|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG TỈNH TÂY NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 39/2024/HS-ST Ngày 17-5-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Phương Yến.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Minh Lý;
Ông Trần Văn Hùng.
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thanh Trúc - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Lê Hoàng Anh – Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số: 13/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 02 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2024/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
Phạm Linh T, sinh năm 1994, tại tỉnh Tây Ninh; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và nơi cư trú hiện nay: Khu phố L, phường L, thị xã T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: không có; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không có; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn T1 và bà Trương Thị Ổ; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không có; nhân thân: Quyết định số 28/QĐ-TA ngày 30-3-2017 của Tòa án nhân dân huyện Trảng Bàng (nay là thị xã T), tỉnh Tây Ninh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 18 tháng, đã chấp hành xong ngày 11-02-2019; bị bắt quả tang và tạm giữ ngày 25-12-2023, tạm giam từ ngày 28-12-2023 đến nay; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Trương Thị Ổ, sinh năm 1969; cư trú tại: khu phố L, phường L, thị xã T, tỉnh Tây Ninh. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 12 giờ 45 phút ngày 25-12-2023, tại khu phố L, phường L, thị xã T, tỉnh Tây Ninh, Công an thị xã T kiểm tra, phát hiện bắt quả tang Phạm Linh T đang tàng trữ trái phép 01 bịch nylon trong suốt được hàn kín, bên trong có 01 bịch nylon trong suốt được hàn kín, bên trong có chứa tinh thể rắn (nghi là chất ma túy, kí hiệu M1). Thu giữ thêm một số vật chứng khác có liên quan.
Qua điều tra, thể hiện: Vào khoảng 12 giờ ngày 25-12-2023, do có nhu cầu sử dụng chất ma túy nên Phạm Linh T điều khiển xe mô tô biển số 70F7-3011 đến khu vực ngã tư A thuộc khu phố A, phường A, thị xã T, tỉnh Tây Ninh, gặp người đàn ông khoảng 30 tuổi (không rõ họ tên, địa chỉ) mua 01 bịch chất ma túy với số tiền 400.000 đồng, cất giấu trong túi quần bên trái phía trước Tính đang mặc. Đến khoảng 12 giờ 45 phút cùng ngày, T điều khiển xe mô tô trên đến nhà trọ “Tường Vy” thuộc khu phố L, phường L, thị xã T, tỉnh Tây Ninh thì bị phát hiện bắt quả tang.
Tại Kết luận giám định số 2052/KL-KTHS ngày 28-12-2023 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận:
- Mẫu tinh thể rắn (ký hiệu M1) bên trong bịch nylong trong suốt được hàn kín gửi đến giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,7093 gam.
Tại Cáo trạng số 14/CT-VKSTrB ngày 23 tháng 02 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng đã truy tố Phạm Linh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã truy tố.
Trong phần tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Về hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Phạm Linh T từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- - Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- - Về biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không tranh luận.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Linh T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng đã truy tố. Xét lời nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, có cơ sở xác định:
Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên vào khoảng 12 giờ 45 phút ngày 25-12-2023 tại nhà trọ “Tường Vy” thuộc khu phố L, phường L, thị xã T, tỉnh Tây Ninh, Phạm Linh T đang tàng trữ 0,7093 gam chất ma túy để sử dụng thì bị bắt quả tang.
Do đó, có đủ cơ sở xác định bị cáo Phạm Linh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
[3] Vụ án mang tính chất nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Bản thân bị cáo là người nghiện ma túy, bị cáo biết rõ việc sử dụng trái phép chất ma túy gây nguy hại cho sức khỏe con người nhưng bị cáo vẫn cố ý tàng trữ để sử dụng. Do đó, cần có một mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để có tính giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử còn xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bị cáo nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, bị cáo là người nghiện ma túy, có nhân thân xấu, ngày 30-3-2017 Tòa án nhân dân huyện Trảng Bàng (nay là thị xã T), tỉnh Tây Ninh đã áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Do đó, cần phải xử phạt nghiêm bị cáo để răn đe, giáo dục bị cáo.
[5] Về hình phạt bổ sung: Qua điều tra, xác minh bị cáo không có tài sản nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Đối với hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” của Phạm Linh T Công an thị xã T xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp.
Đối với người đàn ông 30 tuổi mà T khai có bán chất ma túy cho T, hiện không rõ địa chỉ và chưa làm việc được, Cơ quan điều tra đang tiếp tục làm rõ để xử lý sau.
[7] Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 (một) gói niêm phong ghi vụ số: 2052/KL-KTHS ngày 28-12-2023, có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Văn N và Trợ lý giám định Phan Quốc V và dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh T. Sau giám định bên trong còn lại 0,5198 gam chất ma túy, loại Methamphetamine là chất cấm lưu hành nên cần tịch thu, tiêu hủy.
Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105, màu hồng, số sê ri 356472063955802, bên trong có 01 sim số 0349 591 256 (đã qua sử dụng), bị cáo không sử dụng điện thoại di động này để liên lạc mua trái phép chất ma túy nên cần trả lại cho bị cáo.
Đối với 01 (một) bật lửa màu vàng (đã qua sử dụng), 01 (một) bật lửa màu trắng, bên trong có 02 (hai) hột xí ngầu màu xanh – vàng (đã qua sử dụng), 01 (một) ống thủy tinh trong suốt dạng phễu, bên trong không chứa gì: là dụng cụ để bị cáo T sử dụng ma túy, không có giá trị nên tịch thu và tiêu hủy.
Đối với 01 (một) xe mô tô, loại xe hai bánh, nhãn hiệu HONOR, loại xe Dream, màu nâu, biển số 70F7-3011. Qua xác minh, xe này do ông Lê Hoàng M đứng tên giấy chứng nhận, năm 2010 đã bán cho người khác, không nhớ rõ họ tên, địa chỉ nhưng chưa làm thủ tục sang tên. Hiện tại bà Trương Thị Ổ là người quản lý, sử dụng, bà Ổ cho rằng mua lại xe này vào năm 2015 và bà không biết bị cáo T sử dụng xe này để đi mua ma túy. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T đã trả lại xe mô tô này cho bà Ổ là phù hợp.
[8] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng tại phiên tòa là có căn cứ.
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Phạm Linh T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 25-12-2023.
2. Xử lý vật chứng: Căn cứ vào các điều 46, 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
2.1. Tịch thu tiêu hủy các vật chứng sau:
- - 01 (một) gói niêm phong ghi vụ số: 2052/KL-KTHS ngày 28-12-2023, có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Văn N và Trợ lý giám định Phan Quốc V và dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh T. Sau giám định bên trong còn lại 0,5198 (không phẩy năm một chín tám) gam chất ma túy, loại Methamphetamine.
- - 01 (một) bật lửa màu vàng (đã qua sử dụng); 01 (một) bật lửa màu trắng, bên trong có 02 (hai) hột xí ngầu màu xanh – vàng (đã qua sử dụng); 01 (một) ống thủy tinh trong suốt dạng phễu, bên trong không chứa gì.
2.2. Trả lại cho bị cáo 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105, màu hồng, số sê ri 356472063955802, bên trong có 01 sim số 0349 591 256 (đã qua sử dụng).
3. Án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Phạm Linh T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- - Vụ GĐKT TANDTC (Vụ 1);
- - TAND Cấp cao tại TP.HCM;
- - VKSND Cấp cao TP.HCM;
- - Phòng KTNV.TAND tỉnh Tây Ninh;
- - VKSND tỉnh Tây Ninh;
- - VKSND thị xã Trảng Bàng;
- - Cơ quan Thi hành án Hình sự;
- - Phòng lý lịch Sở Tư pháp tỉnh Tây Ninh;
- - Chi cục THADS thị xã Trảng Bàng;
- - Nhà tạm giữ CA thị xã Trảng Bàng;
- - Bị cáo;
- - Người tham gia tố tụng khác;
- - Lưu hồ sơ;
- - Lưu tập án.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Võ Thị Phương Yến |
Bản án số 39/2024/HS-ST ngày 17/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 39/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Linh T
