịch Việt Nam; con ông Võ Ngọc H, sinh năm 1972 và bà Nguyễn Thị Tuyết L1, sinh năm 1979; Vợ, con: Không có; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 06/01/2017 có hành vi đánh nhau bị Công an huyện T xử phạt vi phạm hành chính 750.000 đồng theo Quyết định số 130/QĐ-XPVPHC, ngày 03/4/2017; Ngày 30/6/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Trà Cú kết án 09 tháng tù về tội gây rối trật tự công cộng theo bản án số 32/2017/HSST. Bị bắt tạm giam từ ngày 02/02/2024 cho đến nay, có mặt.
- Bị cáo Phan Thanh S, sinh ngày 01 tháng 6 năm 1999, tại huyện T, tỉnh Trà Vinh; Nơi thường trú Khóm D, thị trấn T, huyện T, tỉnh Trà Vinh; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không tôn giáo; quốc tịch Việt Nam; con ông Phan Văn T, sinh năm 1975 và bà Nguyễn Thị Ngọc B, sinh năm 1981; Vợ, con: Không có; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 15/01/2022 tổ chức, tham gia tụ tập nhiều người nơi công cộng gây mất trật tự công cộng bị Công an thị trấn T xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng theo Quyết định số 13/QĐ-XPVPHC, ngày 22/01/2022. Bị cáo bị
bắt tạm giam từ ngày 02/02/2024 đến ngày 15/3/2024 bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến ngày 22/3/2024, có mặt.
- Bị cáo Ngô Duy K, sinh ngày 01 tháng 12 năm 2003, tại huyện T, tỉnh Trà Vinh; Nơi thường trú ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh. Nơi ở hiện nay Khóm E, thị trấn T, huyện T, tỉnh Trà Vinh; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa (học vấn): 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không tôn giáo; quốc tịch Việt Nam; con ông Ngô Thanh X, sinh năm 1981 và bà Mai Thị N, sinh năm 1980; Vợ, con: Không có; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 22/3/2022 cố ý gây thương tích bị Ủy ban nhân dân huyện T xử phạt hành chính 6.500.000 đồng theo Quyết định số 481/QĐ-XPVPHC, ngày 04/4/2022; Bị bị bắt tạm giam từ ngày 02/02/2024 cho đến nay, có mặt.
- Bị cáo Nguyễn Văn S1, sinh ngày 20 tháng 6 năm 1992, tại huyện T, tỉnh Trà Vinh; Nơi cư trú trước khi bị bắt Khóm E, thị trấn T, huyện T, tỉnh Trà Vinh; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa (học vấn): 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không tôn giáo; quốc tịch Việt Nam; con ông Huỳnh Văn H1, sinh năm 1970 và bà Nguyễn Thị Ngọc G, sinh năm 1972; Vợ, con: Không có; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 19/12/2023 cố ý gây thương tích bị Ủy ban nhân dân huyện T xử phạt hành chính 6.500.000 đồng theo Quyết định số 234/QĐ-XPVPHC, ngày 11/01/2024. Bị bắt tạm giam từ ngày 02/02/2024 cho đến nay, có mặt.
- Bị cáo Hồng Chí T1, sinh ngày 26 tháng 01 năm 2001, tại huyện T, tỉnh Trà Vinh; Nơi thường trú Khóm C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Trà Vinh; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không tôn giáo; quốc tịch Việt Nam; con ông Hồng Văn C, sinh năm 1962 và bà Nguyễn Thị Q, sinh năm 1969; Vợ tên Nguyễn Thảo N1, sinh năm 2000 và 01 người con (sinh sau khi bị truy tố) tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Chưa từng bị kết án và xử phạt vi phạm hành chính. Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 29/01/2024 cho đến ngày 22/3/2024, có mặt.
- Bị hại:
Ông Thạch Vũ P, sinh năm 1975. Địa chỉ khóm C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Trà Vinh, vắng mặt.
Ông Trần Minh C1, sinh năm 2003. Địa chỉ ấp L, xã L, huyện T, tỉnh Trà Vinh, vắng mặt.
Ông Thạch T2, sinh năm 1990. Địa chỉ ấp L, xã L, huyện T, tỉnh Trà Vinh, vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án
Ông Nguyễn Văn P1, sinh năm 2000. Địa chỉ ấp L, xã L, huyện T, tỉnh Trà Vinh, vắng mặt.
- Người làm chứng
Ông Lâm Nhật T3, sinh năm 2002. Địa chỉ ấp L, xã L, huyện T, tỉnh Trà Vinh, vắng mặt.
-Ông Thạch Đuông R, sinh năm 1991 Địa chỉ ấp L, xã L, huyện T, tỉnh Trà Vinh, vắng mặt.
Ông Lâm Quang T4, sinh năm 1995. Địa chỉ ấp L, xã L, huyện T, tỉnh Trà Vinh, vắng mặt.
Bà Thạch Thị Q1, sinh năm 1983. Địa chỉ ấp L, xã L, huyện T, tỉnh Trà Vinh, vắng mặt.
Ông Dương Tấn Q2, sinh năm 1987. Địa chỉ khóm E, thị trấn T, huyện T, tỉnh Trà Vinh, có mặt.
Ông Trầm Quốc V, sinh năm 1993. Địa chỉ khóm E, thị trấn T, huyện T, tỉnh Trà Vinh, có mặt.
Ông Nguyễn Văn N2, sinh năm 2001. Địa chỉ ấp X, xã N, huyện T, tỉnh Trà Vinh, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 23 giờ 30 phút, ngày 24/6/2023, tại khu vực nhà của ông Thạch Vũ P, sinh ngày 16/5/1975, thuộc khóm C, thị Trấn T, huyện T, tỉnh Trà Vinh có một số đối tượng tụ tập đập phá tài sản, la, hét gây mất trật tự công cộng. Tại hiện trường, phát hiện một số đối tượng đang tụ tập cầm hung khí và la hét, cụ thể gồm: Ông Trầm Quốc V cầm 01 (một) cây búa; bị cáo Phan Thanh S cầm 01 (một) ống tuýp sắt; bị cáo Võ Ngọc L, Nguyễn Văn S1, Lê Minh T5, Ngô Duy K, Hồng Chí T1 thì cầm dao tự chế. Ngoài ra, ông Nguyễn Văn N2 đi lại xung quanh la, hét lớn tiếng và ông Dương Tấn Q2 đứng gần đó. Tại hiện trường còn có 01 xe mô tô loại EXCITER, nhãn hiệu YAMAHA, có màu sơn xám vàng biển số 84G1-790.68 và 01 xe mô tô loại EXCITER, nhãn hiệu YAMAHA, có màu sơn đỏ đen biển số 84G1-034.86, cả 02 xe mô tô trên đều bị hư hỏng nhiều bộ phận. Hiện trường còn có 01 (một) xe ô tô nhãn hiệu HYUNDAI, màu sơn đen, biển số 19A-344.04 đầu capo bên trái xe có vết móp và trầy xước, phần ốp lọc khí bên trái phía trước xe có một vết nứt, 04 lốp xe nhãn hiệu MICHELLIN mỗi lốp đều có một vết rách. Tại Cơ quan điều tra các bị cáo và các đối tượng nêu trên đã thừa nhận toàn bộ hành vi của bản thân cụ thể như sau:
Vào khoảng 20 giờ ngày 24/6/2023 bị cáo L tổ chức uống bia tại nhà ở khóm E, thị trấn T, huyện T, tỉnh Trà Vinh cùng với một số người bạn gồm: Các bị cáo S, T1, S1, ông N2 và ông V. Đến khoảng 22 giờ 30 phút, bị cáo S2, T1 và ông N2 mỗi người điều khiển 01 (một) xe mô tô để về nhà nghỉ ngơi. Trên đường về đến đoạn gần khu C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Trà Vinh thì gặp Lâm Nhật T3 đang điều khiển xe mô tô một mình và bạn của ông T3 là ông Trần Minh C1 (tên thường gọi Nhí) sinh ngày 18/4/2003, cùng nơi cư trú với ông T3 tại ấp L, xã L, huyện T, tỉnh Trà Vinh đang điều khiển xe mô tô chở bạn gái của ông C1 ngồi sau tên là Thạch Thị Q1, sinh ngày 17/8/2005, cư trú ấp L, xã L, huyện T, tỉnh Trà Vinh. Thời điểm này giữa bị cáo S2, T1 và ông N2 xảy ra mâu thuẩn, cự cải với ông T3 và ông C1.
Sau khi cự cải, ông T3 và ông C1 tiếp tục điều khiển xe mô tô đến nhà của ông P để gặp bạn cùng nhau uống bia. Thời điểm này, tại nhà của ông P gồm có ông P; ông Lâm Quang T4, sinh ngày 04/08/1995; ông Thạch T2, sinh năm 1990; ông Thạch Đuông R, sinh ngày 20/05/1991 cùng nơi cư trú ấp L, xã L, huyện T, tỉnh Trà Vinh. Khi đến gặp
những người nêu trên, ông T3 và C1 kể lại nội dung xảy ra mâu thuẩn với bị cáo S2, T1 và ông N2. Một lúc sau cả nhóm nghỉ uống bia và cùng nhau ra về.
Khi ra về, ông T4 sử dụng xe ô tô của ông T4 nhãn hiệu HYUNDAI, màu sơn đen, biển số 19A-344.04, chở ông Đuông R. Ông T2 sử dụng xe mô tô có đặc điểm loại EXCITER, nhãn hiệu YAMAHA, có màu sơn đỏ - đen biển số 84G1-034.86 chở ông T3 (xe do ông The mượn của ông Nguyễn Văn P1, sinh năm 2000, ngụ ấp L, xã L, huyện T); ông C1 điều khiển xe mô tô có đặc điểm loại EXCITER, nhãn hiệu YAMAHA, có màu sơn xám - vàng biển số 84G1-790.68 của ông C1 chở Thạch Thị Quỳnh. Khi tất cả điều khiển xe đến đoạn đường nhựa thuộc khóm D, thị trấn T, huyện T, tỉnh Trà Vinh thì tiếp tục gặp bị cáo S2, T1 và ông N2. Khi gặp nhau, giữa hai bên tiếp tục xảy ra mâu thuẩn nên ông T4, T3, T2 và C1 đã rược đuổi và dùng tay đánh bị cáo S2, T1 và ông N2.
Do sợ bị nhóm của bị cáo S2, T1 và ông N2 chặn đường đánh trả lại nên nhóm của T4, T3, T2, C1 và Đuông R quay lại nhà của ông P để trốn. Thời điểm đến nhà của ông P thì ông T4 dừng và đậu xe ô tô cặp xác lề đường gần bên hong nhà của ông P, đầu xe quay về hướng quốc lộ E, đuôi xe quay ngược lại; ông C1 điều khiển xe mô tô dựng cùng chiều phía sau đuôi xe ô tô của ông T4. Riêng ông T2 thì dựng xe mô tô bên lề đường đối diện với xe mô tô của ông C1. Sau đó, tất cả cùng nhau trốn trong nhà của ông P.
Riêng đối với nhóm của bị cáo S2, T1 và ông N2 thì liên lạc với các đối tượng còn lại, cụ thể: Bị cáo T1 gọi điện thoại cho bị cáo K và bị cáo L; ông N2 điện thoại cho bị cáo S1 và ông V. Mục đích của bị cáo T1 và ông N2 là thông tin cho những người nêu trên biết đã bị người khác đánh và nhờ giúp đỡ. Thời điểm ông N2 gọi điện cho bị cáo S1 và ông V thì bị can T5 và ông Q2 đang ở cùng nên tất cả cùng rủ nhau đến nơi nhóm của bị cáo S2, T1 và ông N2 bị đánh để hổ trợ đánh trả lại. Sau đó, cả nhóm chuẩn bị hung khí mang theo để hổ trợ bị cáo S2, T1 và ông N2. Khi cả nhóm tập hợp đến nhà của ông P thì phát hiện nhóm người đã đánh T1, S và ông N2 trốn trong nhà ông P nên từng đối tượng đã sử dụng hung khí chuẩn bị sẵn trước khi đi và cùng có các hành động cùng nhau đập phá tài sản người khác, la hét lớn tiếng làm ảnh hưởng đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, cụ thể như sau:
Đối với bị cáo Võ Ngọc L: Bị cáo điều khiển xe mô tô trên tay cầm dao tự chế đến đường H, khi bước xuống xe bị cáo nghe la, hét lớn tiếng của nhóm bạn đi chung nội dung “Tụi nó ở trong nhà”. Xác định các đối tượng đánh bị cáo S2, T1 và ông N2 đang lẫn trốn trong nhà của ông P. Bị cáo cầm dao tự chế di chuyển đến bên hong nhà, đứng đối diện với cửa sổ nhà của ông P la, hét lớn tiếng “Tụi mày đâu hết trơn rồi”. Thời điểm này bị cáo nghe tiếng la, hét lớn phía sau lưng nội dung “Xe của tụi nó”. Khi quay lưng lại, bị cáo nhìn thấy xe mô tô có đặc điểm loại EXCITER, nhãn hiệu YAMAHA, có màu sơn xám - vàng, biển số 84G1-790.68 của ông C1 đã dựng trước đó. Lúc này, bị cáo tiếp tục cầm dao tự chế bằng tay trái di chuyển đến đứng cạnh xe mô tô nêu trên, đưa dao lên cao chém liên tục vào vùng đầu, hong và đuôi xe làm nhiều bộ phận của xe mô tô bị hư hỏng. Sau khi làm hư hỏng xe mô tô trên, bị cáo tiếp tục di chuyển đến ngã tư giao nhau giữa đường H và đường N để đợi nhóm bạn ra về.
Đối với bị cáo Nguyễn Văn S1: Khi được ông V điều khiển xe mô tô chở đến
hiện trường. Bị cáo cầm dao tự chế di chuyển đến đứng đối diện cửa sổ bên hong nhà của ông P la, hét lớn tiếng nội dung “Tụi mày đâu hết rồi”. Sau khi la hét lớn tiếng, bị cáo cầm dao tự chế bằng tay phải đưa lên cao chém nhiều cái vào hai cánh cửa sổ bằng kính, làm kính bị vỡ và hư hỏng. Tiếp tục bị cáo di chuyển đến cửa sổ bên cạnh, cầm dao tự chế bằng tay phải đứng đối diện đưa lên cao chém nhiều cái vào hai cánh cửa sổ bằng kính, làm kính bị vỡ và hư hỏng. Sau khi thực hiện hành vi xong bị cáo di chuyển đến ngã tư giao nhau giữa đường H và đường N để đợi nhóm bạn ra về.
Bị cáo Lê Minh T5: Khi đến hiện trường, bị cáo cầm dao tự chế mà bị cáo T1 đã sử dụng xong để xuống mặt đường nhựa la, hét lớn tiếng và di chuyển đến xe mô tô loại xe Exciter, nhãn hiệu YAMAHA, màu sơn đỏ - đen, biển số 84G1 – 034.86 của ông T2 đã dựng trước đó, chém liên tục 02 (hai) cái vào vùng đầu xe làm phần đầu xe mô tô bị hư hỏng. Thực hiện hành vi xong bị cáo đợi nhóm bạn ra về.
Bị cáo Ngô Duy K: Khi điều khiển xe mô tô một mình đến hiện trường, bị cáo cầm dao tự chế di chuyển đến đường N bên hong nhà của ông P la hét lớn tiếng nội dung “Tụi mày đâu ra đây”. Đồng thời khi nhìn thấy xe mô tô loại xe Exciter, nhãn hiệu YAMAHA, màu đỏ - đen, biển số 84G1 – 034.86 của ông T2. Bị cáo di chuyển đến cầm dao tự chế bằng tay phải đưa lên cao, chém nhiều cái liên tục vào vùng đầu xe và thân xe làm nhiều bộ phận bị hư hỏng. Sau khi thực hiện hành vi xong bị cáo tiếp tục di chuyển đến ngã tư giao nhau giữa đường H và đường N gần đó để đợi nhóm bạn ra về.
Đối với bị cáo Phan Thanh S: Khi được ông Q2 chở đến hiện trường, bị cáo xuống xe nhìn thấy trên lề đường H có 01 (một) cây tuýp sắt không rõ của ai để trước đó. Bị cáo nhặt đoạn tuýp sắt lên và di chuyển đến cạnh cửa sổ bên hong nhà của ông P la, hét lớn tiếng nội dung “Đụ má tụi mày ra đây”. Sau khi la hét lớn tiếng, bị cáo tiếp tục cầm đoạn tuýp sắt di chuyển đến xe mô tô biển số 84G1 – 790.68 đập liên tục nhiều cái vào phần đầu xe và đuôi xe làm nhiều bộ phận bị hư hỏng. Sau khi thực hiện các hành vi trên, bị cáo di chuyển đến lề đường H ngồi gần đó để đợi nhóm bạn ra về.
Đối với bị cáo Hồng Chí T1: Thời điểm đến hiện trường, bị cáo đứng trên đường H và nhìn thấy 01 (một) cây dao tự chế không rõ của ai để tại khu vực tại ngã tư giao nhau giữa đường H và đường N. Bị cáo di chuyển đến vị trí cây dao tự chế nhặt lấy cây dao. Nhặt dao xong, bị cáo vừa di chuyển về hướng xe mô tô biển số 84G1 – 034.86 vừa la lớn tiếng nội dung “Anh P mở cửa ra”. Khi đến gần xe mô tô nêu trên, bị cáo đã đưa dao lên cao chém liên tục 02 (hai) cái vào phần đuôi xe làm phần đuôi xe bị vỡ và hư hỏng. Đồng thời bị cáo nghe nhóm bạn của bị cáo la, hét lớn tiếng và nghe tiếng đập phá tài sản tại hiện trường. Sau khi thực hiện hành vi trên xong, bị cáo ngồi cạnh xe mô tô trên để đợi nhóm bạn của T1 ra về.
Đối với ông Trầm Quốc V: Điều khiển xe mô tô chở bị cáo S1 đến hiện trường, dựng xe trên đường H, trên tay cầm 01 (một) cây búa. Ông V bước xuống xe di chuyển đến vị trí mà ông P đang đứng khu vực bên ngoài nhà để nói chuyện với ông P. Xác định các đối tượng đã đánh bị cáo S2, T1 và ông N2 đang lẫn trốn trong nhà của ông P. Ông V yêu cầu ông P mở cửa để ông V tìm đánh trả lại. Tuy nhiên, ông P sợ xảy ra đánh nhau nên đã khuyên ngăn ông V nhiều lần. Do ông P không mở cửa, ông V đã di chuyển về hướng nhà của ông P và đến khu vực phía sau nhà để tìm những người đã
đánh bị cáo S2, T1 và ông N2. Do không mở cửa được, ông V đã di chuyển ngược lại đứng phía sau, gần hong nhà của ông P. Thời điểm này ông V nghe tiếng la, hét lớn tiếng và tiếng đập xe của người khác của nhóm bạn đi chung. Tuy nhiên, ông V không xác định cụ thể những ai đã la, hét và đập xe.
Đối với ông Nguyễn Văn N2: Thời điểm đến hiện trường, ông N2 di chuyển đến đường N. Ông N2 đứng gần xe ô tô nhãn hiệu HYUNDAI, màu sơn đen, biển số 19A-344.04 của ông T4, cạnh bên hong nhà của ông P la, hét lớn tiếng với nhiều nội dung nhằm tìm các đối tượng đánh bị cáo S2, T1 và ông N2. Tại vị trí ông N2 đứng, ông N2 nghe được nhóm bạn của ông N2 la, hét lớn tiếng và tiếng đập phá tài sản. Sau đó, ông N2 di chuyển xung quanh khu vực hiện trường cho đến khi lực lượng công an đến mời làm việc.
Đối với ông Dương Tấn Q2: Khi điều khiển xe mô tô chở bị cáo S đến hiện trường, ông Q2 dừng xe mô tô trên đường H. Sau đó, ông Q2 di chuyển đến đường N nhìn về hướng nhà của ông P, nghe thấy nhóm bạn của ông Q2 la, hét lớn tiếng xung quanh khu vực nhà của ông P. Sau đó, ông Q2 đến ngồi trên lề đường Hai Bà Trưng khu vực giao nhau giữa đường H và đường N để đợi nhóm bạn ra về.
Đối với Thạch Vũ P: Khi phát hiện các đối tượng nêu trên có nhiều người cầm hung khí tiến về khu vực nhà của mình. Ông P di chuyển từ hướng nhà của ông P đến gặp ông V đang cầm búa để khuyên ngăn. Khi ông V di chuyển ra phía sau nhà của ông P thì ông P di chuyển theo để khuyên ngăn không để vụ việc gây thương tích xảy ra. Sau đó, ông P di chuyển xung quanh khu vực nhà cho đến khi lực lượng Công an đến.
Căn cứ Bản kết luận định giá tài sản số 21/KL-HĐĐGTS, ngày 29/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T kết luận:
- Các bộ phận hư hỏng của 01 (một) xe mô tô loại EXCITER, nhãn hiệu YAMAHA, có màu sơn xám - vàng biển số 84G1-790.68 đã qua sử dụng có giá trị là 9.369.000đ;
- Các bộ phận hư hỏng của 01 (một) xe mô tô loại EXCITER, nhãn hiệu YAMAHA, có màu sơn đỏ đen biển số 84G1-034.86, đã qua sử dụng có giá trị là 4.174.500đ;
- Các bộ phận hư hỏng của 01 (một) xe ô tô con TUCSON, nhãn hiệu HYUNDAI, có màu sơn đen, biển số 19A-344.04, có giá trị là 15.700.000đ.
Ngày 27/6/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T ra Quyết định tạm giữ tài sản, đồ vật, tài liệu của các bị cáo có liên quan đến vụ nêu trên, cụ thể như sau: Tạm giữ từ bị cáo Phan Thanh S 01 (một) đoạn tuýp sắt dạng tròn, rỗng bị biến dạng, có tổng chiều dài 90 cm, đường kính 02 cm, một đầu đoạn tuýp sắt có gắn một bu lông có chiều dài 1,5 cm; tạm giữ từ bị cáo Võ Ngọc L 01 (một) cây dao bằng kim loại có tổng chiều dài 60 cm, cán dao có chiều dài 12,5 cm, chiều dài thân lưỡi dao 12,5 cm, chiều rộng lớn nhất thân lưỡi dao 47,5 cm, lưỡi dao sắc bén; tạm giữ từ bị cáo Nguyễn Văn S1 01 (một) cây dao bằng kim loại có tổng chiều dài 75,5 cm, cán dao dạng tròn, rỗng có chiều dài 40 cm, thân lưỡi dao có chiều dài 35,5 cm, chiều rộng lớn nhất thân lưỡi dao 7,5 cm, lưỡi dao sắc bén; tạm giữ từ bị cáo Ngô Duy K 01 (một) cây dao có tổng chiều dài 92 cm, cán dao có chiều dài 25 cm, được quấn dây vãi màu vàng, lưỡi dao bằng kim loại, có chiều dài 67 cm, chiều rộng lớn nhất 07 cm, lưỡi dao sắc bén, mũi dao nhọn; tạm giữ từ bị cáo Hồng Chí T1 01 (một) cây dao bằng kim loại
có tổng chiều dài 104 cm, cán dao dạng tròn, rỗng có chiều dài 74 cm, đường kính cán dao 02 cm, lưỡi dao có chiều dài 30 cm, dạng cong, sắc bén, chiều rộng lớn nhất của lưỡi dao 05 cm; tạm giữ từ ông Trầm Quốc V 01 (một) cây búa có tổng chiều dài 54,5 cm, cán búa bằng gỗ dạng tròn có chiều dài 48,5 cm, đường kính lớn nhất 03 cm, thân lưỡi búa bằng kim loại chiều rộng lớn nhất 06 cm, trên thân cán búa gần đầu lưỡi búa được quấn nhựa màu trắng; tạm giữ từ ông Lâm Quang T4 01 (một) xe ô tô con TUCSON, nhãn hiệu HYUNDAI, có màu sơn đen, biển số 19A-344.04, số máy: G4NALW715685, số khung: RLUC9W13BLN024808, đã qua sử dụng, một số bộ phận của xe ô tô bị hư hỏng gồm: Phần đầu capo bên trái xe (có vết móp và trầy xước), phần ốp lọc khí bên trái phía trước xe (có một vết nứt), 04 lốp xe nhãn hiệu MICHELLIN bị rách; tạm giữ từ ông Trần Minh C1 01 (một) xe mô tô loại EXCITER, nhãn hiệu YAMAHA, có màu sơn xám - vàng biển số 84G1-790.68 số máy: 55P136706, số khung: RLCE55P10EY367057, đã qua sử dụng, một số bộ phận của thân xe bên trái, phải, đầu xe và đuôi xe bị hư hỏng; tạm giữ từ ông Thạch T2 01 (một) xe mô tô loại EXCITER, nhãn hiệu YAMAHA, có màu sơn đỏ đen biển số 84G1-034.86 số máy: 55P1008596, số khung: RLCE55P10BY008598, đã qua sử dụng, một số bộ phận của thân xe bên trái, phải, đầu xe và đuôi xe bị hư hỏng; tạm giữ từ ông Thạch Vũ P 01 (một) cây dao bằng kim loại màu xám – đen (thường gọi là dao bấm), có tổng chiều dài 23 cm, cán dao có chiều dài 13 cm, lưỡi dao có chiều dài 10 cm, chiều rộng lớn nhất lưỡi dao 2,5 cm, lưỡi dao sắc bén, mũi dao nhọn; 01 (một) cây dao có tổng chiều dài 66 cm, cán dao bằng gỗ được sơn màu đỏ, chiều dài 20 cm, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng có chiều dài 46 cm, chiều rộng lớn nhát 4,5cm, lưỡi dao sắc bén, mũi dao nhọn, lưỡi dao có võ bọc bên ngoài bằng gỗ màu đỏ; 01 (một) cây búa bằng kim loại được sơn màu trắng, có tổng chiều dài 79cm, cán búa có chiều dài 74 cm, lưỡi búa sác bén có chiều dài 7,4cm.
- Ngày 24/10/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T ra Quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu, cụ thể như sau:
- Trao trả cho ông Lâm Quang T4: 01 (một) xe ô tô con TUCSON, nhãn hiệu HYUNDAI, có màu sơn đen, biển số 19A-344.04, số máy: G4NALW715685, số khung: RLUC9W13BLN024808, đã qua sử dụng; một số bộ phận của xe ô tô bị hư hỏng gồm: Phần đầu capo bên trái xe (có vết móp và trầy xước), phần ốp lọc khí bên trái phía trước xe (có một vết nứt), 04 lốp xe nhãn hiệu MICHELLIN bị rách.
- Trao trả cho ông Thạch T2: 01 (một) xe mô tô loại EXCITER, nhãn hiệu YAMAHA, có màu sơn đỏ đen biển số 84G1-034.86 số máy: 55P1008596, số khung: RLCE55P10BY008598, đã qua sử dụng; một số bộ phận của thân xe bên trái, phải, đầu xe và đuôi xe bị hư hỏng.
- Trao trả cho ông Trần Minh C1: 01 (một) xe mô tô loại EXCITER, nhãn hiệu YAMAHA, có màu sơn xám - vàng biển số 84G1-790.68 số máy: 55P136706, số khung: RLCE55P10EY367057, đã qua sử dụng; một số bộ phận của thân xe bên trái, phải, đầu xe và đuôi xe bị hư hỏng.
Riêng đối với 01 (một) cây búa có tổng chiều dài 54,5 cm; cán búa bằng gỗ dạng tròn có chiều dài 48,5 cm, đường kính lớn nhất 03 cm; thân lưỡi búa bằng kim loại chiều rộng lớn nhất 06 cm; trên thân cán búa gần đầu lưỡi búa được quấn nhựa màu trắng của ông Trầm Quốc V, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã xử lý bằng hình thức chuyển sang Công an huyện T cùng các tài liệu liên quan đến hành
vi vi phạm hành chính đề nghị Công an huyện T xử lý theo đúng quy định của pháp luật.
Đối ông Lâm Nhật T3, Lâm Quang T4, Trần Minh C1, Thạch T2 đã có hành vi cố ý gây thương tích cho người khác nhưng chưa đến mức phải chịu trách nhiệm hình sự nên Công an huyện T đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính với mỗi đối tượng 6.500.000 đồng (sáu triệu năm trăm nghìn đồng).
Riêng đối với ông Trầm Quốc V đã có hành vi vi phạm hành chính, cụ thể là mang theo trong người 01 (một) cây búa nhằm mục đích cố ý gây thương tích cho người khác. Ông Nguyễn Văn N2 có hành vi vi phạm hành chính, cụ thể là gây mất trật tự công cộng ở khu dân cư nên Công an huyện T đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Trầm Quốc V số tiền 4.000.000 đồng, Nguyễn Văn N2 số tiền 400.000 đồng.
Đối với các bị cáo Hồng Chí T1, Phan Thanh S và ông Nguyễn Văn N2 sau khi bị đánh như đã nêu trên. Do thương tích nhẹ không ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe nên bị cáo T1, S và ông N2 không nhập viện điều trị, từ chối giám định tỉ lệ tổn thương cơ thể và không yêu cầu bồi thường trách nhiệm dân sự. Đồng thời không yêu cầu xử lý các đối tượng đã thực hiện hành vi nêu trên.
Đối với thiệt hại tài sản của xe ô tô nêu trên của ông Lâm Quang T4 với tổng trị giá là 15.700.000 đồng. Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rỏ người gây ra thiệt hại để xử lý theo đúng quy định của pháp luật.
Tại Cáo trạng số 28/CT-VKS-HS, ngày 22/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh truy tố các bị cáo Võ Ngọc L, Nguyễn Văn S1, Ngô Duy K, Phan Thanh S, Hồng Chí T1 về tội cố ý làm hư hỏng tài sản quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, các bị cáo bị cáo Võ Ngọc L, Nguyễn Văn S1, Ngô Duy K, Phan Thanh S, Hồng Chí T1 thừa nhận có hành vi làm hư hỏng tài sản của các bị hại đúng như cáo trạng truy tố, các bị cáo không thay đổi lời khai.
Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại là ông Thạch Vũ P, Trần Minh C1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Văn P1 vắng mạt tại phiên tòa, nhưng quá trinh điều tra đã nhận tiền bồi thường thiệt hại của các bị cáo thông qua ông Trầm Quốc V là người đại diện giao nhận tiền, cụ thể: Ông P nhận 400.000 đồng; ông C1 nhận 8.473.000 đồng; ông P1 nhận 6.261.000 đồng nên không có yêu cầu gì khác.
Phần luận tội, sau khi phân tích các yếu tố cấu thành tội phạm, nhân thân, điều kiện, hoàn cảnh, tính chất mức độ hành vi của các bị cáo, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, vai trò, vị trí của từng bị cáo. Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị tuyên bố các bị cáo bị cáo Võ Ngọc L, Nguyễn Văn S1, Ngô Duy K, Phan Thanh S, Hồng Chí T1 phạm tội “cố ý làm hư hỏng tài”;
- Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, các điều 17, 58, 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Xử phạt bị cáo Võ Ngọc L từ 09 tháng tù đến 01 năm tù.
- Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, các điều 17, 58, 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Xử phạt bị
cáo Ngô Duy K từ 06 tháng tù đến 09 tháng tù. Xử phạt bị cáo Phan Thanh S từ 06 tháng tù đến 09 tháng tù.
- Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, các điều 17, 58, 35 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S1 từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng.
- Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, các điều 17, 58, 65 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Xử phạt bị cáo Hồng Chí T1 từ 09 tháng đến 12 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện T, tỉnh T giám sát, giáo dục.
Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại là ông Thạch Vũ P, Trần Minh C1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Văn P1 đã nhận tiền bồi thường thiệt hại của các bị cáo thông qua ông Trầm Quốc V là người đại diện giao nhận tiền, cụ thể: Ông P nhận 400.000 đồng; ông C1 nhận 8.473.000 đồng; ông P1 nhận 6.261.000 đồng nên không có yêu cầu gì khác nên không xem xét. Về án phí đề nghị buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Việc xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Đề nghị tịch thu và tiêu huỷ toàn bội vật chứng là hung khí gây án.
Các bị cáo không phát biểu tự bào chữa: Không
Các bị cáo nói lời sau cùng: Xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Các bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa không có lý do, nhưng việc vắng mặt này của các đương sự không cản trở việc giải quyết bồi thường nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2] Căn cứ vào lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ chứng cứ xác định khoảng 23 giờ 30 phút, ngày 24/6/2023, tại khu vực nhà của ông Thạch Vũ P thuộc khóm C, thị Trấn T, huyện T, tỉnh Trà Vinh, các bị cáo Võ Ngọc L, Nguyễn Văn S1, Ngô Duy K, Phan Thanh S, Hồng Chí T1 đã có hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản của ông Thạch Vũ P là 04 (bốn) tấm kính cửa sổ nhà có giá trị là 365.000 đồng, của ông Trần Minh C1 là nhiều bộ phận trong xe mô tô loại EXCITER, nhãn hiệu YAMAHA, có màu sơn xám - vàng biển số 84G1-790.68 có giá trị là 9.369.000 đồng, của ông Thạch T2 là nhiều bộ phận trong xe mô tô loại EXCITER, nhãn hiệu YAMAHA, màu sơn đỏ - đen biển số 84G1-034.864 có giá trị là 4.174.500 đồng, vai trò của từng bị cáo đập phá từng loại tài sản đúng như nội dung cáo trạng truy tố, tổng giá trị thiệt hại là 13.908.500 đồng.
[3] Xét thấy lời khai nhận tội của các bị cáo Võ Ngọc L, Nguyễn Văn S1, Ngô Duy K, Phan Thanh S, Hồng Chí T1 là phù hợp với nhau, phù hợp với hiện trường vụ án, phù hợp với thời gian các bị cáo có mặt tại hiện trường vụ án, phù hợp với vật
chứng thu giữ tại hiện trường vụ án, phù hợp với biên bản lấy lời khai các bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và những người làm chứng. Căn cứ Bản kết luận định giá tài sản số 21/KL-HĐĐGTS, ngày 29/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T tổng giá trị thiệt hại là 13.908.500 đồng. Hành vi của các bị cáo Võ Ngọc L, Nguyễn Văn S1, Ngô Duy K, Phan Thanh S, Hồng Chí T1 đã xâm phạm đến sở hữu tài sản của các bị hại, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, gây hoang mang cho người dân khi các bị cáo sử dụng hung khí nguy hiểm tấn công tài sản của các bị hại. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, động cơ, mục đích các bị cáo ban đầu tìm các bị hại để gây thương tích, nhưng do các bị hại trốn nên các bị cáo đập phá tài sản nhằm thỏa mãn tức giận. Hành vi nguy hiểm cho xã hội của từng bị cáo thực hiện thể hiện có sự tiếp nhận ý chí của nhau, hỗ trợ nhau về mặt tinh thần nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự chung về số thiệt hại xảy ra bằng 13.908.500 đồng. Do đó, Cáo trạng số 28/CT-VKS-HS, ngày 22/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh truy tố các bị cáo Võ Ngọc L, Nguyễn Văn S1, Ngô Duy K, Phan Thanh S, Hồng Chí T1 về tội cố ý làm hư hỏng tài sản quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ.
[4] Về vai trò các bị cáo như sau: Bị cáo Võ Ngọc L là người chủ mưu cầm đầu trong vụ án, tiếp theo là bị cáo bị cáo S, bị cáo K, bị cáo S1 và bị cáo T1. Xét về nhân thân thì bị cáo L, bị cáo S1, bị cáo K đều có nhân thân xấu, đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh nhau; bị cáo L còn bị kết án về tội gây rối trật tự công cộng. Bị cáo S đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi gây mất trật tự công cộng.
[4] Để góp phần bảo đảm trật tự, an toàn xã hội bảo vệ cuộc sống bình yên của người dân thì hành vi của các bị cáo cần phải được xử lý nghiêm minh theo pháp luật, nhằm để giáo dục, cải tạo các bị cáo, đồng thời để răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội đối với những hành vi tươngKhi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cũng xem xét các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố các bị cáo đã ăn năn hối cãi, thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình; đã tự nguyện bồi thường hoàn toàn thiệt hại cho bị hại và người liên quan. Bị cáo T1 có nhân thân tốt, bị cáo S thuộc diện gia đình có công với cách mạng, các bị cáo L, K, S1 có trình độ học vấn thấp nên khả năng nhận thức pháp luật có phần hạn chế. Các bị cáo T1, K, S, S1 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để giảm hình phạt cho các bị cáo tương ứng quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Hội đồng xét xử nhận thấy quan điểm đề nghị mức hình phạt đối với từng bị cáo là phù hợp, có xem xét cá thể hóa thiệt hại từng bị cáo gây ra nhằm giúp các bị cáo sửa chữa sai lầm của bản thân, hưởng sự khoan hồng của pháp luật nên được chấp nhận,
[5] Các bị hại là ông Thạch Vũ P, Trần Minh C1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Văn P1 đã nhận tiền bồi thường thiệt hại của các bị cáo thông qua ông Trầm Quốc V là người đại diện giao nhận tiền, cụ thể: Ông P nhận 400.000 đồng; ông C1 nhận 8.473.000 đồng; ông P1 nhận 6.261.000 đồng nên không có yêu cầu gì khác nên không xem xét.
[6] Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên tịch thu và tiêu hủy toàn bộ hung khí các bị cáo sử dụng gây án.
[7] Theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án thì các bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[8] Hội đồng xét xử đã thẩm tra các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố và thấy rằng các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, những người bào chữa được thực hiện đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự nên hợp pháp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố các bị cáo bị cáo Võ Ngọc L, Nguyễn Văn S1, Ngô Duy K, Phan Thanh S, Hồng Chí T1 phạm tội “cố ý làm hư hỏng tài”.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 178; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 và Điều 17, 58 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Xử phạt bị cáo Võ Ngọc L 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/02/2024.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 178; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 và Điều 17, 58 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Xử phạt bị cáo Ngô Duy K 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/02/2024.
Xử phạt bị cáo Phan Thanh S 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày đi chấp hành án, nhưng được trừ thời gian đã bị tạm giam từ ngày 02/02/2024 đến ngày 15/3/2024.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 178; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 35 và Điều 17, 58 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S1 15.000.000 đồng là hình phạt chính.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 178; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 và Điều 17, 58 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Xử phạt bị cáo Hồng Chí T1 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng, kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo Hồng Chí T1 cho Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện T, tỉnh Trà Vinh giám sát, giáo dục.
Trường hợp bị cáo Hồng Chí T1 thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Hồng Chí T1 cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo Hồng Chí T1 phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Về bồi thường thiệt hại: Đã thoả thuận giải quyết xong trong giai đoạn điều tra.
Việc xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu và tiêu huỷ: Của bị cáo Phan Thanh S 01 (một) đoạn tuýp sắt dạng tròn, rỗng bị biến dạng, có tổng chiều dài 90 cm, đường kính 02 cm, một đầu đoạn tuýp sắt có gắn một bu lông có chiều dài 1,5 cm; tạm giữ từ bị cáo Võ Ngọc L 01 (một) cây dao bằng kim loại có tổng chiều dài 60 cm, cán dao có chiều dài 12,5 cm, chiều dài thân lưỡi dao 12,5 cm, chiều rộng lớn nhất thân lưỡi dao 47,5 cm, lưỡi dao sắc bén; tạm giữ từ bị cáo Nguyễn Văn S1 01 (một) cây dao bằng kim loại có tổng chiều dài 75,5 cm, cán dao dạng tròn, rỗng có chiều dài 40 cm, thân lưỡi dao có chiều dài 35,5 cm, chiều rộng lớn nhất thân lưỡi dao 7,5 cm, lưỡi dao sắc bén; tạm giữ từ bị cáo Ngô Duy K 01 (một) cây dao có tổng chiều dài 92 cm, cán dao có chiều dài 25 cm, được quấn dây vãi màu vàng, lưỡi dao bằng kim loại, có chiều dài 67 cm, chiều rộng lớn nhất 07 cm, lưỡi dao sắc bén, mũi dao nhọn; tạm giữ từ bị cáo Hồng Chí T1 01 (một) cây dao bằng kim loại có tổng chiều dài 104 cm, cán dao dạng tròn, rỗng có chiều dài 74 cm, đường kính cán dao 02 cm, lưỡi dao có chiều dài 30 cm, dạng cong, sắc bén, chiều rộng lớn nhất của lưỡi dao 05 cm; tạm giữ từ ông Thạch Vũ P 01 (một) cây dao bằng kim loại màu xám – đen (thường gọi là dao bấm), có tổng chiều dài 23 cm, cán dao có chiều dài 13 cm, lưỡi dao có chiều dài 10 cm, chiều rộng lớn nhất lưỡi dao 2,5 cm, lưỡi dao sắc bén, mũi dao nhọn; 01 (một) cây dao có tổng chiều dài 66 cm, cán dao bằng gỗ được sơn màu đỏ, chiều dài 20 cm, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng có chiều dài 46 cm, chiều rộng lớn nhát 4,5cm, lưỡi dao sắc bén, mũi dao nhọn, lưỡi dao có võ bọc bên ngoài bằng gỗ màu đỏ; 01 (một) cây búa bằng kim loại được sơn màu trắng, có tổng chiều dài 79cm, cán búa có chiều dài 74 cm, lưỡi búa sác bén có chiều dài 7,4cm.
Về án phí: Buộc mỗi bị cáo Võ Ngọc L, Nguyễn Văn S1, Ngô Duy K, Phan Thanh S, Hồng Chí T1 phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Các bị cáo Võ Ngọc L, Nguyễn Văn S1, Ngô Duy K, Phan Thanh S, Hồng Chí T1 có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Các bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án niêm yết công khai hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh xét xử phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Truyền |
Bản án số 39/2024/HS-ST ngày 02/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ CÚ, TỈNH TRÀ VINH về cố ý làm hư hỏng tài sản
- Số bản án: 39/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý làm hư hỏng tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ CÚ, TỈNH TRÀ VINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Võ Ngọc Lãm hủy hoại tài sản
