|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ TỈNH HẬU GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 39/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 16-4-2024
“V/v Tranh chấp hôn nhân và gia đình – Ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ - TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thuý Ngoan.
Các Hội Thẩm nhân dân:
- Ông Phạm Ngọc Anh
- Ông Lê Hoàng Thái
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Phụng, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Mỹ tham gia phiên toà: Bà Võ Huỳnh Anh Thư - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 4 năm 2024 tại Phòng xét xử - Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 10/2024/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 01 năm 2024, về việc “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình – Ly hôn”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 14 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 44/2024/QÐST-HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Hồng P, sinh năm: 1993. (có mặt)
Địa chỉ: Ấp I, xã V, huyện L, tỉnh Hậu Giang. - Bị đơn: Anh Lê Huỳnh N, sinh năm: 1991. (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp I, xã V, huyện L, tỉnh Hậu Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Hồng P (gọi tắt là chị P) trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị P và anh Lê Huỳnh N tự nguyện kết hôn với nhau vào năm 2012 và có đăng ký kết hôn theo quy định tại Uỷ ban nhân xã V, huyện L, tỉnh Hậu Giang. Hôn nhân do anh chị cùng tự nguyện.
Nguyên nhân mâu thuẫn: Sau khi kết hôn thì vợ chồng sống chung hạnh phúc sau đó thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống nên cuộc sống chung không còn hạnh phúc, vợ chồng không yêu thương lẫn nhau, mặc dù vợ chồng nhiều lần hàn gắn nhưng không có kết quả nên hiện nay anh chị đã không còn sống chung với nhau. Vì vậy, chị P cương quyết yêu cầu được ly hôn với anh N.
Về con chung: Chị P khai trong quá trình sống chung anh chị có 01 con chung tên Lê Xuân H (giới tính: nam), sinh ngày 19/5/2013. Hiện nay cháu H đang sống chung với anh N, khi ly hôn chị P đồng ý giao con cho anh N tiếp tục nuôi dưỡng.
Về tài sản chung: Chị P khai không có tài sản chung, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về nợ chung: Chị P khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngoài ra, chị P không có yêu cầu gì thêm.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Lê Huỳnh N đã được Tòa án thông báo về việc thụ lý vụ án đối với yêu cầu khởi kiện của chị P và Tòa án đã triệu tập hợp lệ anh N để tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhiều lần nhưng cố tình vắng mặt không có lý do nên Tòa án không thể tiến hành ghi lời khai cũng như tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải đối với bị đơn chị anh Lê Huỳnh N.
Tại phiên tòa, chị P vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện xin ly hôn với anh Lê Huỳnh N và không có yêu cầu gì thêm.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:
Về việc tuân theo pháp luật: Từ khi thụ lý vụ án, cũng như tại phiên tòa hôm nay Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Hội thẩm nhân dân và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án:
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Hồng P.
- Về con chung: Giao cháu H cho anh Lê Huỳnh N được tiếp tục nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng: Anh Như chưa yêu cầu chị P cấp dưỡng nuôi con nên chưa xem xét. Dành quyền, nghĩa vụ thăm nom chăm sóc, giáo dục con chung cho chị P theo quy định pháp luật.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị P và anh N không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
Về án phí: Buộc nguyên đơn phải nộp theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa để phân tích và đánh giá về những chứng cứ, những tình tiết của vụ án, hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
[1.1]. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Hồng Phấn khởi k yêu cầu xin ly hôn đối với bị đơn anh Lê Huỳnh N. Đối chiếu theo quy định tại Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì quan hệ pháp luật trong vụ kiện này là “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình – Ly hôn" được Luật hôn nhân và gia đình điều chỉnh. Bị đơn anh Lê Huỳnh N có địa chỉ cư trú tại ấp I, xã V, huyện L, tỉnh Hậu Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang theo quy định tại Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.2]. Về việc vắng mặt của đương sự: Bị đơn anh Lê Huỳnh N được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa xét xử nhưng vắng mặt không lý do, nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 xét xử vắng mặt đối với bị đơn anh Lê Huỳnh N nhưng vẫn đảm bảo quyền lợi cho bị đơn theo quy định pháp luật.
[2]. Về nội dung vụ án: Xét yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Hồng P, hội đồng xét xử thấy rằng:
[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Vào 2012 chị P và anh Lê Huỳnh N tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn theo quy định tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện L, tỉnh Hậu Giang nên hôn nhân của anh chị là phù hợp theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Trong quá trình sống chung, chị P cho rằng cuộc sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cự cãi nên cuộc sống chung không còn hạnh phúc, vợ chồng không còn tin tưởng lẫn nhau, mặc dù vợ chồng nhiều lần hàn gắn nhưng không có kết quả nên anh chị đã không còn sống chung với nhau từ năm 2018 cho đến nay.
Tại phiên toà, chị P cương quyết yêu cầu được ly hôn với anh N và cho rằng không thể tiếp tục duy trì mối quan hệ vợ chồng với anh N được nữa. Anh N cũng đã được Toà án triệu tập hợp hợp lệ nhiều lần nhưng anh N đều vắng mặt nên Toà án
không thể ghi nhận được ý kiến của anh N đối với yêu cầu ly hôn của chị P. Điều đó cho thấy tình cảm vợ chồng giữa chị P và anh N thật sự có mâu thuẫn trầm trọng, cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc, vợ chồng không còn thương yêu, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh chị không thể tiếp tục duy trì quan hệ vợ chồng. Do đó, hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình 2014 chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị P đối với anh N.
[2.2]. Về con chung: Xét yêu cầu giao con chung cho anh Lê Huỳnh N của chị P, hội đồng xét xử thấy rằng: Từ khi sinh ra thì cháu Lê Xuân H sống với chị P được vài tháng thì chị P bỏ nhà đi, để cháu H cho anh N nuôi dưỡng cho đến nay. Hiện nay anh N là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, mặc dù anh N không đến Toà án để trình bày yêu cầu nuôi cháu H nhưng tại bản tự khai cháu H cũng có nguyện vọng được sống chung với cha là anh N, do từ trước đến nay cháu H được anh N chăm sóc, giáo dục. Nên để đảm bảo cho sự phát triển toàn diện về tâm sinh lý và ổn định cuộc sống cho cháu H cũng như theo nguyện vọng của cháu H, Hội đồng xét xử thống nhất giao cháu Lê Xuân H cho anh Lê Huỳnh N được tiếp tục nuôi dưỡng là hoàn toàn phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.
Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho chị P không ai được quyền cản trở theo quy định tại Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình.
Về cấp dưỡng: Do anh N vắng mặt nên chưa thể hiện ý kiến về vấn đề cấp dưỡng nuôi con, nên Toà án chưa xem xét.
[2.4]. Về tài sản chung: Chị P khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
[2.5]. Về nợ chung: Chị P khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
[3]. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc chị P phải nộp 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 28; Điều 35; Điều 39; Điều 227; Điều 228; Điều 147 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Điều 9; Điều 51; Điều 53; Điều 56; Điều 81, Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Hồng P đối với bị đơn anh Lê Huỳnh N. Cho chị Nguyễn Thị Hồng P được ly hôn với anh Lê Huỳnh N.
- Về con chung: Giao cháu Lê Xuân H (giới tính: nam), sinh ngày 19/5/2013 cho anh Lê Huỳnh N được tiếp tục nuôi dưỡng, hiện nay cháu H đang sống chung với anh N.
- Về tài sản chung: Chị P khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
- Về nợ chung: Chị P khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
- Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Hồng P phải nộp án phí với số tiền là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng). Được khấu trừ 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo lai thu số 0009944 phiếu lập ngày 05/01/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (16/4/2024), đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà không có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bán án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Dành quyền thăm nom chăm sóc, giáo dục con chung cho chị Nguyễn Thị Hồng P không ai được quyền cản trở.
Về cấp dưỡng: Anh Như chưa yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên chưa xem xét.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Thúy Ngoan |
|
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
| Phạm Ngọc Anh | Lê Hoàng Thái | Nguyễn Thị Thúy Ngoan |
Bản án số 39/2024/HNGĐ-ST ngày 16/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ - TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp hôn nhân và gia đình – ly hôn
- Số bản án: 39/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình – Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ - TỈNH HẬU GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chị p yêu cầu ly hôn với anh n
