|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 39/2024/DS-PT Ngày: 17-4-2024 V/v: Tranh chấp về chia thừa kế tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Vân Thúy
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Quang Kiên
Bà Lê Thị Hải Yến
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Thu Hương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Hà Văn Dỏn - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 16 và 17 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 87/TLPT-DS ngày 16/11/2023 về việc: Tranh chấp về thừa kế tài sản,
Do bản án dân sự sơ thẩm số 42/2023/DS-ST ngày 27/9/2023 của Toà án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên bị kháng cáo, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 21/QĐPT-DS ngày 08 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị H; nơi cư trú: Thôn A, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng; có mặt;
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Lương Văn N, Luật sư Công ty L2 thuộc Đoàn Luật sư thành phố H; có mặt;
- Bị đơn: Ông Phạm Văn R; nơi cư trú: Thôn A, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng; vắng mặt;
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Phạm Văn Đ; nơi cư trú: Số nhà E P, phường N, Quận L, thành phố Hải Phòng; có mặt;
- Bà Phạm Thị P (tên gọi khác: Phạm Thị H1); nơi cư trú: Thôn A, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng; có mặt;
- Ông Phạm Văn K; nơi ĐKHKTT: Thôn H, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện nay: Số nhà B, khu chung cư H, phường S, quận H, thành phố Hải Phòng; có mặt;
- Ông Phạm Văn L; nơi cư trú: Thôn A, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng; có mặt;
- Ông Phạm Văn D; nơi cư trú: Thôn H, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng; có mặt tại phiên tòa ngày 16/4/2024 và đề nghị vắng mặt ngày 17/4/2024;
- Bà Vũ Thị H2; nơi cư trú: Thôn H, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng; vắng mặt;
- Bà Vũ Thị D1; nơi cư trú: Thôn A, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
Người kháng cáo: Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là các ông Phạm Văn Đ, Phạm Văn K, Phạm Văn D
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo bản án sơ thẩm, vụ án có nội dung như sau:
Nguyên đơn là bà Phạm Thị H, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn thống nhất trình bày:
Cụ Phạm Văn N1 (chết ngày 08/8/1991) và cụ Nguyễn Thị L1 (tức Náu, chết ngày 15/7/1973) đều không để lại di chúc. Các cụ sinh được 07 người con gồm: Ông Phạm Văn Đ, bà Phạm Thị P, ông Phạm Văn K, bà Phạm Thị H, ông Phạm Văn L, ông Phạm Văn D và ông Phạm Văn R. Bố mẹ đẻ của các cụ đều đã chết trước các cụ, các cụ không có con nuôi, con riêng.
Khi còn sống, cụ Phạm Văn N1 và cụ Nguyễn Thị L1 có tài sản chung gồm diện tích đất ở 1.049m² thuộc thửa đất số 192B, tờ bản đồ 02 tại thôn A, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng (sau đây viết tắt là thửa số 192B). Trong sổ mục kê năm 1978 và năm 1985 của UBND xã T đăng ký kê khai đứng tên chủ sử dụng là cụ Phạm Văn N1 nhưng chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sau đây viết tắt là GCNQSDĐ) và tài sản trên thửa đất là 01 nhà cấp bốn, 01 bể nước (hiện nay đã phá) và một số cây lâu năm (hiện nay còn một cây me). Lúc cụ Nguyễn Thị L1 chết thì những tài sản này vẫn còn.
Năm 2010, các anh chị em thống nhất xây dựng nhà thờ để làm nơi thờ cúng nên ông Phạm Văn Đ đã phá nhà cấp bốn của cụ N1 và cụ L1, bỏ tiền ra để lại để xây dựng căn nhà 03 gian và công trình trên đất để thờ cúng (đúng vị trí ngôi nhà cấp 4 của cụ N1, cụ L1). Sau khi xây nhà thờ xong, ông Đ không cho ai vào thờ cúng nên ông Phạm Văn L có yêu cầu chia đất.
Ngày 23/9/2012, ông Phạm Văn Đ, ông Phạm Văn D, ông Phạm Văn R và ông Phạm Văn L họp đồng ý chia cho ông Phạm Văn L diện tích đất khoảng 200m² và xây bờ tường bao ngăn cách nhưng vẫn không cho anh chị em bà vào thờ cúng nên xảy ra tranh chấp. Bà H không đồng ý chia di sản thừa kế của cụ N1 và cụ L1 theo theo biên bản họp gia đình ngày 23/9/2012.
Năm 2014, ông Đ có đơn yêu cầu UBND xã T hòa giải tranh chấp nhưng không thành. Năm 2017, ông Đ có nói với anh chị em bà là ký biên bản họp gia đình để làm GCNQSDĐ nhưng không nói rõ làm cho ai nên anh chị em bà có ký biên bản họp gia đình ngày 07/12/2017 nhưng không có mặt bà Phạm Thị P vì thời điểm đó bà Phạm Thị P đang ở nước ngoài. Sau đó, ông Đ đã tự ý phá bờ tường bao ngăn cách phần đất chia cho ông Phạm Văn L nên xảy ra tranh chấp.
Năm 2020, ông Phạm Văn L khởi kiện đến Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên để chia di sản của cụ Phạm Văn N1, cụ Nguyễn Thị L1 đối với diện tích đất ở 1.049m² thuộc thửa đất số 192B và tài sản trên đất. Bản án sơ thẩm của TAND huyện Thủy Nguyên bị kháng cáo. Sau đó, anh em trong gia đình thống nhất rút đơn kháng cáo, rút đơn khởi kiện và có lập biên bản họp gia đình ngày 21/7/2022 với nội dung: “Thống nhất chia thửa đất 192, T, T, Hải Phòng như sau: Phần nhà thờ giữ nguyên để thờ cúng chung, ông trưởng Phạm Văn Đ đứng tên. Phần nhà ông Phạm Văn R để giữ nguyên cho ông R đứng tên làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Phần còn lại chia đều cho 7 người mỗi người 2m chiều dài mặt ngõ. Ba người lấy từ ngoài vào là 6m (gồm Phạm Văn L, Phạm Thị P, Phạm Thị H), chạy dọc suốt xuống dưới cuối cùng. Mọi người đã đồng ý ký biên bản và rút đơn khởi kiện tại Tòa án”. Tại biên bản, bà H có ghi thêm dòng: “Tôi là Phạm Thị H đồng ý mỗi người 2m chạy dài, 3 người 6m còn lại phần nhà thờ được cúng chung không ai có quyền đuổi mọi người, ai cũng có quyền như nhau”.
Ngày 22/7//2022, TAND thành phố Hải Phòng quyết định hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án nhưng sau đó, khi làm GCNQSDĐ, các anh em trong gia đình lại không thống nhất được với nhau như biên bản ngày 21/7/2022, tiếp tục phát sinh tranh chấp.
Ngày 04/01/2023, bà Phạm Thị H tiếp tục khởi kiện yêu cầu chia thừa kế tài sản của cụ Phạm Văn N1, cụ Nguyễn Thị L1 là diện tích đất 1.091,9m² thuộc thửa đất số 192B và các tài sản gắn liền với diện tích đất theo biên bản họp gia đình ngày 21/7/2022 nhưng phải đảm bảo việc tách thửa, cấp GCNQSDĐ. Nếu các anh em trong gia đình không đồng ý thì bà đề nghị chia di sản của cụ N1, cụ L1 theo quy định của pháp luật. Bà đồng ý chia cho ông Phạm Văn R diện tích đất 254,3m² ở vị trí gia đình ông R đã xây dựng nhà và công trình trên đất. Phần diện tích đất còn lại chia đều cho 07 anh em trong đình gồm: Bà, ông Phạm Văn Đ, ông Phạm Văn L, ông Phạm Văn K, ông Phạm Văn D, ông Phạm Văn R và bà Phạm Thị P.
- Bị đơn là ông Phạm Văn R và bà Vũ Thị D1 thống nhất và trình bày:
Năm 2008, vợ chồng ông xây dựng 01 nhà cấp bốn và công trình trên một phần diện tích đất thuộc thửa đất 192B. Năm 2012, ông Phạm Văn Đ bỏ tiền ra để xây nhà thờ và công trình trên một phần diện tích đất của bố mẹ ông để lại như hiện nay. Ngoài ra, ông còn xây dựng thêm bờ tường bao gạch ba banh phía trước nhà thờ, cạnh nhà ông T, vợ chồng ông Phạm Văn D và bà Vũ Thị H2 có xây dựng thêm 3 - 4 hàng gạch. Đối với tài sản trên đất mà vợ chồng ông tạo lập (công trình và cây), khi chia di sản thừa kế ai được hưởng phần có tài sản của vợ chồng ông tạo lập thì vợ chồng ông không yêu cầu phải bồi thường, vợ chồng ông tự nguyện tháo dỡ.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Phạm Văn L, bà Phạm Thị P thống nhất với quan điểm, ý kiến của bà H.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Phạm Văn Đ, ông Phạm Văn K và ông Phạm Văn D thống nhất trình bày:
Thửa đất số 192B là của các cụ tổ tiên 05 đời, cụ thể là của cụ Phạm Văn K1 và cụ Vũ Thị N2 (là người sinh ra ông nội các ông) để lại cho bố mẹ các ông ở để thờ cúng tổ tiên; bố mẹ các ông đã ở trên thửa đất này từ năm 1960 và trong quá trình sử dụng nhà bị hỏng nên bố các ông đã xây lại nhà. Năm 1973, cụ Nguyễn Thị L1 chết, các tài sản trên do bố các ông quản lý, sử dụng. Năm 1991, cụ Phạm Văn N1 chết, thửa đất 192B và tài sản trên đất là 01 nhà cấp bốn do ông Phạm Văn L, ông Phạm Văn D và ông Phạm Văn R trực tiếp quản lý, sử dụng. Nay, bà Phạm Thị H yêu cầu Tòa án giải quyết chia di sản thừa kế của bố mẹ đẻ là cụ Phạm Văn N1 và cụ Nguyễn Thị L1 để lại theo pháp luật đối với diện tích đất thuộc thửa đất số 192B, các ông không đồng ý chia thừa kế theo yêu cầu của bà Phạm Thị H. Các ông cũng đồng ý về việc chia cho ông Phạm Văn R diện tích đất 254,3m² ở vị trí gia đình ông R đã xây dựng nhà và công trình trên đất. Phần diện tích đất còn lại nếu phải chia thì vẫn chia cho ông R một suất thừa kế theo quy định của pháp luật và từ chối không đề nghị nhận công sức quản lý, tôn tạo di sản thừa kế và công sức chăm sóc, lo đám tang cho cụ Phạm Văn N1, các ông đồng ý nhận chung cùng một khu vực, ông Đ là người đại diện đứng tên để làm nơi thờ cúng. Bà Phạm Thị H, bà Phạm Thị P là hai người con đối xử bất hiếu với cụ Phạm Văn N1 nên không được thừa kế tài sản của cụ N1, cụ L1.
Ngoài ra, ông Đ, ông K, ông D có ý kiến, ngoài thửa số 192B nêu trên bố mẹ các ông còn có di sản nhưng không có yêu cầu độc lập yêu cầu Tòa án giải quyết, các đương sự khác không yêu cầu, cụ thể gồm:
+ Diện tích đất 240m² thuộc thửa đất số 263, tờ bản đồ số 02 tại thôn A, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng;
Theo nguyên đơn, bị đơn trình bày: Diện tích này đăng ký đứng tên chủ sử dụng đất là ông Phạm Văn K từ năm 1985. Năm 1989, do vợ chồng ông Phạm Văn K chuyển ra Quảng Ninh sinh sống nên đã bán cho vợ chồng bà H 01 nhà cấp bốn hai gian xây gạch ba banh và diện tích đất 240m² thuộc thửa đất số 263, tờ bản đồ số 02 tại thôn A, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng với giá 1.400.000 đồng. Việc mua bán nhà và đất có giấy viết tay và có người làm chứng là cụ Phạm Văn N1 ký vào giấy viết tay nhưng không làm thủ tục tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Sau khi mua nhà và đất, vợ chồng bà đã sửa lại nhà cấp bốn, xây dựng thêm nhà bếp, nhà vệ sinh, sân, bể nước, xây bờ tường bao xung quanh và ăn ở đó từ năm 1989 không có tranh chấp. Năm 2015, vợ chồng bà H đã được UBND huyện T cấp GCNQSDĐ. Bà đã chuyển nhượng một phần diện tích 70m² đất tại thửa số 263, tờ bản đồ số 02 tại thôn A, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng cho ông Phạm Văn R mà không phải là 70m² đất tại thửa 192B, tờ bản đồ số 02 tại thôn A, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng như ông Phạm Văn Đ, ông Phạm Văn D, ông Phạm Văn K trình bày. Bà H khẳng định diện tích đất 240m² thuộc thửa đất số 263, tờ bản đồ số 02 tại thôn A, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng là của vợ chồng bà không phải là tài sản thừa kế của bố mẹ bà để lại nên bà không yêu cầu chia thừa kế đối với tài sản này.
+ Diện tích đất thuộc thửa đất số 292, tờ bản đồ số 02 tại thôn A, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng mà ông Phạm Văn L đã xây nhà ở và đang trực tiếp quản lý, sử dụng là đất công ích không phải là tài sản của bố mẹ bà để lại nên bà không yêu cầu chia thừa kế đối với thửa đất trên.
* Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 42/2023/DS-ST ngày 27/9/2023, Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng đã quyết định:
Căn cứ vào khoản 5 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 227, Điều 228; khoản 2 Điều 147, Điều 184 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 149, Điều 150, Điều 613, khoản 1 Điều 623, Điều 649, khoản 1 Điều 650, Điều 651, Điều 660, điểm d khoản 1 Điều 688 của Bộ luật Dân sự;
Căn cứ vào Điều 3, Điều 36 của Pháp lệnh Thừa kế năm 1990 và hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 19 tháng 10 năm 1990 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Pháp lệnh Thừa kế;
Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14, khoản 7 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Phạm Thị H, chia di sản thừa kế của cụ Phạm Văn N1 để lại là diện tích đất 1.064,6m²; di sản của cụ Phạm Văn N1 và cụ Nguyễn Thị L1 để lại tài sản trên đất 01 cây me tại thửa đất số 192B, tờ bản đồ số 02, địa chỉ thửa đất: Thôn A, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng như sau:
- Giao cho ông Phạm Văn R được quyền sử dụng diện tích đất ở 254,3m² có vị trí mốc giới từ 7-14-4c-5-6-7 tại thửa đất số 192B tờ bản đồ số 02 tại thôn A, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng (có sơ đồ kèm theo). Toàn bộ tài sản trên diện tích đất này là của vợ chồng ông Phạm Văn R và bà Vũ Thị D1. Ông Phạm Văn R và bà Vũ Thị D1 xin tự giải quyết với nhau về tài sản trên đất nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Giao cho ông Phạm Văn R được quyền sử dụng diện tích đất ở 97,9 m² có vị trí mốc giới từ 1b-2-3-3a-10-1b và toàn bộ tài sản trên đất tại thửa đất số 192B tờ bản đồ số 02 tại thôn A, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng (có sơ đồ kèm theo).
- Giao cho bà Phạm Thị H được quyền sử dụng diện tích đất ở 97,8m² có vị trí mốc giới từ 9-11-4a-4b-9a-9b-9 và toàn bộ tài sản gắn liền với diện tích đất tại thửa đất số 192B tờ bản đồ số 02 tại thôn A, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng (có sơ đồ kèm theo).
- Giao cho bà Phạm Thị P được quyền sử dụng diện tích đất ở 97,8m² có vị trí mốc giới từ 4a-11-3b-4-4a và toàn bộ tài sản gắn liền với diện tích đất tại thửa đất số 192B tờ bản đồ số 02 tại thôn A, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng (có sơ đồ kèm theo).
- Giao cho ông Phạm Văn L được quyền sử dụng diện tích đất ở 97,9m² có vị trí mốc giới từ 10-3a-3b-11-9-10a-10 và toàn bộ tài sản gắn liền với diện tích đất tại thửa đất số 192B, tờ bản đồ số 02 tại thôn A, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng (có sơ đồ kèm theo).
- Giao cho ông Phạm Văn D, ông Phạm Văn K, ông Phạm Văn Đ được quyền sử dụng chung diện tích đất ở 287,2m² do ông Phạm Văn Đ là đại diện, chia kỷ phần mỗi người được 95,73m² có vị trí mốc giới từ 1-1a-14-7-8-1 và toàn bộ tài sản gắn liền với diện tích đất (trong đó có 1 cây me của cụ Nguyễn Thị L1, cụ Phạm Văn N1) tại thửa đất số 192B tờ bản đồ số 02 tại thôn A, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng (có sơ đồ kèm theo). Vị trí diện tích đất, tài sản cụ thể trên đất của ông Phạm Văn D, ông Phạm Văn Đ, ông Phạm Văn K tự thỏa thuận với nhau nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
- Ông Phạm Văn Đ, ông Phạm Văn K, ông Phạm Văn D, ông Phạm Văn R, ông Phạm Văn L, bà Phạm Thị H và bà Phạm Thị P được quyền sử dụng ngõ đi chung có diện tích đất 131,7m² có vị trí mốc giới từ 1a-1b-10-10a-9-9b-9a-4b-4c-14-1a tại thửa đất số 192B tờ bản đồ số 02 tại thôn A, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng.
- Buộc ông Phạm Văn R và bà Vũ Thị D1 phải có nghĩa vụ tháo dỡ: 01 trụ cổng tại số thứ tự 23 theo sơ đồ kèm theo bản án, 01 đoạn tường bao dài 2,45 m xây trước nhà ông Phạm Văn R, bà Vũ Thị D1 có vị trí mốc giới từ A-B; 01 đoạn tường bao dài 1,5m giáp cổng của ông Phạm Văn D, bà Vũ Thị H2 xây dựng, có vị trí mốc giới từ C-D và 01 gian nhà lợp proximăng có diện tích là 10,9m² có vị trí, mốc giới: 10a-9-9b-E-14-10 xây dựng sát tường bao giáp lối đi đổ xi măng để làm ngõ đi chung (có sơ đồ kèm theo).
- Buộc ông Phạm Văn D và bà Vũ Thị H2 phải có nghĩa vụ tháo dỡ: 01 trụ cổng tại số thứ tự 17 theo sơ đồ kèm theo bản án, 01 đoạn tường bao dài 16 m tại số thứ tự 22 theo sơ đồ kèm theo bản án xây dựng trước cửa nhà ông Phạm Văn R, bà Vũ Thị D1 (có sơ đồ kèm theo).
- Buộc ông Phạm Văn Đ phải có nghĩa vụ tháo dỡ: 01 phần lán tôn có diện tích 13,9m² nằm trên phần diện tích ngõ đi chung (có sơ đồ kèm theo).
- Buộc bà Phạm Thị H, ông Phạm Văn L, bà Phạm Thị P phải có nghĩa vụ tháo dỡ: 01 rào tôn có chiều dài 37,2m (có sơ đồ kèm theo).
- Bà Phạm Thị H phải trả cho ông Phạm Văn Đ số tiền 4.706.357 (bốn triệu bảy trăm linh sáu nghìn ba trăm năm mươi bảy) đồng; trả cho vợ chồng ông Phạm Văn D, bà Vũ Thị H2 số tiền 10.109.000 (mười triệu một trăm linh chín nghìn) đồng.
- Bà Phạm Thị P phải trả cho ông Phạm Văn Đ số tiền 4.706.357 (bốn triệu bảy trăm linh sáu nghìn ba trăm năm mươi bảy) đồng; trả cho vợ chồng ông Phạm Văn D, bà Vũ Thị H2 số tiền 1.489.250 (một triệu bốn trăm tám mươi chín nghìn hai trăm năm mươi) đồng.
- Ông Phạm Văn L phải trả cho ông Phạm Văn Đ số tiền 20.036.357 đồng (hai mươi triệu không trăm ba mươi sáu nghìn ba trăm năm mươi bảy) đồng; trả cho vợ chồng ông Phạm Văn D, bà Vũ Thị H2 số tiền 2.315.000 (hai triệu ba trăm mười lăm nghìn) đồng; trả cho ông Phạm Văn K số tiền 1.300.000 (một triệu ba trăm nghìn) đồng.
- Ông Phạm Văn R phải trả cho ông Phạm Văn Đ số tiền 14.973.857 (mười bốn triệu chín trăm bảy mươi ba nghìn tám trăm năm mươi bảy) đồng; trả cho vợ chồng ông Phạm Văn D và bà Vũ Thị H2 số tiền 1.825.500 (một triệu tám trăm hai mươi lăm nghìn) đồng.
1.16. Ông Phạm Văn D phải trả cho ông Phạm Văn Đ số tiền 1.404.357 (một triệu bốn trăm linh bốn nghìn ba trăm năm mươi bảy) đồng.
1.17. Ông Phạm Văn K phải trả cho vợ chồng ông Phạm Văn D, bà Vũ Thị H2 số tiền 722.000 (bảy trăm hai mươi hai nghìn) đồng; trả cho ông Phạm Văn Đ số tiền 2.126.357 (hai triệu một trăm hai mươi sáu nghìn ba trăm năm mươi bảy) đồng.
2. Các đương sự có quyền kê khai, đăng ký với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo qui định của pháp luật.
3. Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án của cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
4. Về án phí dân sự:
4.1. Về án phí sơ thẩm:
4.1.1. Ông Phạm Văn Đ được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
4.1.2. Ông Phạm Văn L, bà Phạm Thị H, bà Phạm Thị P, ông Phạm Văn D, ông Phạm Văn K, ông Phạm Văn R mỗi người phải chịu 14.541.000 (mười bốn triệu năm trăm bốn mươi mốt nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
4.1.3. Bà Phạm Thị H đã nộp số tiền tạm ứng án phí 3.105.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0008493 ngày 17 tháng 3 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủy Nguyên, bà Phạm Thị H còn phải nộp 11.436.000 (mười một triệu bốn trăm ba mươi sáu nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
4.2. Về án phí phúc thẩm: Các đương sự không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
5. Các quyết định khác của bản án dân sự sơ thẩm không có kháng cáo kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Vân Thúy |
Bản án số 39/2024/DS-PT ngày 17/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tranh chấp về chia thừa kế tài sản
- Số bản án: 39/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về chia thừa kế tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 17/04/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Thị H - Phạm Văn R Tranh chấp về thừa kế tài sản
