Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HƯNG YÊN

Bản án số: 39/2024/HS-ST

Ngày: 17/4/2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Ngọc Lâm;

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lê Văn Nguyên;
  2. Ông Vũ Văn Kiên;

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Hiếu, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên;

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 4 năm 2023. Tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã M, huyện P, tỉnh Hưng Yên, Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên xét xử lưu động công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 34/2024/TLST-HS ngày 25/3/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2024/QĐXXST-HS ngày 03/4/2024, đối với các bị cáo:

1/Họ và tên: Nguyễn Văn S, sinh năm: 1998, tại: tỉnh Vĩnh Phúc; Giới tính: Nam;

HKTT: thôn Đ, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc;

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 08/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông: Nguyễn Văn V (đã chết); Con bà: Vương Thị D, sinh năm 1975. Gia đình bị cáo có 03 anh em, bị cáo là con thứ hai.

+ Tiền án, tiền sự: 01 tiền án:

Bản án số 17/2022/HSST ngày 29/3/2022 của Tòa án nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt 01 năm 07 tháng tù giam về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” và tội “Cố ý gây thương tích”. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 19/01/2023.

+ Nhân thân:

  • Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 07/QĐ-XPHC ngày 04/12/2018 của Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an tỉnh V xử phạt hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”;
  • Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, thị trấn số 156/QĐ-UBND ngày 15/7/2020 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/01/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H, có mặt tại phiên tòa.

2/Họ và tên: Trương Văn T, sinh năm: 1996, tại: tỉnh Nghệ An; Giới tính: Nam;

HKTT: làng C, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An;

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 06/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông: Trương Văn H, sinh năm 1970; Con bà: Hoàng Thị H1, sinh năm 1974. Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất.

+ Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/01/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H, có mặt tại phiên tòa.

* Người làm chứng: Anh Chu Xuân T1, sinh năm 1991; Trú tại: thôn T, xã T, huyện V, tỉnh Hưng Yên (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 00 giờ 15 phút ngày 03/01/2024, tổ công tác của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh H phối hợp với Công an xã T, huyện V, tỉnh Hưng Yên phát hiện tại khu vực đường bê tông thuộc thôn A, xã T, huyện V đối tượng Nguyễn Văn S, sinh năm 1998, HKTT: thôn Đ, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc và đối tượng Trương Văn T, sinh năm 1996, HKTT: làng C, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An có biểu hiện nghi vấn Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tổ công tác đã yêu cầu S và T về trụ sở Công an xã Trưng Trắc để làm việc, qua kiểm tra thu giữ tại túi quần phía trước bên trái S đang mặc 01 túi nilon màu trắng, dạng nắp cài viền màu trắng, bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng và 01 túi nilon dạng nắp cài viền màu xanh, bên trong chứa các mảnh viên nén bột màu trắng (niêm phong ký hiệu MT1). T2 tại túi quần phía trước S đang mặc 01 căn cước công dân và số tiền 300.000 đồng. S và T đều khai nhận bên trong túi nilon dạng nắp cài màu trắng là ma túy tổng hợp loại Ketamine và bên trong túi nilon dạng nắp cài viền màu xanh là ma túy tổng hợp thường gọi là kẹo. S và T cùng góp tiền mua về để sử dụng, khi S và T đang đi bộ tìm chỗ vắng vẻ để sử dụng thì bị lực lượng Công an kiểm tra, bắt giữ. Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh H đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Văn S và Trương Văn T.

Bản kết luận giám định số: 150/KL-KTHS (MT) ngày 06/01/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh H kết luận:

  • - Mẫu chất dạng tinh thể màu trắng trong niêm phong ký hiệu MT1 có tổng khối lượng 0,855 gam, qua giám định sơ bộ và thử test thử nhanh xác định là ma túy, loại Ketamine.
  • - Mẫu chất dạng các viên nén và bột màu trắng trong niêm phong ký hiệu MT1, có khối lượng 2,001 gam, qua giám định sơ bộ và thử test nhanh xác định là ma túy, loại MDMA

H2 lại đối tượng giám định: Mẫu hoàn lại được niêm phong trong một phong bì ghi số: 150/KL-KTHS (MT) bên trong chứa 0,845 gam ma túy, loại Ketamine; 1,976 gam ma túy, loại MDMA; 01 túi nilon đựng ma túy và 01 phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định. Mẫu vật hoàn lại được giao cho Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an tỉnh H quản lý.

Quá trình điều tra, Nguyễn Văn S và Trương Văn T khai nhận:

S và T là bạn bè, cùng nghiện ma túy tổng hợp thường được gọi là K và K1. Khoảng 22 giờ ngày 03/01/2024, S và T có uống bia, sau đó S đã rủ T mỗi người góp số tiền 1.000.000 đồng để có 2.000.000 đồng mua ma túy tổng hợp K và K1. S nói với T sẽ mua 05 viên ma túy dạng Kẹo hết 1.500.000 đồng, còn 500.000 đồng sẽ mua ma túy dạng Ke về sử dụng thì T đồng ý và đưa cho S số tiền 1.000.000 đồng. Sau đó S điều khiển xe mô tô chở T về quán nước tại xã T để mua ma túy. S gặp một người đàn ông (chưa rõ tên, tuổi, địa chỉ), S mua của người đàn ông 05 viên ma túy dạng K với giá tiền 1.500.000 đồng và 01 túi ma túy dạng Ke với giá 500.000 đồng, sau khi trả tiền và nhận ma túy từ người đàn ông, S cất số ma túy vào túi quần phía trước bên trái đang mặc rồi điều khiển xe đi về xã T để gặp T, sau đó cả hai đi bộ tìm nơi vắng vẻ để cùng sử dụng ma túy. Khi S và T chưa kịp sử dụng thì bị Công an tỉnh H phát hiện, bắt quả tang và thu giữ đồ vật, vật chứng.

Đối với người đàn ông bán ma túy cho S, quá trình điều tra chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên không có căn cứ xử lý.

Tại cơ quan điều tra, các bị cáo Nguyễn Văn S và Trương Văn T thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội. Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Vật chứng và đồ vật thu giữ: 01 phong bì niêm phong hoàn mẫu vật sau giám định số 150/KL-KTHS (MT) của Phòng K2 - Công an tỉnh H; số tiền 300.000 đồng Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh H đã nộp vào tài khoản tạm thu chờ xử lý tại Kho bạc Nhà nước tỉnh H; 01 căn cước công dân mang tên Nguyễn Văn S được lưu giữ tại hồ sơ vụ án.

Cáo trạng số: 37/CT-VKS-P1 ngày 25/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên truy tố các bị cáo Nguyễn Văn S và Trương Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo theo nội dung bản Cáo trạng; Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn S và Trương Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và khoản 1 Điều 38 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Văn S và Trương Văn T (áp dụng thêm điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo S).

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S từ 03 năm 03 tháng đến 03 năm 06 tháng tù, thời hạn tù kể từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 03/01/2024.

Xử phạt bị cáo Trương Văn T từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 06 tháng tù, thời hạn tù kể từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 03/01/2024.

Miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Về Biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

  • - Tịch thu cho tiêu hủy số ma túy hoàn lại sau giám định.
  • - Trả lại bị cáo Nguyễn Văn S số tiền: 300.000 đồng và 01 căn cước công dân mang tên Nguyễn Văn S do không liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo.

Các bị cáo không tranh luận, nhất trí với nội dung bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Các bị cáo đề nghị HĐXX cho các bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để các bị cáo sớm trở về gia đình và hòa nhập cộng đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra - Công an tỉnh H; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên; Điều tra viên; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng từ giai đoạn điều tra cho đến phiên tòa sơ thẩm đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp khách quan với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà như: Lời khai của người làm chứng; Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Bản kết luận giám định số: 150/KL-KTHS (MT) ngày 06/01/2024 của Phòng K2 - Công an tỉnh H, cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đủ căn cứ kết luận: Các bị cáo là bạn bè, cùng nghiện ma túy tổng hợp thường được gọi là K và K1. Khoảng 22 giờ ngày 03/01/2024, sau khi uống bia bị cáo S đã rủ T mỗi người góp số tiền 1.000.000 đồng để mua ma túy tổng hợp K và K1. Bị cáo S nói với T sẽ mua 05 viên ma túy dạng Kẹo hết 1.500.000 đồng, còn 500.000 đồng sẽ mua ma túy dạng Ke về sử dụng thì bị cáo T đồng ý và đưa cho bị cáo S số tiền 1.000.000 đồng. Sau đó bị cáo S điều khiển xe mô tô chở bị cáo T về quán nước tại xã T để mua ma túy. Tại đây, bị cáo S mua của người đàn ông (chưa rõ tên, tuổi, địa chỉ), 05 viên ma túy dạng kẹo (MDMA) với giá tiền 1.500.000 đồng và 01 túi ma túy dạng Ke với giá 500.000 đồng, sau khi trả tiền và nhận ma túy từ người đàn ông, S cất số ma túy vào túi quần phía trước bên trái đang mặc rồi điều khiển xe đi về xã T để gặp bị cáo T, sau đó cả hai đi bộ tìm nơi vắng vẻ để cùng sử dụng ma túy. Khi các bị cáo chưa kịp sử dụng thì bị Công an tỉnh H phát hiện, bắt quả tang và thu giữ tại túi quần phía trước bên trái bị cáo S đang mặc 01 túi nilon màu trắng, dạng nắp cài viền màu trắng bên trong có chứa 0,855 gam, là ma túy, loại Ketamine và 01 túi nilon dạng nắp cài viền màu xanh, bên trong chứa 2,001 gam ma túy, loại MDMA; 01 căn cước công dân và số tiền 300.000 đồng. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên giữ nguyên nội dung bản Cáo trạng đã truy tố đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất hành vi phạm tội của bị cáo:

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nghiêm trọng, xâm phạm chế độ quản lý đặc biệt của Nhà nước đối với ma túy và các chất gây nghiện. Các bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy nên biết rõ tác hại của việc sử dụng trái phép chất ma túy cũng như hậu quả và hệ lụy do ma túy để lại đối với sức khỏe, kinh tế của bản thân người nghiện, gia đình và xã hội. Mặt khác, từ việc mua bán, sử dụng trái phép chất ma túy còn là nguyên nhân dẫn đến lây lan căn bệnh thế kỷ HIV - AIDS. Đối tượng là tầng lớp thanh, thiếu niên là nguồn lao động chính trong xã hội, gây băng hoại đạo đức xã hội, làm giảm sức lao động và là nguyên nhân nảy sinh các loại tội phạm khác, gây mất trật tự trị an xã hội, gây bất bình trong dư luận quần chúng nhân dân. Nhưng vì nghiện ma túy mà các bị cáo đã bất chấp tất cả để đi vào con đường phạm tội nên cần phải xử lý nghiêm minh.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của các bị cáo:

  • - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo T không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. Bị cáo S thực hiện hành vi phạm tội mới khi chưa được xóa án tích nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
  • - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn nhận tội, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
  • - Về nhân thân: Bị cáo S có nhân thân xấu, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội mới khi chưa được xóa án tích. Bị cáo T có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.

[5] Về hình phạt:

Trong vụ án có đồng phạm tham gia nên khi cân nhắc hình phạt đối với các bị cáo, Hội đồng xét xử căn cứ vai trò, vị trí của các bị cáo trong vụ án; đặc điểm nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo để cân nhắc xử phạt các bị cáo mức hình phạt cụ thể tương ứng với vai trò, vị trí của từng bị cáo.

Bị cáo Nguyễn Văn S là người giữ vai trò chính, bị cáo là người trực tiếp trao đổi với bị cáo T về việc đi mua ma túy và thống nhất việc góp tiền mua ma túy để sử dụng. Sau khi có tiền thì chính bị cáo là người đứng ra giao dịch mua ma túy về sử dụng đồng thời là người quản lý số ma túy mua được. Bị cáo được hưởng một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự và phải chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị phạt tù giam về tội danh khác và bị xử phạt hành chính về hành vi có liên quan đến ma túy, nhưng không lấy đó làm bài học tu dưỡng bản thân trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội mà để có ma túy sử dụng bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi lôi kéo người khác cùng thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng nên khi cân nhắc hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử cân nhắc cần phải xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc cao hơn bị cáo T và tiếp tục cách li bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian như nội dung đề xuất của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa cũng phù hợp.

Đối với bị cáo Trương Văn T: Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với vai trò đồng phạm giúp sức tích cực cho bị cáo S. Khi bị cáo S rủ rê, lôi kéo bị cáo góp tiền để S đi mua ma túy về sử dụng chung thì bị cáo đồng tình và ủng hộ ngay. Bị cáo không là người trực tiếp cầm tiền và đi mua ma túy về để sử dụng. Hành vi phạm tội của bị cáo với vai trò đồng phạm giúp sức cho bị cáo S. Khi quyết định hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với vai trò thứ yếu, bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và được hưởng một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự nên cần tuyên phạt bị cáo mức hình phạt nhất định tương ứng với vai trò của bị cáo trong vụ án nhưng thấp hơn bị cáo S và tiếp tục cách li bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo riêng đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

*Về hình phạt bổ sung:

Các bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có việc làm và thu nhập ổn định nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[6] Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:

  • - Đối với: 01 phong bì niêm phong hoàn mẫu vật sau giám định số 150/KL-KTHS (MT) của Phòng K2 - Công an tỉnh H. Đây là vật chứng của vụ án không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy;
  • - Đối với: số tiền 300.000 đồng và 01 căn cước công dân mang tên Nguyễn Văn S thu giữ của bị cáo S không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, cần trả lại cho bị cáo để sử dụng (Tòa án trả cho bị cáo Căn cước công dân mang tên Nguyễn Văn S).

[7] Về án phí: Căn cứ điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố:

Các bị cáo Nguyễn Văn S và Trương Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Hình phạt:

Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; điều 58 và khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Văn S và Trương Văn T (áp dụng thêm điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo S).

  • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù kể từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 03/01/2024.
  • - Xử phạt bị cáo Trương Văn T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù kể từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 03/01/2024.

Miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

3. Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

  • - Tịch thu cho tiêu hủy; 01 phòng bì hoàn mẫu vật sau giám định số: 150/KL-KTHS(MT) của Phòng K2 - Công an tỉnh H bên trong chứa 0,845 gam ma túy, loại Ketamine; 1,976 gam ma túy loại MDMA và 01 túi nilon đựng mẫu vật; 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định.
  • - Trả lại bị cáo S: số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng); 01 căn cước công dân mang tên Nguyễn Văn S (Tòa án trả cho bị cáo S căn cước công dân mang tên Nguyễn Văn S).

(Số lượng, chủng loại, đặc điểm, tình trạng vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 01/4/2024 giữa Cục thi hành án dân sự tỉnh Hưng Yên và Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an tỉnh H).

4. Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - Vụ GĐKT 1 - TAND tối cao;
  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Hưng Yên;
  • - Cơ quan CSĐT - CA tỉnh Hưng Yên;
  • - Phòng HSNV - CA tỉnh Hưng Yên;
  • - Cục THADS tỉnh Hưng Yên;
  • - Trại tạm giam - CA tỉnh Hưng Yên;
  • - Bị cáo; người có QL&NV liên quan;
  • - Lưu HSVA, VP, THS.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Ngọc Lâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 39/2024/HS-ST ngày 17/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 39/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn S và đồng phạm phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger