|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU TỈNH NAM ĐỊNH Bản án số: 39/2024/HS-ST Ngày 17-5-2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU, TỈNH NAM ĐỊNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Ngô Thị Hòe
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Văn Kiêm - Cán bộ nghỉ hưu xã Hải Hà;
- Ông Mai Thanh Tùng - Chánh Văn phòng Huyện ủy huyện Hải Hậu - Nguyên Bí thư Huyện đoàn huyện Hải Hậu.
Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Hương - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Huê - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 33/2024/TLST- HS ngày 10 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 4 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 02/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Trương Thị N, sinh năm 1965; nơi sinh: Xã H, huyện H, tỉnh Nam Định; nơi cư trú: Xóm P, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Tự do; Đoàn, Đảng: Không; trình độ học vấn: 7/10; con ông Trương Văn K, sinh năm 1912 (đã chết) và bà Phạm Thị M, sinh năm 1932 (đã chết); gia đình có 04 anh chị em ruột, bị cáo là thứ ba; bị cáo có chồng là Phạm Văn T, sinh năm 1962 (đã chết); bị cáo có 03 con: Con lớn nhất sinh năm 1985, con nhỏ nhất sinh năm 1995; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/12/2023 đến ngày 28/12/2023 thì được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”.
2. Đoàn Văn V, sinh năm 1996; nơi sinh và nơi cư trú: Xóm A, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Tự do; Đoàn, Đảng: Không; trình độ học vấn: 9/12; con ông Đoàn Văn K1, sinh năm 1960 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1960; gia đình bị cáo có 04 anh chị em, bị cáo là thứ tư; bị cáo có vợ là chị Hoàng Thị Thanh H1, sinh năm 1999 và 03 con, lớn nhất sinh năm 2019, nhỏ nhất sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/12/2023 đến ngày 28/12/2023 được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”.
3. Trần Trung T1, sinh năm 2003; nơi sinh và nơi cư trú: Xóm B, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định; quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Tự do; Đoàn, Đảng: Không; trình độ học vấn: 11/12; con ông Trần Văn C, sinh năm 1974 và bà Lại Thị T2, sinh năm 1975; gia đình bị cáo có 03 anh chị em, bị cáo là thứ hai; vợ con: chưa có; tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/12/2023 đến ngày 28/12/2023 được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”.
* Bị hại:
- Chị Lý Thị Thanh H2, sinh ngày 20/02/2007. Nơi cư trú: Bản N, xã B, huyện M, tỉnh Lai Châu.
- Chị Ky Xa L, sinh ngày 01/12/2006. Nơi cư trú: Bản P, xã M, huyện M, tỉnh Lai Châu.
*Người làm chứng:
- Ông Đăng Đình M1, sinh năm 1955;
- Anh Trần Thái H3, sinh năm 1999;
- Chị Lỳ Hà D, sinh năm 2005;
- Chị Lò Mì X, sinh ngày 13/7/2007;
- Chị Giàng Xè X1, sinh ngày 19/8/2007;
- Chị Vàng Mì D1, sinh ngày 27/9/2007;
*Người đại diện hợp pháp của Ky X, Lý Thị Thanh H2, Vàng Mì D2, Lò Mì X, Giàng Xè X1: Anh Phạm Văn Đ – Bí thư Đoàn thanh niên thị trấn Y, huyện H, tỉnh Nam Định.
(Có mặt các bị cáo; vắng mặt chị H2, Xa L1, anh Đ, Hà D3, M, X, M, ông M1, anh H3).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trương Thị N là chủ quán karaoke "New Life" ở xóm P, xã H, huyện H. Từ tháng 11/2023, N thuê Lý Thị Thanh H2 (sinh ngày 20/02/2007); Vàng Mì D2 (sinh ngày 27/9/2007); Lò Mì X (sinh ngày 13/7/2007); Lỳ Ha D4 (sinh ngày 16/4/2005); K2 (sinh ngày 01/12/2006) làm nhân viên phục vụ bấm bài, rót bia, hát cùng khách và ăn ở sinh hoạt tại quán. Cùng với việc kinh doanh dịch vụ hát karaoke, N còn cho các nhân viên trên đi bán dâm nếu khách hát có nhu cầu mua dâm. Trong trường hợp khách tự đặt vấn đề mua dâm với nhân viên thì các nhân viên phải xin ý kiến của N, nếu N đồng ý thì nhân viên mới được đi bán dâm cho khách. Nụ và các nhân viên thỏa thuận giá bán dâm cho khách là 1.500.000 đồng/01 lượt, chia Nụ hưởng 500.000 đồng và người bán dâm hưởng 1.000.000 đồng.
Khoảng 22 giờ ngày 18/12/2023, Đoàn Văn V rủ Trần Trung T1 và Trần Thái H3 đến quán karaoke "N" hát karaoke. Tại phòng Vip3 của quán, sau khi hát được khoảng 10 phút, V đi ra quầy lễ tân đặt vấn đề với N: "Cho cháu 03 nhân viên nữ vào hát cùng", N gọi Lý Thị Thanh H2, Vàng Mì D5, Lò Mì X vào phòng hát cùng V, T1, H3. Trong thời gian hát, V đặt vấn đề mua dâm với H2. H2 đi ra quầy lễ tân gặp N nói: “Khách rủ con đi chơi”, N hiểu ý là khách có nhu cầu mua dâm với H2 nên trả lời: “Đấy tùy con, nếu con đồng ý thì bà cho đi”. H2 thỏa thuận với Vụ giá bán dâm là 1.500.000đ.
Khoảng 00 giờ 10 phút ngày 19/12/2023, V đi ra gặp N thanh toán tiền hát và quay lại phòng hát ngồi cạnh H2. Trong lúc N viết hóa đơn tại quầy lễ tân thì T1, H3 ngồi chơi tại ghế ở gần đó, Học hỏi Nụ: “Có nhân viên nào đi chơi với cháu không cô?”, nghĩa là H3 muốn tìm nhân viên nữ để mua dâm, N đồng ý nói: “Đi theo cô” và chỉ tay về phía phòng hát trước đó. T1 không nói gì và cùng H3 đi vào phòng hát Vip 3, N đi phía sau. Khi vào phòng, thấy Vàng Mì D1, Lò Mì X, Ky X và Lỳ H đang dọn dẹp phòng, Học hỏi: “Có em nào đi chơi với anh không?”, T1 cũng nói theo: “Có em nào đi chơi với anh không?”. Lúc này, N nói “Đi chơi với các anh”, hiểu ý của N bảo đi bán dâm cho H3, T1 nên Ky Xa L1 đồng ý đi theo T1, Lỳ H cũng đồng ý đi bán dâm cho H3. Nụ mở cửa nhà cho V, T1, H3 cùng H2, L1, D1 đi mua bán dâm với nhau.
Khoảng 00 giờ 30 ngày 19/12/2023, Vụ, T1, H3 cùng H2, L1, D1 đi bộ đến nhà nghỉ H4 thuộc xóm P, xã H, huyện H (do ông Đặng Đình M2, làm chủ) thuê 03 phòng nghỉ. Vụ cùng H2 vào phòng 201, T1 cùng L1 vào phòng 203, H3 cùng D1 vào phòng 205 để mua bán dâm. Tại phòng 201, Vụ trả cho H2 số tiền 2.000.000 đồng. Cùng lúc này, N sử dụng nick zalo tên “Truong Thi N1” nhắn tin vào nick zalo tên “H” của H2 với nội dung: “Bà nhờ sang bảo bọn nó thu mỗi đứa 1.500.000 đồng thì thu trước đi”. Do đang bán dâm và không biết phòng của L1 và D1 ở đâu nên H2 không truyền đạt lại. Các đối tượng tự cởi quần áo của bản thân nằm ôm nhau trên giường để kích dục. Khi dương vật đã cương cứng, H3 lấy trong ngăn kéo tủ phòng nghỉ 01 bao cao su có dòng chữ “BOLE” màu đen có sẵn và tự xé vỏ đeo vào dương vật để quan hệ tình dục với D1. Vụ và H2, T1 và L1 đều đã cởi hết quần áo mặc trên người, đang nằm ôm nhau trên giường thì bị tổ công tác Công an huyện H tiến hành kiểm tra hành chính nhà nghỉ H4 3 phát hiện lập biên bản vi phạm vào hồi 01 giờ 30 phút cùng ngày.
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ của ông Đặng Đình M2 01 giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh; 01 sổ lưu trú của nhà nghỉ; 03 căn cước công dân mang tên Trần Thái H3, Trần Trung T1, Đoàn Văn V; thu giữ của Đoàn Văn V 01 điện thoại di động Iphone 12 Promax màu xanh và số tiền 12.400.000 đồng; của Lý Thị Thanh H2 2.000.000 đồng, 01 căn cước công dân và 01 điện thoại di động Iphone 11 Promax màu xanh gắn sim số 0373.795.861; của Trần Trung T1 01 điện thoại di động Galaxy A04S màu đen; Trần Thái H3 01 điện thoại di động OPPO A57 màu xanh; của Lỳ Hà De 01 điện thoại di động Iphone XS MAX màu vàng đồng và 01 vỏ bao cao su có dòng chữ “BOLE” màu đen, 01 bao cao su đã qua sử dụng. Ngoài ra, tổ công tác còn thu giữ của Trương Thị N 01 điện thoại di động Iphone 12 promax màu vàng đồng gắn sim số 0985.190.515.
Cáo trạng số 34/CT-VKS-HH ngày 08/4/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu đã truy tố Đoàn Văn V, Trần Trung T1 về tội “Mua dâm người dưới 18 tuổi” theo quy đình tại khoản 1 Điều 329 Bộ luật Hình sự và Trương Thị N về tội “Môi giới mại dâm” theo điểm a, đ khoản 2 Điều 328 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Các bị cáo thành khẩn khai nhận đã thực hiện hành vi đúng như nội dung vụ án đã nêu trên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu thực hành quyền công tố tại phiên toà giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Đoàn Văn V, Trần Trung T1 về tội “Mua dâm người dưới 18 tuổi” và bị cáo Trương Thị N về tội “Môi giới mại dâm”. Đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng khoản 1 Điều 329; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với Đoàn Văn V, Trần Trung T1: Xử phạt các bị cáo Đoàn Văn V, Trần Trung T1 mỗi bị cáo từ 15 tháng đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 tháng đến 36 tháng kể từ ngày tuyên án. Giao các bị cáo Đoàn Văn V, Trần Trung T1 cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Nam Định giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- Áp dụng điểm a, đ khoản 2 Điều 328; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với Trương Thị N: Xử phạt bị cáo Trương Thị N từ 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo Trương Thị N cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Nam Định giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo và xử lý vật chứng đã thu giữ, chưa xử lý trong quá trình điều tra.
Tranh luận tại phiên tòa: Các bị cáo không tranh luận.
Nói lời sau cùng: Các bị cáo đều ăn năn, hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, cho các bị cáo được cải tạo địa phương.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai nhận tội của các bị cáo Trương Thị N, Trần Trung T1 và Đoàn Văn V tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra; lời khai của các bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 0 giờ 30 phút ngày 19/12/2023, tại quán Karaoke "N" ở xóm P, xã H, huyện H, Trương Thị N làm trung gian dẫn dắt để Đoàn Văn V mua dâm Lý Thị Thanh H2, sinh ngày 20/02/2007 (16 tuổi 09 tháng 29 ngày) và Trần Trung T1 mua dâm Ky Xa Lơ, sinh ngày 01/12/2006 (17 tuổi 18 ngày) tại nhà nghỉ H4 ở xóm P, xã H thì bị Công an huyện H kiểm tra phát hiện. Hành vi nêu trên của bị cáo Đoàn Văn V và Trần Trung T1 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua dâm với người dưới 18 tuổi”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 329 Bộ luật Hình sự; hành vi của bị cáo Trương Thị N đã đủ yếu tố cấu thành tội “Môi giới mại dâm”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a, đ khoản 2 Điều 328 Bộ luật Hình sự. Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu đã truy tố đối với các bị cáo ra trước Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu để xét xử với tội danh, điều luật đã viện dẫn là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của các bị cáo không những trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, làm ảnh hưởng đến thuần phong, mỹ tục và đạo đức xã hội mà còn là một trong những nguyên nhân làm lây truyền các bệnh xã hội. Do đó, cần xử lý nghiêm đối với hành vi các bị cáo đã thực hiện nhằm trừng trị, giáo dục các bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung.
[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Đoàn Văn V, Trần Trung T1, Trương Thị N đều không có tiền án, tiền sự. Trong vụ án này, các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Quá trình điều tra và tại phiên toà, các bị cáo đều thành khẩn khai báo, thực sự ăn năn hối cải. Ngoài ra, bị cáo Đoàn Văn V hiện không có việc làm ổn định, nuôi 03 con nhỏ, vợ và bố mẹ già sức khỏe yếu thường xuyên đi bệnh viện, bị cáo có đơn trình bày hoàn cảnh khó khăn được chính quyền địa phương xác nhận; bị cáo Trần Trung T1 có hoàn cảnh gia đình khó khăn, bản thân nhiều lần bị tai nạn lao động, chân phải còn đang đóng đinh nên sức khỏe yếu, chưa có công việc làm ổn định, có đơn trình bày hoàn cảnh được chính quyền địa phương xác nhận. Bị cáo Trương Thị N có bố đẻ (ông Trương Văn K) là người có công với cách mạng, được Nhà nước tặng thưởng “Huân chương kháng chiến Hạng Ba và Huy chương kháng chiến Hạng Nhì”; bản thân bị cáo tuổi đã cao (59 tuổi), bị bệnh suy tim, rối loạn tiền đình, cao huyết áp đang phải theo dõi, điều trị thường xuyên theo hướng dẫn của bác sỹ; chồng bị cáo đã chết, bị cáo có 02 người con nhưng con gái đã ly hôn hiện đang nuôi con chưa thành niên, con trai đang chờ ngày xét xử, hoàn cảnh gia đình hiện rất khó khăn được chính quyền địa phương xác nhận. Vì vậy, các bị cáo đều được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Từ khi được thay đổi biện pháp ngăn chặn đến nay, các bị cáo không vi phạm cam kết, chấp hành tốt quy định của địa phương. Xét thấy các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, không có biểu hiện phạm tội mới nên không cần thiết cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội mà có thể áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo đối với các bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và các bị cáo tại phiên tòa là phù hợp.
[5] Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo đều không có việc làm, kinh tế khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà là phù hợp.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình giải quyết vụ án, chị Lý Thị Thanh H2 và chị Ky Xa L không yêu cầu bị cáo Đoàn Văn V và Trần Trung T1 phải bồi thường tổn thất về tinh thần. Do đó, về trách nhiệm dân sự, Hội đồng xét xử không giải quyết.
[7] Về xử lý vật chứng:
- Số tiền 2.000.000đ thu giữ của Lý Thị Thanh H2 là tiền mua bán dâm; chiếc điện thoại Iphone 11 promax thu giữ của H2 và chiếc điện thoai Iphone 12 pro max thu giữ của bị cáo N là phương tiện bị cáo N và chị H2 sử dụng liên lạc với nhau để thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, cần tịch thu sung Ngân sách Nhà nước số tiền 2.000.000đ và 02 chiếc điện thoại kể trên.
- 01 vỏ bao cao su có dòng chữ “BOLE” màu đen, 01 bao cao su đã qua sử dụng và 02 sim điện thoại có số thuê bao 0985.190.515 (của bị cáo N) và 0373.795.861 (của chị H2) không còn giá trị, cần tịch thu tiêu hủy.
- Số tiền 12.400.000đ thu giữ của Đoàn Văn V là tài sản hợp pháp của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội, cần trả lại cho bị cáo sở hữu là phù hợp pháp luật.
- Đối với các tài sản khác đã thu giữ tại nhà nghỉ H4 3 gồm: Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, sổ lưu trú của nhà nghỉ; căn cước công dân và điện thoại di động của các bị cáo T1, V, chị Lỳ Ha D4, anh Trần Thái H3 không liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho ông Đặng Đình M2, Trần Thái H3, Lỳ H và các bị cáo Đoàn Văn V, Trần Trung T1 sở hữu là phù hợp.
[8] Trần Thái H3 có hành vi mua dâm; Lý Thị Thanh H2, Ky Xa L, Lỳ H có hành vi bán dâm là vi phạm hành chính, Công an huyện H đã xử phạt hành chính là phù hợp.
[9] Ông Đặng Đình M2 là chủ nhà nghỉ H4 3 có đăng ký kinh doanh theo quy định, không biết Đoàn Văn V, Trần Trung T1, Trần Thái H3 thuê phòng nghỉ để mua bán dâm cùng Lý Thị Thanh H2, Ky Xa L, Lỳ H nên không có căn cứ xử lý bằng pháp luật.
[10] Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 329; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố bị cáo Trần Trung T1, bị cáo Đoàn Văn V phạm tội “Mua dâm người dưới 18 tuổi”. Xử phạt các bị cáo Đoàn Văn V, Trần Trung T1 mỗi bị cáo 15 (mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 (ba mươi) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Đoàn Văn V, Trần Trung T1 cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Nam Định giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
2. Căn cứ điểm a, đ khoản 2 Điều 328; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố bị cáo Trương Thị N phạm tội “Môi giới mại dâm”. Xử phạt bị cáo Trương Thị N 36 (ba mươi sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (năm) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Trương Thị N cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Nam Định giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
3. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
4. Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự: Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” đối với các bị cáo Trương Thị N, Đoàn Văn V, Trần Trung T1.
5. Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ Luật tố tụng Hình sự:
- Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước: Số tiền 2.000.000đ (hai triệu đồng) và điện thoại Iphone 11 promax của chị Lý Thị Thanh H2; điện thoại Iphone 12 pro max của Trương Thị N.
- Tịch thu tiêu huỷ: 01 vỏ bao cao su có dòng chữ “BOLE” màu đen; 01 bao cao su đã qua sử dụng và 02 sim điện thoại có số thuê bao 0985.190.515 và 0373.795.861.
- Trả lại cho bị cáo Đoàn Văn V số tiền 12.400.000đ (mười hai triệu bốn trăm nghìn đồng).
Các vật chứng nêu trên được mô tả như Biên bản bàn giao vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hải Hậu ngày 22/04/2024 và Biên lai thu tiền số 0002065 ngày 09 tháng 4 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hải Hậu.
6. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a Điều 23 Nghị quyết 326/NQ-UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án: Buộc các bị cáo Đoàn Văn V, Trần Trung T1, Trương Thị N mỗi người phải nộp 200.000₫ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
7. Quyền kháng cáo đối với bản án: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; các bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Thị Hoè |
8
9
Bản án số 39/2024/HS-ST ngày 17/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU, TỈNH NAM ĐỊNH về vụ án hình sự về tội mua dâm người dưới 18 tuổi và môi giới mại dâm
- Số bản án: 39/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án Hình sự về tội Mua dâm người dưới 18 tuổi và Môi giới mại dâm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU, TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Trung T, Đoàn Văn V phạm tội mua dâm người dưới 18 tuổi, Trương Thị N phạm tội Môi giới mại dâm
