|
TAND HUYỆN SÌN HỒ TỈNH LAI CHÂU |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 39/2024/HS-ST Ngày 17-4-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÌN HỒ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Minh Tuấn
Các hội thẩm nhân dân: Ông Tẩn A Sếnh, ông Vàng A Măng
- Thư ký phiên toà: Ông Hờ A Thái – Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ tham gia phiên toà: bà Lê Ngọc Trang – Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở TAND huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu, Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 08/2023/HSST ngày 06 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2023/QĐXXST-HS ngày 30/10/2023, Quyết định hoãn phiên tòa số: 12/2024/HSST-QĐ ngày 22/3/2024 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Chẻo A S – Sinh năm 1977 tại huyện S, tỉnh Lai Châu; Giới tính: Nam; Bị cáo không có tên gọi khác; Nơi cư trú: bản T, xã T, huyện S, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: trồng trọt; Trình độ học vấn: 02/12; Dân tộc: Dao; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông: Chẻo Y – đã chết; Con bà: Tẩn Sếnh D – đã chết. Gia đình bị cáo có 04 chị em, bị cáo là con thứ 02 trong gia đình; Vợ: Tẩn U (đã ly hôn) vợ hai Chẻo Mỹ Kim, bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 1999, con nhỏ sinh năm 2009; Tiền án, tiền sự: Không.
Về nhân thân: Tại Quyết định số 09/QĐ – XPVPHC ngày 10/6/2021 của Trưởng công an thị trấn S đã xử phạt Chẻo A S 1.000.000 đồng về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy. Chẻo A S đã chấp hành quyết định, tính đến ngày bị cáo phạm tội đã được xóa tiền sự. Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 30/2013/HSST ngày 18/01/2013 của Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p, khoản 1, khoản 2 Điều 46, Điều 33 Bộ luật hình sự năm 1999 đã xử phạt Chẻo A S 30 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Bị cáo đã chấp hành toàn bộ quyết định của bản án và đã được đương nhiên xóa án tích đối với bản án này.
Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 13/4/2023 đến ngày 22/4/2023 được áp dụng biện pháp ngăn chặn Tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện S, tỉnh Lai Châu cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2. Họ và tên: Nguyễn Quốc T – Sinh năm 1987 tại huyện P, tỉnh Thái Nguyên; Giới tính: Nam; Bị cáo không có tên gọi khác; nơi đăng ký HKTT: xóm Làng, xã Y, huyện P, tỉnh Thái Nguyên; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông: Nguyễn Q – sinh năm 1962; Con bà: Trần Thị X – sinh năm 1964. Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; Vợ: Phạm Ngọc Q – sinh năm 1986, bị cáo có 02, con lớn sinh năm 2017, con nhỏ sinh năm 2022. Tiền án, tiền sự: Không.
Về nhân thân: Bản án hình sự sơ thẩm số 35/HSST ngày 17/6/2008 của Tòa án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên đã tuyên Nguyễn Quốc T phạm tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 140, điểm p, h khoản 1, khoản 2 Điều 46, Điều 60 Bộ luật hình sự năm 1999, xử phạt Nguyễn Quốc T 15 tháng tù cho hưởng án treo. Buộc bị cáo phải chịu 50.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Tính đến ngày thực hiện hành vi phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (13/4/2023), đã hết thời hiệu thi hành bản án, bị cáo đã đương nhiên xóa án tích theo quy định.
Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 13/4/2023 đến ngày 22/4/2023 được áp dụng biện pháp ngăn chặn Tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện S, tỉnh Lai Châu cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Lù A G, sinh năm 1985 – Vắng mặt.
Nơi đăng ký thường trú: bản Ma Sa P, xã K, huyện T, tỉnh Lai Châu. Nơi thường trú: bản Tả Phìn, xã T, huyện S, tỉnh Lai Châu.
* Người bào chữa cho bị cáo Chẻo A: Ông Nguyễn Xuân O – Luật sư ký hợp đồng thực hiện Trợ giúp pháp lý với Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh L. – Có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Buổi tối ngày 12/4/2023 Chẻo A lên bản H, xã P, huyện S mua được của một người đàn ông không quen biết 01 gói Heroine, bên ngoài được gói bằng mảnh nilon màu hồng, với giá 100.000 đồng, sau khi mua S mang về nhà lấy ra một ít để sử dụng, phần còn lại Sun gói lại như cũ cất trong túi quần bên trái đang mặc, mục đích để sử dụng hoặc có ai hỏi mua thì bán.
Buổi sáng ngày 12/4/2023 Nguyễn Quốc T dùng điện thoại có số thuê bao 0347.323.788 của mình gọi vào điện thoại có số thuê bao 0397.345.427 của Chẻo A để hỏi mua ma túy để sử dụng, T gọi nhiều lần nhưng S không nghe máy. T đoán có Lù A G, sinh năm 1985 trú tại bản M, xã K, huyện T, tỉnh Lai Châu đang ở nhà của S nên T đã gọi vào số điện thoại có thuê bao 0964.052.xxx của anh G, G nghe máy, T nói có ở gần anh S không? Gàng trả lời có đang ở nhà anh S, T bảo chuyển máy cho S, G chuyển máy cho S và nói với S hỏi mua Heroine, bán cho em một trăm nghìn, em vật lắm rồi, S trả lời có. T bảo S mang Heroine theo đường vành đai lên khu vực gần xưởng sửa chữa ô tô do mình làm thuê ở khu E, thị trấn S, Chẻo A đồng ý. Toàn bộ quá trình trao đổi giữa T và S thì G không biết, S cũng không nói cho G biết.
Sau khi trao đổi T đi bộ ra khu vực đường vành đai, thuộc khu E, thị trấn S đứng đợi. Chẻo A S điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 25B1 – 342.50, đi lên khu vực T hẹn, đến nơi T lấy từ trong túi quần ra 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng ra cầm sẵn ở tay phải, Chẻo A S điều khiển xe lại gần, dừng xe, tay trái cầm gói Heroine được gói ngoài bằng nilon màu hồng đưa cho Nguyễn Quốc T, T dùng tay phải nhận gói Heroine, đồng thời đưa tiền cho S, S cầm tờ tiền 100.000 đồng vừa bán Heroine cho T mà có cất vào túi quần bên trái rồi quay ngược xe đi về nhà, còn T cất gói H vào túi áo bên phải đang mặc rồi đi bộ vào bụi cây ven đường ngay cạnh đó để sử dụng. Quá trình Chẻo A S mang ma túy đi bán đã bị Tổ công tác Công an huyện S phát hiện, theo dõi, khi hành vi mua bán vừa thực hiện xong vào khoảng 9 giờ ngày 13/4/2023, thì tổ công tác Công an huyện S đã chia làm 02 nhóm, nhóm thứ nhất khống chế bắt quả tang Nguyễn Quốc T thu giữ 01 gói Heroine đang cất dấu trong túi áo khoác mặc trên người. Nhóm thứ hai tiến hành truy đuổi, khống chế bắt quả tang Chẻo A, vật chứng thu giữ là 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng do S vừa bán Heroine cho T.
Quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã thu giữ những vật chứng sau:
0,19 gam Heroine đã gửi toàn bộ giám định tại Phòng K Công an tỉnh L, không hoàn lại mẫu vật gửi giám định.
01 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 100.000 đồng có mã số hiệu OG 19738749 gửi đến giám định là tiền thật.
01 mảnh nilon màu hồng dùng để gói Heroine và 01 điện thoại di động loại điện thoại có bàn phím, màu đỏ, nhãn hiệu VIETTEL (kèm theo sim) thu giữ của Nguyễn Quốc T;
01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, số loại SIRIUS, màu trắng – đen, biển kiểm soát 25B1 – 342.50 và 01 chiếc điện thoại di động loại màn hình cảm ứng, nhãn hiệu OPPO – A15S,V72 màu xanh dương (kèm theo sim) thu giữ, tạm giữ của Chẻo A S;
01 chiếc điện thoại di động, loại điện thoại có bàn phím, màu xanh, nhãn hiệu NOKIA (kèm theo sim), tạm giữ của Lù A.
Tại bản Kết luận giám định số 44/LK-GĐVV ngày 13/4/2023 của Giám định viên tư pháp theo vụ việc kết luận: 01 gói chất bột màu trắng thu giữ của Nguyễn Quốc T (sau khi loại bỏ bao bì) có khối lượng 0,19 gam. Tại bản Kết luận giám định số 458/KL-KTHS ngày 17/4/2023 của Phòng K Công an Tỉnh L kết luận: 01 mẫu chất bột màu trắng gửi giám định là ma túy, loại Heroine.
Tại bản Kết luận giám định số 457/KL-KTHS ngày 17/4/2023 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: 01 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 100.000 đồng có mã số hiệu OG 19738749 gửi đến giám định là tiền thật.
Bản cáo trạng số 81/CT - VKSSH ngày 06/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ đã Truy tố bị cáo Chẻo A S1 ra trước Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu, để xét xử về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Truy tố bị cáo Nguyễn Quốc T ra trước Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu, để xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về các kết luận giám định và bản cáo trạng nêu trên.
Tại phiên tòa vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, điểm s khoản 1 Điều 51 Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc T từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Áp dụng khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Chẻo A S1 từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 09 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 46, điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Điểm a, c khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy: 01 mảnh nilon màu hồng dùng để gói Heroine. Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: 01 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 100.000 đồng, 01 điện thoại di động loại điện thoại có bàn phím, màu đỏ, nhãn hiệu VIETTEL (kèm theo sim) thu giữ của Nguyễn Quốc T;
Tịch thu ½ chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, số loại SIRIUS, màu trắng – đen, biển kiểm soát 25B1 – 342.50, kèm theo chìa khóa. Trả lại ½ chiếc xe mô tô trên cho vợ bị cáo.
Trả lại cho bị cáo C A Sun 01 chiếc điện thoại di động loại màn hình cảm ứng, nhãn hiệu OPPO – A15S,V72 màu xanh dương (kèm theo sim); Trả lại cho ông Lù A G, địa chỉ: bản M, xã K, huyện T, tỉnh Lai Châu: 01 chiếc điện thoại di động, loại điện thoại có bàn phím, màu xanh, nhãn hiệu NOKIA (kèm theo sim).
Bị cáo Nguyễn Quốc T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo Chẻo A S1 được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
Người bào chữa cho bị cáo Chẻo A S1: Đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, trả lại điện thoại và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo. Đề nghị xử lý vật chứng là chiếc xe mô tô biển kiểm soát 25B1 – 342.50 theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo nhất trí và không có tranh luận gì với Đại diện Viện kiểm sát. Tại lời nói sau cùng bị cáo T rất hối hận về hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo S1 đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện S, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện S, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, các bị cáo, người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:
Lời khai nhận tội của các bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ để khẳng định: Khoảng 09 giờ 00 phút ngày 13/4/2023 tại lề đường V, thuộc khu E thị trấn S, huyện S, tỉnh Lai Châu, Chẻo A đã có hành vi bán trái phép cho Nguyễn Quốc T 01 gói Heroine, có khối lượng 0,19 gam lấy số tiền 100.000 đồng; Nguyễn Quốc T mua 0,19 gam Heroine của Chẻo A, mục đích để sử dụng. Trong quá trình mua bán trái phép chất ma túy giữa Chẻo A và Nguyễn Quốc T đã bị tổ công tác Công an huyện S phát hiện, bắt quả tang.
Các bị cáo đều là những người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Hành vi nêu trên của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách quản lý đặc biệt về các chất ma tuý của Nhà nước, Hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội. Ý thức được điều đó nhưng bị cáo S1 vì mục đích tư lợi cho bản thân đã có hành vi bán trái phép chất ma túy cho Nguyễn Quốc T nên bị cáo phải chịu trách nhiệm về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Bị cáo Nguyễn Quốc T mua ma túy để sử dụng cho bản thân nên bị cáo phải chịu trách nhiệm về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
[3] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo Chẻo A, Nguyễn Quốc T đều có nhân thân xấu, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử các bị cáo đều đã thành khẩn khai báo nên Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Chẻo A S1 là người dân tộc thiểu số sinh sống ở có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo S1, T đều không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
Trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, xét nhân thân và các tình tiết Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để giáo dục, răn đe các bị cáo, giúp các bị cáo cải tạo, phấn đấu trở thành công dân tốt, sống tôn trọng quy định của pháp luật và có ích cho gia đình, xã hội.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đề nghị về hình phạt là có căn cứ nên cần được chấp nhận riêng về đề nghị trả lại ½ chiếc xe mô tô cho vợ bị cáo Chẻo A S1 HĐXX không chấp nhận, xét thấy cần tịch thu, nộp ngân sách toàn bộ chiếc xe mô tô này do bị cáo S1 dùng vào việc phạm tội. Xét đề nghị của người bào chữa cho bị cáo C A S1 là có căn cứ lên chấp nhận.
[4] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo làm nghề tự do công việc và thu nhập không ổn định, gia đình có hoàn cảnh khó khăn. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[5] Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 46, điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. điểm a, c khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy: 01 mảnh nilon màu hồng. Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: 01 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 100.000 đồng. Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động loại điện thoại có bàn phím (kèm theo sim), màu đỏ, nhãn hiệu VIETTEL thu giữ của Nguyễn Quốc T; Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, số loại SIRIUS, màu trắng – đen, biển kiểm soát 25B1 – 342.50.
Trả lại cho Lù A G 01 chiếc điện thoại di động, loại điện thoại có bàn phím, màu xanh, nhãn hiệu NOKIA (kèm theo sim). Trả lại cho bị cáo C A Sun 01 chiếc điện thoại di động loại màn hình cảm ứng, nhãn hiệu OPPO – A15S,V72 màu xanh dương (kèm theo sim).
[6] Về các vấn đề liên quan:
Về nguồn gốc số Heroine, bị cáo C A S1 khai mua của người không quen biết gặp ở bản H, xã P, huyện S quá trình điều tra và tại phiên tòa không xác định được người này nên không có căn cứ xem xét.
Đối với Lù A G là người đã đưa điện thoại của mình cho C A S1 trao đổi mua bán trái phép chất ma túy với Nguyễn Quốc T, quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định Lù A G không biết được nội dung trao đổi giữa bị cáo T và bị cáo S1 nên không có căn cứ xem xét theo quy định của pháp luật.
[7] Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án đối với bị cáo Nguyễn Quốc T: phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án đối với bị cáo Chẻo A S1: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 46, điểm a khoản 1 Điều 47, Điều 38 Bộ luật hình sự. Điểm a, c khoản 2 Điều 106, Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án đối với bị cáo Nguyễn Quốc T:
Căn cứ vào khoản 1, khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 46, điểm a khoản 1 Điều 47, Điều 38 Bộ luật hình sự. Điểm a, c khoản 2, khoản 3 Điều 106, Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án đối với bị cáo Chẻo A S1:
- Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Quốc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Bị cáo Chẻo A S1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
- Về hình phạt:
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc T: 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Thời hạn tù tính từ ngày 13/4/2023. Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
- Xử phạt bị cáo Chẻo A S1: 02 (Hai) năm 03 (Ba) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Thời hạn tù tính từ ngày 13/4/2023. Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
- Về vật chứng của vụ án: Tịch thu, tiêu hủy: 01 mảnh nilon màu hồng dùng để gói Heroine. Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: 01 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 100.000 đồng, 01 điện thoại di động loại điện thoại có bàn phím, màu đỏ, nhãn hiệu VIETTEL (kèm theo sim) thu giữ của Nguyễn Quốc T, 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, số loại SIRIUS, màu trắng – đen, biển kiểm soát 25B1 – 342.50, kèm theo chìa khóa.
Trả lại cho bị cáo C A Sun 01 chiếc điện thoại di động loại màn hình cảm ứng, nhãn hiệu OPPO – A15S,V72 màu xanh dương (kèm theo sim); Trả lại cho ông Lù A G1, địa chỉ: bản M, xã K, huyện T, tỉnh Lai Châu: 01 chiếc điện thoại di động, loại điện thoại có bàn phím, màu xanh, nhãn hiệu NOKIA (kèm theo sim). (Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng vào hồi 9 giờ 00 phút ngày 19/10/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện S với Chi Cục thi hành án dân sự huyện Sìn Hồ).
- Về án phí: Bị cáo Nguyễn Quốc T phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo Chẻo A S1 được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình lên Tòa án nhân dân cấp trên trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp trên trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - chủ toạ phiên toà Lê Minh Tuấn |
Bản án số 39/2024/HS-ST ngày 17/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÌN HỒ về mua bán trái phép chất ma tuý và tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 39/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma tuý và Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÌN HỒ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chẻo A Sun phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy, Nguyễn Quốc Tuấn phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
