Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NAM ĐÀN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 39/2024/HS-ST

Ngày 16 - 5 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vương Hoàng Hào.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đặng Văn Trung. Nghề nghiệp: Bí thư Huyện đoàn Nam Đàn.

Ông Hoàng Đăng Lợi. Nghề nghiệp: Bí thư Đoàn xã Nam Cát, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Văn Đình Thắng - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 34/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 4 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2024/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 01 năm 2024 và quyết định hoãn phiên tòa số 08/2024/QĐST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2024, đối với bị cáo:

Trần Văn N, sinh năm 1998 tại huyện Đ, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Xóm Văn Đ, xã H, huyện Đ, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn N1 và bà Nguyễn Thị S; có vợ: Lê Thị Tú A và 01 con; tiền sự, tiền án: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 14 tháng 9 năm 2023 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện N. Có mặt.

- Bị hại:

  1. Cháu Bùi Thị Thùy L, sinh ngày 25/01/2006. Nơi cư trú: Xóm F, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
  2. Đại diện theo pháp luật của bị hại cháu Bùi Thị Thùy L: Bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1970. Nơi cư trú: Xóm F, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

  3. Cháu Đặng Ánh T, sinh ngày 04/01/2007. Nơi cư trú: Khối Nam B, thị trấn N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
  4. Đại diện theo pháp luật của bị hại cháu Đặng Ánh T: Bà Nguyễn Hồng H, sinh năm 1985. Nơi cư trú: Khối Nam B, thị trấn N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

  5. Chị Phan Thị Vân Đ1, sinh năm 2004. Nơi cư trú: Xóm D, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
  6. Cháu Nguyễn Thị Thảo V, sinh ngày 10/10/2008. Nơi cư trú: Xóm X, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
  7. Đại diện theo pháp luật của bị hại cháu Nguyễn Thị Thảo V: Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1982; Nơi cư trú: Xóm X, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

  8. Cháu Nguyễn Thị Bảo N2, sinh ngày 12/02/2008. Nơi cư trú: Xóm C, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
  9. Đại diện theo pháp luật của bị hại cháu Nguyễn Thị Bảo N2: Ông Nguyễn Đình M, sinh năm 1983; Nơi cư trú: Xóm C, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

  10. Chị Đinh Thị H2, sinh năm 1992. Nơi cư trú: Xóm T, xã X, huyện N, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
  11. Chị Phạm Thị Ngọc H3, sinh năm 2001. Nơi cư trú: Xóm H, xã B, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
  12. Cháu Trần Thị Mỹ D, sinh ngày 11/11/2006. Nơi cư trú: Xóm E, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
  13. Đại diện theo pháp luật của bị hại cháu Trần Thị Mỹ D: Ông Trần Như H4, sinh năm 1975. Nơi cư trú: Xóm E, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại cháu Nguyễn Thị Bảo N2 và cháu Nguyễn Thị Thảo V: Ông Lê Văn L2 – Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh Nghệ An. Có mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Anh Nguyễn Văn P, sinh năm 1989. Nơi cư trú: Xóm F, xã T, huyện Đ, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
  2. Anh Đậu Đức H5, sinh năm 1986. Nơi cư trú: Xóm A, xã T, huyện Đ, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
  3. Anh Nguyễn Phúc N3, sinh năm 1994. Nơi cư trú: Xóm B, xã N, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
  4. Chị Lê Thị Tú A, sinh năm 1998. Nơi cư trú: K, phường N, thị xã C, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
  5. Anh Nguyễn Băng H6, sinh năm 1994. Nơi cư trú: Xóm D, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hành vi thứ nhất: Vào khoảng 18 giờ 20 phút ngày 01/8/2023, Trần Văn N điều khiển xe mô tô SH Mode màu đỏ, gắn biển kiểm soát 37S1-124.38 đi từ thành phố V đến khối B, thị trấn N, huyện N, dùng khẩu trang che biển kiểm soát để cướp giật tài sản. Khi nhìn thấy cháu Bùi Thị Thùy L đang điều khiển xe máy điện, trên tay cầm điện thoại di động Iphone 13 Promax vỏ màu xanh, gắn thẻ sim có số thuê bao 0825224859, Trần Văn N điều khiển xe mô tô vượt lên phía bên phải cháu L và dùng tay trái giật điện thoại rồi điều khiển xe chạy theo Quốc lộ A đến xóm F, xã T, huyện Đ, Nghệ An. Sau đó, Trần Văn N mang chiếc điện thoại đã cướp giật được bán cho anh Nguyễn Văn P với giá 5.000.000 đồng và tiêu xài hết. Chiếc điện thoại này được mua đi bán lại và người mua cuối cùng là anh Nguyễn Phúc N3

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 31 ngày 22/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản huyện N kết luận: “01 chiếc điện thoại di động Iphone 13 Promax vỏ màu xanh bị chiếm đoạt ngày 01/8/2023 có giá trị là 12.000.000 đồng”.

Hành vi thứ hai: Vào khoảng 19 giờ ngày 27/8/2023, Trần Văn N điều khiển xe mô tô SH Mode gắn biển kiểm soát giả 38L1-11794 đi từ nhà ở xóm V, xã H, huyện Đ, tỉnh Nghệ An đến khối N, thị trấn N, huyện N thì nhìn thấy cháu Đặng Ánh T đang điều khiển xe máy điện, tay trái cháu T cầm một chiếc điện thoại di động ViVo Y12S vỏ màu xanh. Trần Văn N điều khiển xe mô tô vượt lên phía bên phải cháu T và dùng tay trái giật chiếc điện thoại nói trên rồi điều khiển xe chạy theo Quốc lộ A về xóm E, xã Q, huyện Đ. Sau đó, Trần Văn N mang chiếc điện thoại cướp giật được bán cho anh Đậu Đức H5 với giá 800.000 đồng rồi tiêu xài hết. Ngày 30/8/2023, anh H5 đã bán lại chiếc điện thoại nêu trên cho anh Lê Đức H7.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 30 ngày 22/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản huyện N kết luận: “01 chiếc điện thoại di động ViVo Y12S vỏ màu xanh bị chiếm đoạt ngày 27/8/2023 có giá trị là 1.000.000 đồng.”

Hành vi thứ ba: Vào khoảng 20 giờ ngày 07/9/2023, Trần Văn N điều khiển xe mô tô Exciter màu trắng gắn biển kiểm soát giả 38L1-11794 đi từ nhà đến xóm A, xã L, huyện Đ thì nhìn thấy chị Phan Thị Vân Đ1 đang điều khiển xe mô tô, trên tay chị Đ1 cầm chiếc điện thoại di động Iphone 11 vỏ màu tím. Trần Văn N điều khiển xe mô tô vượt lên phía bên trái, dùng tay phải giật chiếc điện thoại nói trên rồi điều khiển xe chạy về nhà. Sáng ngày 08/9/2023, Trần Văn N mang chiếc điện thoại trên đến thuê anh Nguyễn Băng H6 mở khóa. Sau đó, Trần Văn N đưa chiếc điện thoại trên cho vợ là chị Lê Thị Tú A sử dụng.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 30 ngày 22/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản huyện N kết luận: “01 chiếc điện thoại di động Iphone 11 vỏ màu tím bị chiếm đoạt ngày 07/9/2023 có giá trị là 3.500.000 đồng.”

Hành vi thứ tư và thứ năm: Vào khoảng 18 giờ ngày 09/9/2023, Trần Văn N điều khiển xe mô tô Yamaha Exciter màu trắng, gắn biển kiểm soát giả 38L1-11794 đi từ nhà đến khối B, thị trấn N, huyện N thì N nhìn thấy cháu Nguyễn Thị Thảo V đang điều khiển xe máy điện, trên tay trái cháu V cầm một chiếc điện thoại di động Iphone XS vỏ màu đen. Trần Văn N điều khiển xe mô tô vượt lên phía bên trái của cháu V và dùng tay phải giật chiếc điện thoại nói trên rồi điều khiển xe mô tô chạy theo Quốc lộ A về huyện Đ. Đến khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, khi đi đến xóm C, xã N, huyện N thì Trần Văn N nhìn thấy cháu Nguyễn Thị Bảo N2 điều khiển xe máy điện, bên trong hộc phía trước bên trái xe để một chiếc điện thoại di động SamSung S10 Life vỏ màu xanh. Trần Văn N điều khiển xe mô tô vượt lên phía bên trái của em N và dùng tay phải giật chiếc điện thoại nói trên rồi điều khiển xe mô tô đi về nhà.

Ngày 10/9/2023, Trần Văn N mang theo 02 chiếc điện thoại nói trên đến gặp anh Nguyễn Băng H6 và bán chiếc điện thoại di động S1 với giá 1.700.000 đồng, bán chiếc điện thoại di động Iphone XS với giá 700.000 đồng.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 30 ngày 22/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản huyện N kết luận: “01 chiếc điện thoại di động Iphone XS vỏ màu đen bị chiếm đoạt ngày 09/9/2023 có giá trị là 2.500.000 đồng.”

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 31 ngày 22/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản huyện N kết luận: “01 chiếc điện thoại di động SamSung S10 Lite vỏ màu xanh bị chiếm đoạt ngày 09/9/2023 có giá trị là 2.000.000 đồng.”

Như vậy, giá trị tài sản mà Trần Văn N cướp giật ngày 09/9/2023 là 4.500.000 đồng.

Hành vi thứ sáu: Vào khoảng 19 giờ ngày 10/9/2023, Trần Văn N điều khiển xe mô tô Yamaha Exciter màu trắng, gắn biển kiểm soát giả 38L1-11794 đi từ nhà đến xóm Đ, xã X, huyện N thì nhìn thấy chị Đinh Thị H2 đang điều khiển xe máy điện, trong hộc phía trước bên trái xe để một chiếc điện thoại di động Iphone 12 Promax vỏ màu xanh, gắn thẻ Sim số thuê bao 0919766662. Trần Văn N điều khiển xe mô tô vượt lên phía bên trái chị H2, dùng tay phải giật chiếc điện thoại từ trong hộc xe rồi điều khiển xe mô tô chạy về nhà. Khi đi đến khu vực cầu P thuộc xóm A, xã N, huyện N thì N dừng xe, tháo biển số giả 38L1-11794 vứt xuống sông. Ngày 11/9/2023, Trần Văn N mang chiếc điện thoại đã cướp giật được bán cho anh Nguyễn Băng H6 với giá 4.000.000 đồng và tiêu xài hết.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 30 ngày 22/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản huyện N kết luận: “01 chiếc điện thoại di động Iphone 12 Promax vỏ màu xanh bị chiếm đoạt ngày 10/9/2023 có giá trị là 10.000.000 đồng.”

Hành vi thứ bảy và hành vi thứ tám: Vào khoảng 19 giờ ngày 12/9/2023, Trần Văn N điều khiển xe mô tô SH Mode không gắn biển số đi từ nhà đến chợ B thuộc xã B, huyện Y thì nhìn thấy chị Phạm Thị Ngọc H3 đang điều khiển xe mô tô, trong hộc phía bên trái xe để một chiếc điện thoại di động Iphone 8 Plus, vỏ màu hồng. Trần Văn N điều khiển xe mô tô vượt lên phía bên trái xe mô tô của H3 và dùng tay phải giật chiếc điện thoại để trong hộc xe rồi điều khiển xe chạy hướng huyện D, Nghệ An. Vào khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, Trần Văn N điều khiển xe mô tô đến ngã tư thị trấn D, huyện D thì nhìn thấy cháu Trần Thị Mỹ D đang điều khiển xe máy điện, trong hộc phía bên trái xe để một chiếc điện thoại di động Iphone 11 Promax, vỏ màu xanh. Trần Văn N vượt lên phía bên trái xe máy điện của cháu D dùng tay phải giật chiếc điện thoại nói trên rồi điều khiển xe mô tô chạy về nhà.

Đến sáng ngày 13/9/2023, Trần Văn N mang hai chiếc điện thoại cướp giật được đến gặp anh Nguyễn Băng H6 để thuê mở khóa nhưng lúc này anh H6 không ở nhà nên N đã gửi hai chiếc điện thoại trên cho nhân viên cửa hàng điện thoại di động của anh H6 rồi đi về.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 30 ngày 22/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản huyện N kết luận: “01 chiếc điện thoại di động Iphone 8 Plus, vỏ màu hồng bị chiếm đoạt ngày 12/9/2023 có giá trị là 2.000.000 đồng, 01 chiếc điện thoại di động Iphone 11 Promax, vỏ màu xanh bị chiếm đoạt ngày 12/9/2023 có giá trị là 6.000.000 đồng.” Như vậy, giá trị tài sản mà Trần Văn N cướp giật ngày 12/9/2023 là 8.000.000 đồng.

Tổng số tiền bị cáo Trần Văn N cướp giật tài sản là 39.000.000 đồng.

Bản Cáo trạng số 42/CT-VKSNĐ ngày 05 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn truy tố Trần Văn N về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d, g khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Trần Văn N phạm tội “Cướp giật tài sản”. Căn cứ vào điểm d, g khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Trần Văn N mức án từ 4 năm đến 4 năm 6 tháng.

Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về vật chứng: Không đề nghị xem xét.

Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Trần Văn N phải bồi thường cho cháu Nguyễn Thị Bảo N2 (người đại diện hợp pháp là ông Nguyễn Đình M, sinh năm 1983 và bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1984) số tiền 2.000.000 đồng. Bồi thường cho anh Đậu Đ2 hiến số tiền 800.000 đồng.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự và dân sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn N đồng ý với bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo không có tranh luận gì.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đồng ý bồi thường cho bị hại cháu Nguyễn Thị Bảo N2 số tiền 2.000.000 đồng. Bồi thường cho anh Đậu Đức H5 số tiền 800.000 đồng.

Bị cáo nói lời nói sau cùng: Trong thời gian bị tạm giam, bị cáo đã biết hành vi của mình là sai trái, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để sớm về gia đình và xã hội.

Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị hại cháu Nguyễn Thị Bảo N2Nguyễn Thị Thảo V, ông Lê Văn L2 trình bày: Về tội danh: Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn truy tố bị cáo Trần Văn N về tội “Cướp giật tài sản” là đúng quy định của pháp luật. Về hình phạt: Đồng ý như luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại cháu Nguyễn Thị Bảo N2 yêu cầu bị cáo Trần Văn N bồi thường số tiền 2.000.000 đồng. Bị hại cháu Nguyễn Thị Thảo V không có yêu cầu gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa lần thứ hai, việc vắng mặt của bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan nhưng đã có đầy đủ lời khai tại hồ sơ vụ án nên việc vắng mặt không ảnh hưởng đến việc xét xử do đó, Hội đồng xét xử tiến hành giải quyết vụ án là đúng theo quy định tại Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[3] Về hành vi và tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn N đã khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng và các tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để kết luận:

Từ 01 tháng 8 năm 2023 đến ngày 12 tháng 9 năm 2023, Trần Văn N đã thực hiện 08 hành vi “Cướp giật tài sản” trên địa bàn các huyện N, Đ, Yên T1 và D, tỉnh Nghệ An, tổng giá trị tài sản 39.000.000 đồng, cụ thể như sau:

  • Ngày 01/8/2023, tại khối B, thị trấn N, huyện N, Trần Văn N cướp giật của cháu Bùi Thị Thùy L 01 điện thoại di động Iphone 13 Promax có giá trị 12.000.000 đồng.
  • Ngày 27/8/2023, tại khối N, thị trấn N, huyện N, Trần Văn N cướp giật của cháu Đặng Ánh T 01 điện thoại di động ViVo Y12S có giá trị 1.000.000 đồng.
  • Ngày 07/9/2023, tại xóm A, xã L, huyện Đ, Trần Văn N cướp giật của chị Phan Thị Vân Đ1 01 điện thoại di động Iphone 11 có giá trị 3.500.000 đồng.
  • Ngày 09/9/2023, Trần Văn N cướp giật tổng giá trị tài sản 4.500.000 đồng (Trong đó: Cướp giật tài sản tại khối B, thị trấn N, huyện N của cháu Nguyễn Thị Thảo V một điện thoại di động Iphone XS có giá trị 2.500.000 đồng; cướp giật tại xóm C, xã N, huyện N của cháu Nguyễn Thị Bảo N2 một điện thoại di động SamSung S10 Lite có giá trị 2.000.000 đồng).
  • Ngày 10/9/2023, tại xóm Đ, xã X, huyện N, Trần Văn N cướp giật của chị Đinh Thị H8 01 điện thoại di động Iphone 12 Promax vỏ màu xanh có giá trị là 10.000.000 đồng.
  • Ngày 12/9/2023, Trần Văn N cướp giật tổng giá trị tài sản 8.000.000 đồng (Trong đó: cướp giật tại xã B, huyện Y của chị Phạm Thị Ngọc H3 01 điện thoại di động Iphone 8 Plus có giá trị 2.000.000 đồng; cướp giật tại thị trấn D, huyện D của cháu Trần Thị Mỹ D 01 điện thoại di động Iphone 11 Promax có giá trị 6.000.000 đồng).

Bị cáo dùng xe mô tô làm phương tiện để thực hiện tám hành vi cướp giật tài sản của tám bị hại, trong đó có bị hại cháu Nguyễn Thị Thảo V, sinh ngày 10/10/2008 và cháu Nguyễn Thị Bảo N2, sinh ngày 12/02/2008 tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội bị hại là người dưới 16 tuổi nên hành vi trên của bị cáo Trần Văn N đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp giật tài sản” với tình tiết định khung hình phạt tại điểm d, g khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự.

Bị cáo thực hiện tám hành vi trong hơn một tháng tuy nhiên, có lần bị cáo cướp giật điện thoại và đưa cho vợ là Lê Thị Tú A sử dụng mà không bán lấy tiền tiêu xài, ngoài ra, bị cáo có nghề nghiệp khác, có thu nhập nên không áp dụng tình tiết định khung tăng nặng “Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự đối với Trần Văn N.

Cáo trạng truy tố bị cáo theo điểm d, g khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

[4] Về áp dụng hình phạt chính: Vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm quyền sở hữu tài sản của cá nhân, tổ chức được pháp luật bảo vệ mà còn làm mất trật tự an toàn xã hội trên địa bàn, gây tâm lý hoang mang, bất bình trong quần chúng nhân dân nên cần xử nghiêm.

Bị cáo thực hiện tám hành vi cướp giật tài sản nên phải chịu tình tiết tăng nặng “phạm tội hai lần trở lên” theo điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo đã tác động với vợ khắc phục, bồi thường một phần thiệt hại. Ngoài ra, sau khi phạm tội bị cáo đầu thú, có ông nội là Trần Văn N4 và bà nội là Võ Thị H9 có công với cách mạng. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, b khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Xét thấy cần phải xử cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung.

[5] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo đã bị cáo đã bị áp dụng hình phạt tù, không có thu nhập ổn định nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[6] Về vật chứng: Các vật chứng của vụ án đã trả lại cho bị hại đồng thời không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại Bùi Thị Thùy L, Đặng Ánh T, Phan Thị Vân Đ1, Nguyễn Thị Thảo V, Đinh Thị H2, Phạm Thị Ngọc H3, Trần Thị Mỹ D, chị Lê Thị Tú A và anh Trần Hữu H10 đã nhận lại các tài sản bị chiếm đoạt và không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đại diện hợp pháp và cháu Nguyễn Thị Bảo N2 yêu cầu Trần Văn N bồi thường số tiền 2.000.000 đồng với giá trị tài sản bị chiếm đoạt. Anh Đậu Đức H5 yêu cầu Trần Văn N bồi thường số tiền 800.000 đồng. Xét thấy các yêu cầu bị hại là hoàn toàn chính đáng nên cần buộc bị cáo N phải bồi thường số tiền này cho bị hại, được trừ vào số tiền vợ bị cáo nộp theo biên lai thu tiền số 0002343 ngày 13/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Phúc N3 và anh Nguyễn Băng H6 không yêu cầu về bồi thường về dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Hành vi liên quan:

Đối với anh Nguyễn Văn P, anh Đậu Đức H5, anh Nguyễn Phúc N3, anh Lê Đức H7, anh Nguyễn Băng H6, quá trình điều tra xác định tại thời điểm những người này mua bán, bẻ khóa điện thoại với Trần Văn N thì không biết điện thoại do phạm tội mà có nên không xem xét xử lý là đúng quy định nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với chị Lê Thị Tú A được Trần Văn N đưa cho sử dụng điện thoại Iphone 11 của chị Phan Thị Vân Đ1, chị Tú A không biết tài sản này do cướp giật mà có nên không có căn cứ xử lý là đúng quy định nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự và dân sự sơ thẩm theo quy định.

[10] Các đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào điểm d, g khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Văn N 04 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”; thời hạn tù tính từ ngày 14 tháng 9 năm 2023.
  2. Về vật chứng: Hội đồng xét xử không xem xét.
  3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng các Điều 584, 585, 586, 589 của Bộ luật Dân sự, buộc bị cáo Trần Văn N phải bồi thường cho cháu Nguyễn Thị Bảo N2 (người đại diện hợp pháp là ông Nguyễn Đình M, sinh năm 1983 và bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1984) số tiền 2.000.000 đồng. Bồi thường cho anh Đậu Đức H5 số tiền 800.000 đồng.
  4. Số tiền bồi thường cho các bị hại được trừ vào số tiền vợ bị cáo nộp theo biên lai thu tiền số 0002343 ngày 13/5/2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.

  5. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 và Điều 24 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Trần Văn N phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
  6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại chưa đủ 18 tuổi, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
  7. Hướng dẫn thi hành án dân sự: Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bị cáo còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
  8. Về nghĩa vụ thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Sở tư pháp tỉnh Nghệ An;
  • - VKSND huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An;
  • - Cơ quan điều tra, Thi hành án hình sự Công an huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Nghệ An;
  • - Bị cáo; bị hại; đại diện HP của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu hồ sơ vụ án; VP.TA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vương Hoàng Hào

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 39/2024/HS-ST ngày 16/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN về hình sự về tội cướp giật tài sản

  • Số bản án: 39/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Cướp giật tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tran Van Ngoc - CGTS
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger