Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 39/2024/HS-ST

Ngày 17 - 4 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN - TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Công Huy

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Khắc Hoàn

Bà Vũ Thị Thanh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Đăng - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Ông Phạm Tiến Bình - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 4 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 23/2024/TLST-HS ngày 20 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2024/QĐXXST - HS ngày 05 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên, đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Mạnh H, sinh ngày 30 tháng 5 năm 2003, tại thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Nơi thường trú: thôn B, xã H, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn C và bà Phùng Thị Đ; vợ, con: chưa có; tiền án: không;

Tiền sự:

  • + Ngày 08/6/2023, Công an thị xã Q xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản;
  • + Ngày 02/7/2023, Công an thị xã Q xử phạt vi phạm hành chính về hành vi xâm hại sức khỏe người khác;
  • + Ngày 18/10/2023, UBND thành phố H xử phạt vi phạm hành chính về hành vi tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí thô sơ.

Nhân thân: không.

Bị cáo bị bắt trong trường hợp khẩn cấp ngày 30/11/2023, hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q; có mặt.

* Bị hại:

  1. Anh Tạ Ngọc T, sinh năm 1983; nơi thường trú: khu T, phường Đ, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt.
  2. Chị Bùi Ngọc L, sinh năm 1986; nơi thường trú: khu L, phường M, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt.

* Những người làm chứng:

  1. Vũ Đình Đ1; vắng mặt.
  2. Phạm Hồng M; vắng mặt.
  3. Chị Nguyễn Thị D; vắng mặt.
  4. Anh Trần Minh T1; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng cuối tháng 10/2023, Lê Mạnh H (có 01 tiền sự về hành vi trộm cắp tài sản) tự chế 03 chiếc thòng lọng để làm công cụ đi trộm cắp chó và cất giấu tại quán xăm hình “Tiến Tattoo” tại khu T, phường Đ, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh do anh Trần Minh T1 làm chủ.

Khoảng 11 giờ 10 phút ngày 09/11/2023, tại quán xăm hình “Tiến Tattoo", Lê Mạnh H rủ Vũ Đình Đ1 đi trộm cắp chó đem bán lấy tiền chia nhau, Đ1 đồng ý. H đi lên tầng 02 của quán gặp Phạm Hồng M hỏi mượn chiếc xe mô tô BKS 14X1-449.56 làm phương tiện để đi trộm cắp, M đồng ý và đưa chìa khoá xe mô tô cho H, H tháo biển kiểm soát xe mô tô để lại ở quán.

Khoảng 01 giờ 00 phút ngày 10/11/2023, Đ1 điều khiển xe mô tô chở H phía sau, trên tay H cầm 01 thòng lọng và 01 bao tải. Khi đi đến khu T, phường Đ, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, thấy 01 con chó màu đen của anh Tạ Ngọc T, sinh năm 1983, trú tại phường Đ chạy ngoài đường, Đ1 điều khiển xe chạy đến gần, H quàng thòng lọng vào cổ con chó rồi cho vào bao tải sau đó đem đến bán cho chị Nguyễn Thị D ở tại khu H, phường Đ, thị xã Q với giá 400.000 đồng, Đ1H đã ăn tiêu hết số tiền trên.

Tiếp đến khoảng 19 giờ 30 phút ngày 25/11/2023, H cùng Đ1 mượn xe mô tô của M để đi trộm cắp tài sản, khi đi đến khu L, phường M, thị xã Q, thấy 01 con chó béc giê lai tạp màu vàng – đen của gia đình chị Bùi Ngọc L, sinh năm 1986, trú tại phường M chạy ngoài đường, Đ1 đi xe đến gần để H ngồi sau dùng thòng lọng bắt con chó cho vào bao tải rồi đem đến bán cho chị Nguyễn Thị D với giá 400.000 đồng, cả hai đã ăn tiêu hết số tiền trên.

Hồi 09 giờ 30 phút ngày 29/11/2023, Cơ quan Công an thị xã Q tiến hành kiểm tra hành chính quán xăm hình “Tiến Tattoo”, tại thời điểm kiểm tra có Lê Mạnh H, Phạm Hồng M, Bùi Đức B, Đồng Minh D1, Nguyễn Đức L1, Nguyễn Hữu Đ2, Vũ Anh Đ3. Quá trình kiểm tra thu giữ: 03 chiếc thòng lọng của Lê Mạnh H; 02 thanh kiếm của Nguyễn Văn C1 - sinh năm 2008, trú tại khu C, phường N, thành phố U; 01 thanh kiếm của Trần Minh T1 chủ quán T2; 02 thanh kiếm và 03 gói nilon chứa chất dẻo nghi là thuốc nổ chưa xác định được của ai.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 99/KL-HĐĐG, ngày 06/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản thị xã Q, xác định 01 con chó màu đen nặng 15kg của anh Tạ Ngọc T trị giá 1.200.000 đồng; 01 con chó béc giê lai tạp màu vàng - đen nặng 15kg của chị Bùi Ngọc L trị giá 1.200.000 đồng. Tổng giá trị tài sản 2.400.000 đồng.

Tại Bản kết luận giám định số 299/BKL-BCH, ngày 09/01/2024 của Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Q, xác định 03 gói nilon chứa chất dẻo, hình trụ có kích thước giống nhau dài 20 cm, đường kính 03cm, vỏ màu da cam, trên vỏ ngoài có in chữ “THUỐC NỔ NHŨ TƯƠNG LÒ THAN” có khối lượng 01 gói là 0.2 kg, tổng 03 gói là 0.6 kg là thuốc nổ nhũ tương lò than 2 (thuốc nổ công nghiệp do Việt Nam sản xuất) còn sử dụng được.

Tại Cơ quan điều tra, Lê Mạnh H, Vũ Đình Đ1 đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản nêu trên.

Về vật chứng: 03 chiếc thòng lọng bằng sợi kim loại được chuyển đến Cơ quan thi hành án dân sự thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh trong thời gian chờ xét xử; 05 thanh kiếm không có giá trị sử dụng nên Cơ quan điều tra đã tiến hành tiêu hủy; 03 gói thuốc nổ nhũ tương lò than không hoàn lại sau giám định.

Tại Bản cáo trạng số: 31/CT-VKSQY ngày 15/3/2024, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên đã truy tố bị cáo Lê Mạnh H về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Bị hại trong vụ án này là anh Tạ Ngọc T và chị Bùi Ngọc L đều vắng mặt tại phiên tòa và có đơn đề nghị như sau: cả hai bị hại đều đã nhận đầy đủ tiền bồi thường thiệt hại và không có yêu cầu gì thêm; về trách nhiệm hình sự: cả hai bị hại đều đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo theo quy định pháp luật.

Những người làm chứng trong vụ án đều có lời khai thể hiện trong hồ sơ vụ án giống như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Lê Mạnh H khai nhận hành vi phạm tội của mình giống như nội dung cáo trạng đã nêu và thừa nhận việc Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” là đúng người, đúng tội, không oan.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố như Cáo trạng đã nêu và phân tích tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Mạnh H từ 09 (chín) đến 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 30/11/2023. Về trách nhiệm bồi thường dân sự: bị cáo đã thực hiện nên không đề cập; ngoài ra đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo và xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.

Bị cáo không tranh luận với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng bị cáo bày tỏ thái độ ăn năn, hối hận và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Q, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Lê Mạnh H đều khai nhận toàn bộ hành vi mà mình đã thực hiện và thừa nhận nội dung Cáo trạng, bản luận tội của Viện kiểm sát đã nêu là đúng. Xét thấy, lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của chính bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng; phù hợp với kết luận định giá, sơ đồ hiện trường cùng các tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án, đã được làm rõ tại phiên tòa. Như vậy, có đủ căn cứ kết luận: khoảng 01 giờ 00 phút ngày 10/11/2023, tại khu T, phường Đ, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, Lê Mạnh H (đã có 01 tiền sự về hành vi trộm cắp tài sản) và Vũ Đình Đ1 trộm cắp 01 con chó màu đen, nặng 15kg trị giá 1.200.000 đồng của anh Tạ Ngọc T. Tiếp đến khoảng 19 giờ 30 phút ngày 25/11/2023, tại khu L, phường M, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, H cùng Đ1 trộm cắp 01 con chó béc giê lai tạp màu vàng - đen, nặng 15kg trị giá 1.200.000 đồng của chị Bùi Ngọc L.

Hành vi nêu trên của bị cáo Lê Mạnh H đã cấu thành tội: “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự; như nội dung bản cáo trạng số: 31/CT-VKSQY ngày 15/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, có căn cứ pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ của bị cáo: Hành vi của bị cáo Lê Mạnh H đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản là một trong những quyền cơ bản của cá nhân, cơ quan, tổ chức được pháp luật Nhà nước bảo vệ. Mọi hành vi xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản được xử lý bằng pháp luật tùy theo tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân người phạm tội. Hành vi của bị cáo không chỉ xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp tài sản của cá nhân, mà còn gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân và gây mất trật tự trị an trên địa bàn thị xã. Bản thân bị cáo là người đã trưởng thành, có khả năng nhận thức được việc trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật, song vì hám lợi bất chính nên bị cáo đã cố tình thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy cần phải có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ và hành vi của bị cáo mới có tác dụng giáo dục, cải tạo và phòng ngừa.

[4] Về tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.
  • - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã bồi thường khắc phục hậu quả nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về trách nhiệm dân sự: trong quá trình điều tra, bị cáo Lê Mạnh H đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại là anh Tạ Ngọc T và chị Bùi Ngọc L mỗi người 1.200.000 đồng. Anh Tú và chị L không có yêu cầu gì thêm do đó Hội đồng xét xử không đề cập.

[6] Về số tiền do phạm tội mà có: đối với số tiền 800.000₫ do phạm tội mà có, bị cáo đã chi tiêu hết. Quá trình điều tra bị cáo đã bồi thường bằng tiền cho các bị hại, do đó không buộc bị cáo phải nộp lại số tiền này.

[7] Về xử lý vật chứng:

  • - Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave BKS 14X1-449.56 là phương tiện Phạm Hồng M cho Lê Mạnh HVũ Đình Đ1 mượn vào mục đích đi Trộm cắp tài sản. Quá trình điều tra xác định là của ông Phạm Văn Q là bố đẻ của M, ông Q không biết việc M cho H mượn xe do đó Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe cho chủ sở hữu, vì vậy Hội đồng xét xử không đề cập.
  • - Đối với 05 thanh kiếm không có giá trị sử dụng nên Cơ quan điều tra đã tiến hành tiêu hủy do đó Hội đồng xét xử không đề cập;
  • - Đối với 03 gói thuốc nổ nhũ tương lò than không hoàn lại sau giám định, nên Hội đồng xét xử không đề cập;
  • - Đối với 03 chiếc thòng lọng bằng sợi kim loại đều không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

[8] Về hình phạt bổ sung: bị cáo không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[9] Về các vấn đề khác:

  • - Đối với Vũ Đình Đ1 tham gia trộm cắp tài sản với H, Phạm Hồng M là người cho HĐ1 mượn xe mô tô để đi trộm cắp tài sản vào 02 ngày khác nhau nhưng mỗi lần thực hiện hành vi phạm tội tài sản đều dưới 2.000.000 đồng, tuy nhiên trước đó Đ1M chưa bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản, không có tiền án về một trong các tội quy định tại các điều 168,169,170,171,172,175 và 290 của Bộ luật hình sự nên Công an thị xã Q đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Đ1M.
  • - Đối với Nguyễn Thị D là người đã mua số tài sản do HĐ1 trộm cắp nhưng không biết đó là tài sản do phạm tội mà có nên không phải chịu trách nhiệm hình sự.
  • - Đối với Trần Minh T1 có hành vi “Tàng trữ, cất giấu các loại vũ khí thô sơ” là 01 thanh kiếm, Công an thị xã Q ra Quyết định xử phạt hành chính; Nguyễn Văn C1 cũng có hành vi “Tàng trữ, cất giấu các loại vũ khí thô sơ” là 02 thanh kiếm nhưng C1 chưa đủ 16 tuổi nên Cơ quan Công an không ra Quyết định xử phạt hành chính.
  • - Đối tượng để 03 gói thuốc nổ nhũ tương lò than tại quán “Tiến Tattoo” hiện chưa xác định được nên Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, xác minh xử lý sau.

[10] Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[11] Về quyền kháng cáo: bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo Bản án theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: điểm a khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự;

Tuyên bố bị cáo Lê Mạnh H phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

Xử phạt bị cáo Lê Mạnh H 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 30/11/2023.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy vật chứng là: 01 chiếc thòng lọng có cán dài 80cm không gắn dây điện; 01 chiếc thòng lọng có cán dài 71cm có gắn dây điện màu vàng; 01 chiếc thòng lọng có cán dài 77cm có gắn dây điện màu vàng;

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 18 tháng 3 năm 2024, của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Quảng Yên).

Áp dụng: khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016, của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Lê Mạnh H có nghĩa vụ nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: căn cứ Điều 331; khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng khác;
  • - VKSND TX Quảng Yên;
  • - Công an TX Quảng Yên;
  • - VKSND; TAND tỉnh Quảng Ninh;
  • - Sở tư pháp tỉnh Quảng Ninh;
  • - Chi cục THA DS TX Quảng Yên;
  • - CQ THA HS;
  • - Cơ sở giam giữ;
  • - Lưu VP, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Công Huy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 39/2024/HS-ST ngày 17/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN - TỈNH QUẢNG NINH về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 39/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN - TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Mạnh Hùng - Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger