TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 39/2024/HSST Ngày: 16/05/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Thu Hà
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Dương Viết Vĩnh
- Ông Nguyễn Văn Hợi
Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Bích Ngọc- Thư ký Toà án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình tham gia phiên toà: Ông Đàm Hoàng Sơn - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 5 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên, tiến hành xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 31/2024/TLST-HS ngày 02/04/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2024/QĐXX ngày 02/ 5 /2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn C; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 13 tháng 4 năm 1963;
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện tại: Xóm V, xã B, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Làm ruộng; Văn hoá: 7/10. Con ông: Nguyễn Văn S (đã chết); con bà: Dương Thị T (sinh năm 1939); Gia đình bị cáo có 06 anh em ruột, C là con thứ hai; có vợ Nguyễn Thị L (sinh năm 1965); Có ba con chung: Con lớn sinh năm 1984, con nhỏ sinh năm 1988.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 21/01/2015, Nguyễn Văn C bị TAND huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” tại bản án số 05/2015/HSST ngày 21/01/2015.
Biện pháp ngăn chặn: Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam kể từ ngày 28/12/2023 cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Có mặt tại phiên tòa.
* Người chứng kiến:
- Anh Dưỡng Văn M, sinh năm 1975; Trú tại: Xóm T, xã X, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.
- Anh Dương Văn P, sinh năm 1981; Trú tại: Xóm T, xã X, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.
(Đều vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 09 giờ 30 phút ngày 28/12/2023, Tổ công tác Công an xã X, huyện P, tỉnh Thái Nguyên đang làm nhiệm vụ tuần tra tại khu vực xóm K, xã X, P, Thái Nguyên thì phát hiện Nguyễn Văn C, sinh năm 1963, trú tại xóm V, xã B, huyện P, tỉnh Thái Nguyên tại đoạn đường bê tông cạnh Đền L1 huyện P, có biểu hiện nghi vấn tàng trữ trái phép chất ma túy. Quá trình làm việc, C tự nguyện lấy từ túi áo khoác bên phải phía trước ra 01 túi ni lon màu trắng, bên trong có chứa chất bột dạng cục màu trắng giao nộp cho cơ quan công an. Cần khai nhận đó là ma túy loại Heroine của C mang theo để sử dụng cho bản thân, nhưng chưa kịp sử dụng thì bị bắt giữ. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng theo quy định, sau đó đưa C cùng vật chứng về Cơ quan CSĐT Công an huyện P điều tra làm rõ.
Cùng ngày, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P phối hợp cùng Phòng K Công an tỉnh T, tiến hành mở niêm phong (ký hiệu A) cân khối lượng số chất bột màu trắng thu giữ của Nguyễn Văn C có tổng khối lượng là 0,143 gam; Lấy toàn bộ 0,143 gam niêm phong vào bì thư ký (hiệu A1) gửi Phòng K Công an tỉnh T để giám định.
Tại bản kết luận giám định số: 141/KL-KTHS ngày 05/01/2024, của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Mẫu chất bột dạng cục màu trắng trong bì thư niêm phong ký hiệu A1 gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, có khối lượng là 0,143 gam.
Vật chứng của vụ án gồm: 01 bì niêm phong ký hiệu A1, bên ngoài có chữ: “ Hoàn lại 0,133gam mẫu sau giám định và vỏ bao mẫu gói A1. Hiện đang được bảo quản tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Bình.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa Nguyễn Văn C khai nhận: Bản thân là người nghiện ma túy. Khoảng 09 giờ ngày 28/12/2023, C đi bộ một mình từ nhà sang khu vực xóm K, xã X, huyện P để mua ma túy sử dụng. Đến nơi, C gặp một người đàn ông không quen biết C hỏi mua ma túy của người này thì người này đồng ý. Cần đưa cho người đàn ông 100.000 đồng, người này cầm tiền và đưa cho C 01 gói ma túy được gói ngoài bằng túi nilon màu trắng. Sau khi mua được ma túy, C cất giấu vào trong túi áo khoác bên phải C đang mặc rồi đi tìm nơi sử dụng thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng như đã nêu trên. Bị cáo xác định việc bị cáo cất giấu tàng trữ ma túy ngày 28/12/2023 để sử dụng cho bản thân, không mục đích mua bán kiếm lời, bị cáo xác định Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình truy tố bị cáo là đúng người đúng tội.
Tại bản cáo trạng số 30/CT-VKSPB ngày 25/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên truy tố Nguyễn Văn C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của BLHS.
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo.
Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về hình phạt chính: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C từ 30 đến 36 tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy bì niêm phong ký hiệu A1,bên ngoài có chữ: “ Hoàn lại 0,133 gam mẫu sau giám định và vỏ bao mẫu gói Al”.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016 ngày 30/12/2016 của UBTVQH 14 miễn cho bị cáo 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Kết thúc phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện VKS. Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho được hưởng mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1]Về thủ tục tố tụng:
Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện P, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn C thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa là khách quan, phù hợp với các lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người chứng kiến, vật chứng thu giữ và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để xác định: Hồi 9 giờ 40 phút, ngày 28/12/2023, tại khu vực xóm K, xã X, huyện P, tỉnh Thái Nguyên, bị cáo Nguyễn Văn C đã có hành vi tàng trữ 0,143 gam ma túy loại Heroine mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị phát hiện bắt quả tang. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Cụ thể nội dung Điều 249 BLHS quy định:
- “1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:...
- c) Heroin, ....có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 5 gam....”
Hành vi của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy. Bị cáo biết việc bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện, lỗi của bị cáo là lỗi cố ý trực tiếp. Việc Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, do vậy bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS là “ Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào theo quy định tại Điều 52 của BLHS.
Về nhân thân: Ngày 21/01/2015, bị cáo bị TAND huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” tại bản án số 05/2015/HSST, tuy đã được xóa án tích nhưng là nhân thân cần xem xét khi Hội đồng xét xử lượng hình đối với bị cáo.
[4]. Về hình phạt: Sau khi xem xét đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo thì thấy rằng: Bị cáo xuất thân từ thành phần lao động nhưng không chịu tu dưỡng, rèn luyện. Bị cáo đã từng bị xét xử về cùng loại tội, tuy nhiên bị cáo không lấy đó làm bài học để từ bỏ ma túy, làm lại cuộc đời. Do vậy cần phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc với bị cáo, áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, ngăn ngừa tội phạm nói chung và các tội phạm về ma túy nói riêng. Xét thấy mức án đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình đề nghị khi luận tội là có phần nghiêm khắc, không tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội bị cáo đã thực hiện.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có công việc và thu nhập ổn định, không có tài sản gì để đảm bảo thi hành án do đó không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp.
[5] Về vật chứng của vụ án:Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Đối với 01 bì niêm phong ký hiệu A1 bên trong có chứa 0,133 gam ma túy còn lại sau giám định cần tịch thu tiêu hủy.
[6] Về án phí: Bị cáo là người cao tuổi nên Hội đồng xét xử miễn cho bị cáo 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/QH ngày 30/12/2016 quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
[7] Về các vấn đề khác:
Về nguồn gốc số ma túy bị cáo khai mua của 01 người đàn ông không quen biết, không biết địa chỉ cụ thể. Quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ của người này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P không có cơ sở điều tra làm rõ để xử lý.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 326 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của BLHS;
- Xử phạt: Nguyễn Văn C 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 28/12/2023.
- Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS;
- Về án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/QH ngày 30/12/2016 quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Miễn cho bị cáo Nguyễn Văn C 200.000 đồng án phí HSST.
- Về quyền kháng cáo: Án xét xử sơ thẩm công khai. Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Áp dụng Điều 329 của BLTTHS: Hội đồng xét xử quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.
Tịch thu tiêu hủy: 01 bì niêm phong ký hiệu A1, bên ngoài có chữ: “ Hoàn lại 0,133gam mẫu sau giám định và vỏ bao mẫu gói A1, vụ Nguyễn Văn C, SN 1963, phạm tội về ma túy.
(Đặc điểm vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 19 /4 /2024 giữa Công an huyện P và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Bình)
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Thu Hà |
Bản án số 39/2024/HSST ngày 16/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 39/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
