Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

HUYỆN HỚN QUẢN

TỈNH BÌNH PHƯỚC

Độc lập- Tự do- Hạnh phúc

Bản án số: 39/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 17-5-2024

V/v “Ly hôn”

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Học

Các hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Phạm Quốc Vượng
  2. Bà Phạm Thị Thanh Hương

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Long – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Hùng – Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản xét xử sơ thẩm, công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 16/2024/TLST - HNGĐ ngày 17 tháng 01 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 19/4/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 21/QĐST-HPT ngày 26/4/2024 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Trần Huỳnh Hoài N, sinh năm 1991 (có yêu cầu vắng mặt)
  • Địa chỉ: Tổ A, ấp C, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước
  • - Bị đơn: Anh Nguyễn Trung T, sinh năm 1991 (vắng mặt)
  • Địa chỉ: Tổ A, ấp C, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và biên bản ghi lời nguyên đơn chị Trần Huỳnh Hoài N trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Huỳnh Hoài N và anh Nguyễn Trung T kết hôn năm 2017, có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 35 ngày 03/10/2017 của Ủy ban nhân dân xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm nên thường xảy ra tranh cãi khiến cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, mâu thuẫn kéo dài dẫn đến vợ chồng không còn tình cảm, không có sự quan tâm, lo lắng cho nhau nên chị N yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Trung T.

Về con chung: Chị N và anh T có 01 con chung là Nguyễn Quốc B, sinh ngày 08/10/2017, khi ly hôn chị N yêu cầu trược tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Tài sản chung và nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Nguyễn Trung T vắng mặt không lý do, quá trình giải quyết vụ án không cung cấp ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị N.

Phát biểu của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát:

Về tố tụng: Thẩm phán đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự về việc thu thập chứng cứ, giải quyết vụ án từ khi, nhận đơn, thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử mở phiên toà. Tại phiên toà hôm nay, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Xét thấy chị N yêu cầu ly hôn với anh T do quá trình chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân đã không đạt được nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện, cho chị N được ly hôn với anh T. Giao con chung Nguyễn Quốc B cho chị N nuôi dưỡng. Chị N không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Chị Trần Huỳnh Hoài N yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Trung T, bị đơn có nơi cư trú tại huyện H, nên đây là vụ án Ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước theo khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

Chị N có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt nguyên đơn. Bị đơn anh T vắng mặt lần thứ 2 tại phiên tòa mà không có lý do, nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị N và anh T tự nguyện chung sống và đăng ký kết hôn năm 2017 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước theo Giấy chứng nhận kết hôn số 35 ngày 03/10/2017 nên đây là hôn nhân hợp pháp theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.

Xét yêu cầu ly hôn của chị N, Hội đồng xét xử thấy rằng: mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, chị N và anh T đã không còn chung sống cùng nhau nên cho thấy tình cảm vợ chồng đã không còn, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Tại biên bản xác minh ngày 29/02/2024 xác định, quá trình chung sống chị N và anh T có xảy ra mâu thuẫn, từ đó xác định mâu thuẫn giữa chị N và anh T là có thật. Đồng thời, quá trình giải quyết anh T không tham gia hòa giải tại Tòa án, không thể hiện mong muốn vợ chồng được đoàn tụ, cho thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng không thể hàn gắn nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện, cho chị N được ly hôn với anh Nguyễn Trung T.

[3] Về con chung: Khi ly hôn chị N yêu cầu nuôi con chung Nguyễn Quốc B, Hội đồng xét xử nhận thấy, hiện tại anh T và chị N đã không còn chung sống cùng nhau, con chung đang do chị N trược tiếp nuôi dưỡng nên khi ly hôn giao con chung cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp và cũng đảm bảo quyền lợi của con chưa thành niên khi cha mẹ ly hôn.

Chị N không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không giải quyết.

[4] Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

[5] Về nợ chung không có nên không xem xét.

[6] Về án phí: Nguyên đơn chị Trần Huỳnh Hoài N phải chịu 300.000đ án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm được trừ vào tạm ứng án phí đã nộp.

[7] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với nhận địnhc của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ nêu trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; các điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Q:

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Huỳnh Hoài N ly hôn với anh Nguyễn Trung T.
  2. Về con chung: Giao con chung Nguyễn Quốc B, sinh ngày 08/10/2017 cho chị Trần Huỳnh Hoài N trực tiếp nuôi dưỡng.

Chị Trần Huỳnh Hoài N không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không giải quyết.

Không ai được quyền cản trở việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Vì quyền lợi của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi mức cấp dưỡng hoặc người trực tiếp nuôi con.

  1. Về án phí: Nguyên đơn chị Trần Huỳnh Hoài N phải chịu 300.000đ án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm được trừ vào tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0005020 ngày 12/01/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước.
  2. Quyền kháng cáo:

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định./.

Nơi nhận :

  • - TAND tỉnh Bình Phước;
  • - VKSND huyện Hớn Quản
  • - Các đương sự
  • - Nơi ĐKKH
  • - CCTHADS huyện Hớn Quản
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Đình Học

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 39/2024/HNGĐ-ST ngày 17/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC về ly hôn

  • Số bản án: 39/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: a
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger