Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THANH O, TP. HÀ NỘI

CỘNG H XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT N

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 39/2024/HSST.

Ngày: 17/4/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG H XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT N

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH O – TP HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán-Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Tiến Dũng
  • - Các Hội thẩm nhân dân:
  • 1/Bà Nguyễn Thị Phương- Giáo viên trường THCS xã Bình M, huyện Thanh O.
  • 2/ Bà Nguyễn Thị Nguyệt – Cán bộ nghỉ hưu
  • -Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Phạm Anh Bích- Thư ký Toà án nhân dân huyện Thanh O;
  • -Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh O tham gia phiên toà: Ông Mai Lương Sơn - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 4 năm 2024 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Thanh O - TP. Hà Nội; xét xử sơ thẩm vụ án Hình sự thụ lý số: 27/2024/HSST ngày19 tháng 3 năm 2024. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2024 ngày 01 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Vũ Văn M, Sinh năm: 2004; ĐKHKTT: Thôn Đinh X, xã H N, huyện Ứng H, TP Hà Nội; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt N; Bố đẻ: Vũ Văn H; mẹ đẻ: Lê Thị M; Anh, chị em ruột: Có 2 người, bị cáo là con thứ nhất; Vợ, con: Chưa có; Danh chỉ bản số: 15/2024 do Công an huyện Thanh O lập ngày 05/01/2024.

- Tiền án, tiền sự: Không

- Nhân thân: Ngày 08/6/2023 bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mỹ Đ khởi tố về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự.

Hiện M đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố Hà Nội về tội Cố ý gây thương tích theo Lệnh tạm giam số 54 ngày 22/01/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mỹ Đ, Hà Nội. Có mặt tại phiên tòa theo lệnh trích xuất của Tòa án.

Người bị hại:

Chị Phan Thùy A, sinh năm 2008

Địa chỉ: thôn Bãi, xã Cao Viên, huyện Thanh O, TP Hà Nội

Người bảo vệ quyền và lợi ích cho chị Phan Thùy A:

Bà Phan Thị Thu Trang, sinh năm 1977 và bà Dương Thị H, sinh năm 1981: Là trợ giúp viên pháp lý- Thuộc trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước Thanh phố Hà Nội.

Người liên quan:

1/Ông Vũ Văn H, sinh năm 1983 (bố đẻ bị cáo M)

Trú tại: Thôn Đinh X, xã H N, huyện Ứng H, TP Hà Nội

1/Anh Nguyễn Duy T, sinh năm 2003

Địa chỉ: thôn Nội X, xã Vạn T, huyện Ứng H, TP Hà Nội.

2/Anh Nguyễn Đăng Tiến A, sinh năm 2004

Địa chỉ: Tổ dân phố Vũ X, phường Yên B, thị xã Duy T, tỉnh Hà N

3/Anh Nguyễn Thanh T, sinh năm ****

Địa chỉ: Tổ dân phố Bùi X, phường Yên B, thị xã Duy T, tỉnh Hà N

(Tại phiên tòa: Bà H, ông H có mặt; bà Phan Thị Thu Trang, chị Phan Thùy A có đơn xin xét xử vắng mặt; anh T, anh Tiến A vắng mặt);

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án như sau:

Do thiếu tiền chi tiêu cá nhân nên khoảng tháng 5/2023, Vũ Văn M sinh năm 2004, trú tại thôn Đinh X, xã H N, huyện Ứng H, Hà Nội và Nguyễn M Đ, sinh ngày 15/12/2007, trú tại thôn Dương K, xã Phương T, huyện Ủng H, Hà Nội cùng nhau bàn bạc, thống nhất mặc dù cả hai không có điện thoại để bán nhưng M sẽ dùng tài khoản mạng xã hội facebook có tên là “Manhh Conn” của M để đăng bài bán điện thoại di động với giá rẻ hơn giá thị trường, khi có khách mua điện thoại sẽ yêu cầu khách đặt cọc tiền rồi M và Đ cùng nhau chiếm đoạt số tiền này. Để khách mua điện thoại không biết được thông tin cá nhân của mình khi chuyển tiền đặt cọc, M đã mượn tài khoản ngân hàng 98765111***** tại ngân hàng Quân đội của Nguyễn Duy T sinh năm 2003, trú tại thôn Nội X, xã Vạn T, huyện Úng H, Hà Nội và mượn tài khoản ngân hàng 0396062*** tại ngân hàng Quân đội của Nguyễn Đăng Tiến A sinh năm 2004, trú tại tổ dân phố Vũ X, phường Yên B, thị xã Duy T, Hà N; còn Đ đã mượn tài khoản ngân hàng 220107**** tại ngân hàng Quân đội của Nguyễn Thanh T sinh năm ****, trú tại tổ dân phố Bùi X, phường Yên B, thị xã Duy T, Hà N. M và Đ thống nhất khi lừa được khách hàng chuyển tiền đặt cọc mua điện thoại, M sẽ được hưởng số tiền 250.000 đồng, cả hai sẽ chặn liên lạc với khách hàng để họ không liên lạc đòi tiền cọc đã chuyển được nữa.

Đầu tháng 6/2023, M dùng tài khoản mạng xã hội Facebook có tên “Manhh Conn” để đăng thông tin bán 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax với giá 5.600.000 đồng. Do có nhu cầu muốn mua điện thoại di động nên ngày 12/6/2023, chị Phan Thùy A sinh ngày 24/01/2008, trú tại thôn Bãi, xã Cao Viên, huyện Thanh O, Hà Nội đã liên hệ và hỏi M thông tin về chiếc điện thoại M đăng bán, được M cho biết nếu mua chiếc điện thoại thì phải đặt cọc từ 250.000 đồng đến 300.000 đồng, khi nào nhận máy, mở kiểm tra máy rồi mới thanh toán nốt số tiền còn lại. Thùy A đồng ý mua và thực hiện theo hướng dẫn của M, chuyển khoản số tiền 250.000 đồng vào tài khoản 98765111***** của Nguyễn Duy T. Đến tối ngày 12/6/2023, M nhắn tin và giới thiệu cho Thùy A liên hệ đến tài khoản facebook của Nguyễn M Đ có tên “Nguyễn Quang A” để sớm nhận được điện thoại. Sau đó Thùy A liên hệ với tài khoản này và được Đ yêu cầu phải chuyển khoản số tiền 1.850.000 đồng để làm phí bảo hiểm mua điện thoại, Thùy A đồng ý và chuyển khoản số tiền

1.850.000 đồng vào tài khoản 0396062*** của Nguyễn Đăng Tiến A theo hướng dẫn của Đ. Tối ngày 13/6/2023, Đ yêu cầu Thùy A tiếp tục chuyển khoản số tiền 1.850.000 đồng để làm hợp đồng trả góp cho chiếc điện thoại Thùy A mua. Do chỉ còn có 300.000 đồng nên Thùy A nhắn tin với M, M yêu cầu Thùy A chuyển khoản cho M số tiền này nên Thùy A đã chuyển khoản số tiền 300.000 đồng vào tài khoản 98765111***** của Nguyễn Duy T. Sau đó, Đ tiếp tục nhắn tin giục Thùy A chuyển tiền để làm hợp đồng trả góp chiếc điện thoại nên Thùy A tiếp tục chuyển khoản số tiền 1.850.000 đồng vào tài khoản 0396062*** của Nguyễn Đăng Tiến A. Tổng số tiền Thùy A đã chuyển vào tài khoản của Nguyễn Duy T và Nguyễn Đăng Tiến A là 4.250.000 đồng.

Sau khi T nhận được số tiền 550.000 đồng của Thùy A, M bảo T chuyển số tiền 400.000 đồng vào tài khoản 2201070**** của Nguyễn Thanh T do tài khoản ngân hàng của M khi đó đang bị lỗi, sau đó Nguyễn Thanh T đã rút số tiền 400.000 đồng đưa cho M. Số tiền 150.000 đồng còn lại M bảo T dùng 100.000 đồng để thanh toán tiền ăn của M và T, còn 50.000 đồng M cho T. Đối với tài khoản ngân hàng của Tiến A, Đ là người trực tiếp sử dụng, sau khi nhận được 3.700.000 đồng Đ đã rút hết số tiền trên rồi trả lại tài khoản cho Tiến A. Toàn bộ số tiền trên M và Đ đã ăn tiêu hết. Sau đó M và Đ đã chặn liên lạc với Thùy A.

Đối với Nguyễn M Đ là người cùng M bàn bạc, thống nhất lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Tuy nhiên, Đ sinh ngày 15/12/2007, thời điểm phạm tội mới 15 tuổi 5 tháng 27 ngày nên chưa đủ tuổi truy cứu trách nhiệm hình sự và hiện vắng mặt chưa có lời khai nên Cơ quan điều tra tách ra để làm rõ xử lý sau.

Đối với Nguyễn Duy T, Nguyễn Đăng Tiến A và Nguyễn Thanh T là những người cho M và Đ mượn tài khoản ngân hàng để nhận tiền của Phan Thùy A. Cả T, Tiến A và T đều không biết M và Đ sử dụng tài khoản của mình với mục đích lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Tiến A và T đều không được hưởng lợi gì còn T không biết số tiền được M thanh toán và cho T là do M phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với Nguyễn Duy T, Nguyễn Đăng Tiến A và Nguyễn Thanh T.

* Việc thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu và xử lý vật chứng:

Ngày 08/11/2023, Nguyễn Duy T đã đến Công an huyện Thanh O giao nộp số tiền 150.000 đồng, đây là số tiền Thùy A chuyển, T dùng để thanh toán tiền ăn của M và T và M cho T nên chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh O để giải quyết theo quy định của pháp luật.

* Về trách nhiệm dân sự:

Quá trình điều tra gia đình Vũ Văn M đã bồi thường số tiền 4.250.000 đồng cho chị Phạm Thùy A, chị Thùy Anh đã nhận số tiền trên, không có yêu cầu gì về dân sự và có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho M.

Cáo trạng số 24/CT-VKS ngày 08 tháng 3 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh O, TP Hà Nội truy tố bị cáo Vũ Văn M về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa,

đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng: khoản 1 Điều 174; Điểm b, s, khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38, Bộ luật Hình sự xử phạt: Vũ Văn M mức án từ 09 đến 12 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

Trợ giúp viên pháp lý bảo vệ quyền và lợi ích cho bị hại không có ý kiến bổ sung thêm gì. Vì lý do bị hại chị Phan Thùy A đã nhận đủ số tiền mà bị cáo đã bồi thường và có đơn xin xét xử vắng mặt.

Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng: Về quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, cơ quan truy tố, về hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên: Đã tuân thủ đúng và đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về: Khởi tố vụ án; khởi tố bị can; phê chuẩn quyết định khởi tố bị can; áp dụng biện pháp tạm giam. Về các biện pháp điều tra như: hỏi cung bị can, lấy lời khai của bị hại; thu giữ vật chứng, trưng cầu giám định; về việc giao nhận các văn bản tố tụng cho bị can đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thu thập đầy đủ, đúng trình tự theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, Điều tra viên, Kiểm sát viên: Không mớm cung, ép cung, bức cung, dùng nhục hình đối với bị can.

[2]. Về nội dung:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Vũ Văn M đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của bản thân, phù hợp với tang vật thu giữ, lời khai của người bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Có đủ cơ sở khẳng định:

Tháng 5/2023, Vũ Văn M và Nguyễn M Đ bàn nhau lừa đảo chiếm đoạt tài sản thông qua đăng bán điện thoại rồi chiếm đoạt tiền đặt cọc của khách. Ngày 12/6/2023, Vũ Văn M sử dụng tài khoản facebook có tên là “Manhh Conn” đăng bán chiếc điện thoại Iphone 13 Promax với giá 5.600.000 đồng. Sau đó có Phan Thùy A liên hệ hỏi mua và theo yêu cầu của M và Đ, chị Thùy A đã nhiều lần chuyển khoản cho M và Đ tổng số tiền là 4.250.000 đồng vào số tài khoản do M và Đ cung cấp. Sau đó M sử dụng số tiền 550.000 đồng, Đ sử dụng số tiền 3.700.000 đồng đã ăn tiêu hết. Ngày 11/01/2024, bị can M và gia đình đã bồi thường trả cho chị Phan Thùy A số tiền 4.250.000 đồng.

Đối chiếu với các quy định của pháp luật hình sự, thì hành vi của Vũ Văn M đã phạm vào tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản", theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự;

Về tính chất vụ án: Vụ án có tính chất nguy hiểm cho xã hội bởi hành vi của bị cáo trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người dân được Nhà nước bảo vệ.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tự nguyện sửa chữa khắc phục hậu quả. Người bị hại có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Vì vậy Hội đồng xét xử xem xét đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xét tính chất hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, cần phải có hình phạt nghiêm đối với bị cáo để có tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và gia đình trả lại toàn bộ số tiền 4.250.000đồng cho bị hại chị Phan Thùy A. Bị hại đã nhận lại số tiền trên, không yêu cầu bồi thường gì hội đồng xét xử không xem xét.

Về vật chứng: không có.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên!

QUYẾT ĐỊNH;

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vũ Văn M phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
  2. Về Điều luật áp dụng hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm b, s khoản 1, 2 điều 51, Điều 38 Bộ Luật Hình sự.

    Xử phạt: Bị cáo Vũ Văn M 06 (sáu) tháng tù.

  3. Việc thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu và xử lý vật chứng:

    Trả lại số tiền 150.000đồng cho bị cáo Vũ Văn M. Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 13 tháng 3 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh O, Thành phố Hà Nội .

  4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS, Nghị quyết số 326/2016 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của UBTVQH14 quy định về án án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Vũ Văn M phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có quyền kháng cáo quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 17/4/2024. Người bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Hà Nội;
  • - VKSND huyện; CQĐT;
  • - Cơ quan THAHS, THADS huyện;
  • - UBND xã H N;
  • - Bị cáo, người bị hại;
  • - Người bào chữa.
  • - Lưu HS, VP

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Tiến Dũng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 39/2024/HSST ngày 17/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH O – TP HÀ NỘI về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 39/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH O – TP HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Vũ Văn M)
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger