Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 39/2024/HS-ST

Ngày 16/4/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Cơ Dũng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Nghiệp Hồng

2. Bà Đàm Thu Ánh

- Thư ký phiên tòa: Bà Lương Diệu Thu – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 11

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Văn Ngon - Kiểm sát viên.

Trong ngày 16 tháng 4 năm 2024, tại Phòng xử án hình sự, trụ sở Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 31/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 3 năm 2024 đối với bị cáo:

Lâm Văn L; sinh ngày 23/9/1987 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: C L, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lâm Văn M và bà Trương Nguyệt M1; tiền án: Không; tiền sự: 03 tiền sự: Ngày 20/9/2018, Tòa án nhân dân Quận 11 áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 18 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất am túy. Chấp hành xong ngày 19/4/2020. Ngày 09/4/2021, Tòa án nhân dân Quận 11 áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 21 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Chấp hành xong ngày 22/11/2022. Ngày 14/12/2023, Công an P, Quận A xử phạt vi phạm hành chính hình thức phạt tiền 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/12/2023 tại Nhà tạm giữ Công an Q; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Ông Trần Chí T, sinh năm 1995; địa chỉ: E N, Phường F, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Ông Đỗ Minh N, sinh năm 1997; địa chỉ: 6 T, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vụ thứ 1: Khoảng 11 giờ ngày 29/11/2023, do cần tiền tiêu xài, đối tượng Lâm Văn L đi bộ qua các tuyến đường Quận A để tìm người có tài sản sơ hở để trộm cắp. Khi đối tượng L đi ngang qua nhà số I T, Phường A, Quận A thì phát hiện xe mô tô hiệu Wave RSX biển số 59E2-092.72 của ông Trần Chí T để trước nhà trên, không có người trông coi, chìa khóa treo trên xe. Đối tượng L lén lút tiếp cận, dùng chìa khóa xe mở máy, điều khiển xe rời khỏi hiện trường. Đến khoảng 08 giờ 00 ngày 29/12/2023, ông T mới phát hiện bị trộm cắp tài sản nên trình báo Công an P1, Quận A.

Kết luận định giá tài sản số 105/KL-HĐĐGTS ngày 20/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự U, kết luận: 01 xe mô tô hiệu Wave RSX biển số 59E2-092.72, đã qua sử dụng trị giá 4.750.000 đồng.

Vụ thứ 2: Khoảng 10 giờ 35 ngày 07/12/2023, đối tượng Lâm Văn L điều khiển xe mô tô hiệu Wave RSX biển số 59E2-092.72 (là xe trộm cắp của ông T) đến quán C, Phường A, Quận A để ăn cơm. Lúc này, đối tượng L thấy có ông Đỗ Minh N ngồi đối diện cùng bàn đang vừa ăn cơm vừa coi điện thoại, kế bên có 01 chìa khóa xe tay ga. Đối tượng L ăn cơm xong vẫn thấy ông N tập trung coi điện thoại nên lén lút dùng tay lấy chìa khóa xe trên rồi ra khỏi quán cơm. Khi ra nơi để xe, đối tượng L thấy có 01 xe mô tô hiệu Airbalde, biển số 59E1-473.99 của ông N để trước nhà G L, Phường A, Quận A là xe tay ga. Đối tượng L sử dụng chìa khóa trên mở máy, điều khiển xe rời khỏi hiện trường, bỏ lại xe mô tô hiệu Wave RSX biển số 59E2-092.72. Đến 14 giờ 30 ngày 14/12/2023, ông N trình báo Công an P, Quận A.

Kết luận định giá tài sản số 106/KL-HĐĐGTS ngày 20/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự U, kết luận: 01 xe mô tô hiệu Airbalde, biển số 59E1-473.99, đã qua sử dụng trị giá 17.825.000 đồng.

Qua truy xét, Công an phát hiện đối tượng Lâm Văn L cất giấu xe mô tô hiệu Airbalde, biển số 59E1-473.99 tại nơi ở của đối tượng L tại địa chỉ C L, Phường A, Quận A nên lập biên bản giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với đối tượng L.

Tại Cơ quan điều tra, bị can Lâm Văn L thừa nhận các hành vi phạm tội như trên.

Vật chứng thu giữ vụ thứ 1:

  • Một xe mô tô hiệu Wave RSX biển số 59E2-092.72. Qua xác minh Công an xác định được là của bị hại Trần Chí T. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã trả lại xe cho ông T.
  • 01 USB chứa hình ảnh vụ việc.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Trần Chí T đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì đối với bị can L.

Vật chứng thu giữ vụ thứ 2:

  • Một xe mô tô hiệu Airbalde, biển số 59E1-473.99. Qua xác minh Công an xác định được là của bị hại Đỗ Minh N. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã trả lại xe cho ông N.
  • Một nón bảo hiểm hiệu Gojeck, một áo khoác là trang phục bị can L mặc khi trộm cắp.
  • Một áo mưa màu xanh, là tài sản riêng của bị can L.
  • Một USB chứa hình ảnh vụ việc.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Đỗ Minh N không có yêu cầu gì đối với bị can L.

Tại Bản cáo trạng số 39/CT-VKSQ11 ngày 15/3/2024, Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 truy tố bị can Lâm Văn L tội danh “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, bị cáo Lâm Văn L có lời khai phù hợp với các lời khai tại Cơ quan điều tra và những chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Bị hại là ông Đỗ Minh N và ông Đỗ Minh N vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có lời khai tại Cơ quan Cảnh sát điều tra. Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường.

Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 trình bày lời luận tội, đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù và đề nghị xử lý vật chứng như sau:

  • Lưu vào hồ sơ vụ án hai USB chứa hình ảnh vụ việc.
  • Tịch thu tiêu hủy một nón bảo hiểm hiệu Gojeck, một áo khoác, một áo mưa màu xanh.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, lời khai của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác có trong hồ sơ vụ án;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Vào lúc 11 giờ ngày 29/11/2023, tại trước nhà số I T, Phường A, Quận A, bị cáo Lâm Văn L đã có hành vi lén lút chiếm đoạt chiếc xe mô tô hiệu Wave RSX biển số 59E2-092.72, trị giá 4.750.000 đòng của ông Trần Chí T. Tiếp đó, lúc 10 giờ 35 phút ngày 07/12/2023 bị cáo Lâm Văn L tiếp tục có hành vi lén lút chiếm đoạt chiếc xe mô tô hiệu Airblade biển số 59E1-473.99, trị giá 17.825.000 đồng của ông Đỗ Minh N.

Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 22.575.000 đồng.

Bị cáo thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản nhằm mục đích giữ lại để sử dụng.

Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”; tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội. Bản thân bị cáo có đầy đủ năng lực hành vi, nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì tư lợi, lười lao động bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để trừng trị và giáo dục bị cáo, đồng thời cũng nhằm mục đích răn đe và phòng ngừa chung.

[2] Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Bị cáo thành khẩn khai báo; phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Bị cáo bị xác định là đã thực hiện hoàn thành hai lần chiếm đoạt tài sản vào ngày 29/11/2023 và ngày 07/12/2023 nên thuộc trường hợp “phạm tội 02 lần trở lên” là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo không có tiền án; có ba tiền sự.

[3] Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự:

Về xử lý vật chứng:

Đối với vật chứng là hai USB chứa hình ảnh vụ việc do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q sao lưu đưa vào hồ sơ vụ án. Căn cứ khoản 2 Điều 107 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã xử lý đúng quy định.

Đối với vật chứng là một xe mô tô hiệu Wave RSX biển số 59E2-092.72. Qua xác minh Công an xác định được là của bị hại Trần Chí T. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã xử lý vật chứng trả lại xe cho ông T. Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã xử lý vật chứng đúng quy định của pháp luật nên không giải quyết lại.

Đối với vật chứng là một xe mô tô hiệu Airbalde, biển số 59E1-473.99. Qua xác minh Công an xác định được là của bị hại Đỗ Minh N. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã xử lý vật chứng trả lại xe cho ông N. Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã xử lý vật chứng đúng quy định của pháp luật nên không giải quyết lại.

Đối với vật chứng là một nón bảo hiểm hiệu Gojeck, một áo khoác là trang phục bị cáo L mặc khi trộm cắp và một áo mưa màu xanh, là tài sản riêng của bị cáo L. Tài sản không còn giá trị sử dụng. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử giải quyết tịch thu tiêu hủy.

Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại là ông Đỗ Minh N và ông Trần Chí T đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo Lâm Văn L, điều tra viên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Q, kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 được phân công điều tra, kiểm sát giải quyết vụ án đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Căn cứ diễn biến tại phiên tòa, thông qua phần xét hỏi, tranh luận nhận thấy lời khai, chứng cứ phạm tội phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của điều tra viên, kiểm sát viên. Do đó, có cơ sở để xác định các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp với quy định của pháp luật.

[5] Về án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 38; Điều 50; khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Tuyên bố bị cáo Lâm Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Lâm Văn L 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/12/2023.

Căn cứ khoản 2 Điều 107 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Đưa vào hồ sơ vụ án vật chứng là hai USB chứa hình ảnh vụ việc.

Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Tịch thu tiêu hủy một nón bảo hiểm hiệu Gojeck, một áo khoác và một áo mưa màu xanh (theo Lệnh nhập kho vật chứng số 23016/LNK-ĐTTH ngày 21/12/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q).

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo phải chịu là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - TAND - VKSND TPHCM;
  • - Sở Tư pháp TPHCM;
  • - PC 27 - CA TPHCM;
  • - VKSND Q.11;
  • - Công an Q.11;
  • - Chi cục THADS Q.11;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Cơ Dũng

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 39/2024/HS-ST ngày 16/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 39/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: TCTS
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger