Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐỨC LINH

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc

Bản án số: 39/2024/DS-ST

Ngày: 15 - 5 - 2024

V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đình Trường

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Bình

Ông Nguyễn Văn Thiện

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Hà - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Thanh Tốt - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 17 tháng 4 và ngày 15 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 298/2023/TLST-DS ngày 08 tháng 11 năm 2023, về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 74/2024/QĐXXST-DS ngày 04 tháng 3 năm 2024, Quyết định hoãn phiên toà số 47/2024/QĐST-DS, ngày 20 tháng 3 năm 2024, Quyết định tạm ngừng phiên toà số 05/2024/QĐST-DS, ngày 17 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Duy P, sinh năm 1986; nơi cư trú: Số C, đường N, tổ D, khu phố C, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
  2. Bị đơn: Ông Trần Quang N, sinh năm 1975; nơi cư trú: Số E, đường P, tổ G, khu phố A, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    • 3.1 Bà Huỳnh Thị Thúy V, sinh năm 1995; nơi cư trú: Số C, đường N, tổ D, khu phố C, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
    • 3.2 Bà Đỗ Thị Thúy H, sinh năm 1982; nơi cư trú: Số E, đường P, tổ G, khu phố A, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
  4. Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Duy P, bà Huỳnh Thị Thúy V: Ông Nguyễn Phương N1, sinh năm 1981; nơi cư trú: số C, đường C, khu phố C, thị trấn V, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.

Tại phiên tòa có mặt ông N, ông N1; còn lại vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo hồ sơ vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn ông Nguyễn Duy P, người đại diện trình bày:

Do là chỗ quen biết, vì cần tiền làm ăn nên trước đây ông Trần Quang N có đến gặp và vay vợ chồng ông Nguyễn Duy P hai lần với tổng số tiền là 250.000.000 đồng, cụ thể: Ngày 12/3/2023 vay 150.000.000 đồng, ngày 25/3/2023 vay 100.000.000 đồng. Tại mỗi lần vay các bên đều thoả thuận trả lãi, đồng thời thoả thuận thời hạn trả 01 tháng, sau khi thoả thuận ông P, bà V đều giao đủ cho ông N số tiền vay, ông N viết giấy, ký nhận và giao cho vợ chồng ông P, bà V giữ. Sau khi đến hạn, mặc dù ông P nhiều lần liên hệ yêu cầu ông N trả số tiền vay nhưng ông N né tranh. Nên ông P khởi kiện yêu cầu ông Trần Quang N cùng vợ là bà Đỗ Thị Thúy H liên đới phải trả cho vợ chồng ông P, bà V số tiền vay 250.000.000 đồng; ông P không yêu cầu trả lãi. Ngoài ra ông P không có yêu cầu gì khác.

Theo hồ sơ vụ án cũng như tại phiên tòa bị đơn ông Trần Quang N trình bày:

Ông Trần Quang N, bà Đỗ Thị Thúy H là vợ chồng. Tuy nhiên đã ly hôn vào ngày 10/01/2024. Trước đây, về thời gian ông N không nhớ rõ, ông có vay của ông Nguyễn Duy P số tiền 100.000.000 đồng, khi vay các bên không thoả thuận thời hạn trả, thoả thuận tiền lãi là 3%/tháng. Khi vay ông P đưa giấy và ông N có ký tên vào giấy vay tiền, rồi đưa cho ông P giữ, mục đích vay tiền là để mua M. Sau đó, ông N tiếp tục vay của ông P số tiền 50.000.000 đồng. Tổng số tiền ông N đã vay của ông P hai lần là 150.000.000 đồng. Tuy nhiên, khi vay thêm số tiền 50.000.000 đồng, ông N không lấy lại giấy gốc, cũng không yêu cầu ông P huỷ, bỏ giấy của khoản vay 100.000.000 đồng, mà ghi thêm một giấy cho vay tiền khác với số tiền là 150.000.000 đồng. Ông N thừa nhận chữ ký, họ tên tại các “Giấy cho vay tiền” mà ông P cung cấp là của ông N.

Tại phiên toà ngày 17/4/2024 ông N trình bày năm 2023 ông N có vay ông P 03 lần, mỗi lần vay là 50.000.000 đồng, hai lần vay trước ông N không viết giấy tờ, sau khi vay khoản tiền 50.000.000 đồng lần thứ ba ông N mới ghi giấy vay tiền, ông N là người viết giấy và ghi rõ là tổng cộng ba lần vay 150.000.000 đồng. Sau khi được Hội đồng xét xử cho tiếp cận 02 “Giấy cho vay tiền” bản chính do đại diện nguyên đơn cung cấp, ông N cho rằng chữ ký bên vay tại các “Giấy cho vay tiền” không phải của ông N, nên đề nghị Toà án tiến hành Trưng cầu giám định.

Tại phiên toà ngày 15/5/2024 ông N trình bày năm 2023 ông N vay ông P tổng số tiền là 150.000.000 đồng, chứ không phải 250.000.000 đồng như ông P, người đại diện trình bày. Việc ông N vay tiền bà H không biết, không sử dụng, không liên quan. Ông N đồng ý trả cho ông P số tiền 150.000.000 đồng đã vay.

Theo hồ sơ vụ án cũng như tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Huỳnh Thị Thúy V, người đại diện trình bày:

Bà Huỳnh Thị V, ông Nguyễn Duy P là vợ chồng. Khoản tiền ông N vay là tài sản chung của ông P, bà V. Nên yêu cầu ông N, bà H liên đới phải trả cho bà V, ông P số tiền 250.000.000 đồng; Ngoài ra bà V không có yêu cầu gì khác.

Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đỗ Thị Thúy H:

Sau khi thụ lý vụ án mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo kết quả phiên họp, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa, giấy triệu tập nhưng đều không có ý kiến gửi Tòa án, cũng không tham gia làm việc. Do đó, Tòa án không ghi nhận được ý kiến.

Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa về việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, các đương sự và phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

- Về tố tụng:

  • + Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán đã tuân thủ theo đúng các quy định về pháp luật tố tụng dân sự.
  • + Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa: Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm và đảm bảo đúng nguyên tắc xét xử.
  • + Việc chấp hành pháp luật của các đương sự trong vụ án: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Huỳnh Thị Thúy V, người đại diện đã chấp hành đúng các quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự về quyền và nghĩa vụ của đương sự. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đỗ Thị Thúy H không chấp hành đúng các quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự về quyền và nghĩa vụ của đương sự.

- Về nội dung vụ án: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc ông Trần Quang N phải trả cho ông Nguyễn Duy P, bà Huỳnh Thị Thúy V số tiền 250.000.000 đồng (Hai trăm năm mươi triệu đồng).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên Toà, trên cơ sở ý kiến của Đại diện Viện kiểm sá, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Bị đơn ông Trần Quang N hiện cư trú tại huyện Đ, tỉnh Bình Thuận nên khởi kiện của nguyên đơn là thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đức Linh được quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Theo đơn khởi kiện, chứng cứ do đương sự, người đại diện cung cấp, quá trình làm việc tại Tòa án cũng như tại phiên tòa xác định quan hệ tranh chấp cần giải quyết là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” là phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 463 Bộ luật dân sự.

[3] Tòa án đã triệu tập hợp lệ các đương sự, người đại diện tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đỗ Thị Thúy H, không có lý do chính đáng cũng không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; vắng mặt nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Huỳnh Thị Thúy V nhưng có người đại diện tham gia. Căn cứ quy định khoản 2 Điều 227, khoản 2 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử vắng mặt các đương sự trên tại phiên tòa là phù hợp.

[4] Sau khi ban hành Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Toà án đã chuyển toàn bộ hồ sơ để Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh nghiên cứu hồ sơ vụ án, tham gia phiên toà. Ngày 14/3/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh có văn bản số 05/VKS-DS về việc từ chối tham gia phiên toà sơ thẩm vụ án dân sự lý do vụ án không thuộc thẩm quyền tham gia xét xử của Viện kiểm sát theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, tại phiên toà ngày 17/4/2024 bị đơn có yêu cầu tiến hành Trưng cầu giám định, nên Hội đồng xét xử đã Tạm ngừng phiên toà để tiến hành thu thập bổ sung tài liệu chứng cứ. Do vụ án đã được tiến hành thu thập chứng cứ, nên phiên toà ngày 15/5/2024 có mặt đại diện Viện kiểm sát tham gia.

[5] Tại phiên toà đại diện nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu toà án buộc ông Trần Quang N, bà Đỗ Thị Thúy H liên đới phải trả cho ông Nguyễn Duy P, bà Huỳnh Thị Thúy V số tiền 250.000.000 đồng; để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện nguyên đơn, người đại diện cung cấp cho Tòa án chứng cứ là 02 “Giấy cho vay tiền” bản chính.

[6] Theo lời khai của ông N tại phiên toà ngày 17/4/2024 trong năm 2023 ông N có vay ông P 03 lần, mỗi lần vay là 50.000.000 đồng, nhưng đến lần vay thứ 3 ông mới ghi giấy vay tiền và ghi rõ tổng cộng số tiền vay là 150.000.000 đồng; Chứ ông N không phải vay của ông P 250.000.000 đồng. Tuy nhiên, ông N không đưa ra được tài liệu, chứng cứ chứng minh. Bản thân đại diện nguyên đơn cũng không thừa nhận, nên không có cơ sở để chấp nhận lời khai này của ông N.

[7] Theo lời khai của ông N có trong hồ sơ vụ án vào năm 2023 ông có vay của ông P số tiền 100.000.000 đồng, ông có ký tên và giao giấy vay tiền cho ông P giữ. Sau khi vay ông vẫn chưa trả cho ông P số tiền này. Sau đó ông N tiếp tục vay của ông P số tiền 50.000.000 đồng. Do thời điểm vay 50.000.000 đồng ông N chưa trả cho ông P số tiền 100.000.000 đồng vay trước đó, nên đã gộp cả hai khoản vay 100.000.000 đồng và 50.000.000 đồng thành khoản vay 150.000.000 đồng. Nên ông N có ký vay ông P số tiền 150.000.000 đồng; Tuy nhiên, khi ký giấy vay số tiền 150.000.000 đồng ông N không lấy lại giấy cho vay, cũng không yêu cầu ông P huỷ bỏ giấy cho vay của khoản tiền 100.000.000 đồng. Thực tế ông N có vay ông P hai lần, nhưng số tiền vay chỉ là 150.000.000 đồng, chứ không phải 250.000.000 đồng như nguyên đơn khởi kiện. Tuy nhiên, ông N không cung cấp được tài liệu, chứng cứ cho lời khai của mình.

[7.1] Xét về khoản vay 100.000.000 đồng ông N khai vay trước khoản vay 50.000.000 đồng, thì thấy rằng tại “Giấy cho vay tiền” do nguyên đơn cung cấp thể hiện ngày thực hiện giao dịch số tiền 100.000.000 đồng là ngày 25/3/2023; còn tại “Giấy cho vay tiền” ông N khai vay 50.000.000 đồng, gộp với khoản vay 100.000.000 đồng, thành khoản vay 150.000.000 đồng, tức khoản vay 50.000.000 đồng vay sau khoản vay 100.000.000 đồng thể hiện ngày thực hiện giao dịch là ngày 12/3/2023. Theo lời khai của ông N khoản vay 150.000.000 đồng ghi gộp của khoản vay 50.000.000 đồng và 100.000.000 đồng nếu đúng ngày giao dịch số tiền 50.000.000 đồng phải sau ngày giao dịch của khoản vay 100.000.000 đồng. Nhưng thực tế tại “Giấy cho vay tiền” giao dịch số tiền 150.000.000 đồng (ngày 12/3/2023) lại trước giao dịch số tiền 100.000.000 đồng (ngày 25/3/2023). Do đó, lời khai của ông N cho rằng số tiền 150.000.000 đồng là gộp của khoản vay 100.000.000 đồng và 50.000.000 đồng là không thuyết phục.

[7.2] Theo ông N, khoản vay 150.000.000 đồng là gộp của khoản vay 100.000.000 đồng và 50.000.000 đồng, thế nhưng tại “Giấy cho vay tiền” thể hiện số tiền cho vay bằng số 150.000.000 đồng (Số tiền bằng chữ: Một trăm năm mươi triệu), chứ không có nội dung nào thể hiện là vay 50.000.000 đồng, gộp với khoản vay 100.000.000 đồng thành 150.000.000 đồng.

[7.3] Trong khi đó nguyên đơn, người đại diện nguyên đơn không thừa nhận và cung cấp được chứng cứ 02 “Giấy cho vay tiền” bản chính, tại Kết luận giám định số 466/KL-KTHS, ngày 07/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: “Chữ ký, chữ viết mang tên Trần Quang N dưới mục “Bên vay” trên tài liệu cần giám định ký hiệu A1, A2 so với chữ ký, chữ viết đứng tên Trần Quang N trên tài liệu mẫu so sánh ký hiệu từ M1 đến M8 là do cùng một người viết ra”. Đồng thời trong quá trình làm việc tại Tòa án (bút lục số 67) ông N cũng thừa nhận chữ ký, chữ viết họ và tên Trần Quang N tại các giấy cho vay tiền là của ông N.

[8] Từ những phân tích trên có căn cứ để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

[9] Đại diện nguyên đơn cho rằng tại thời điểm vay tiền ông N, bà H là vợ chồng nên yêu cầu buộc ông N, bà H liên đới phải trả cho ông P, bà V toàn bộ số tiền nợ. Đại diện nguyên đơn thừa nhận thời điểm vay tiền chỉ có một mình ông N giao dịch, không có sự tham gia của bà H; Ông N cho rằng chỉ có cá nhân ông N đứng ra giao dịch, số tiền được ông N sử dụng để mua mai, chi tiêu cá nhân, bà H không biết, không liên quan, cũng không sử dụng số tiền này. Tại các “Giấy cho vay tiền” do nguyên đơn cung cấp bà H cũng không ký, cũng không ghi rõ mục đích ông N vay làm gì. Ngoài ra nguyên đơn không đưa ra được tài liệu, chứng cứ chứng minh về mục đích vay tiền của ông N và việc bà H có liên quan đến các khoản tiền ông N vay, nên chỉ cần buộc cá nhân ông N phải trả tiền cho ông P, bà V là hợp lý.

[10] Theo các bên thừa nhận, tại thời điểm vay, các bên đều có thoả thuận lãi nên kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

[11] Tại phiên toà ngày 17/4/2024 ông N cho rằng chữ ký chữ viết Trần Quang N bên vay tại các giấy cho vay tiền do nguyên đơn, người đại diện cung cấp không phải của ông N viết, ký nên đề nghị Toà án tiến hành Trưng cầu giám định. Tại Kết luận giám định số 466/KL-KTHS, ngày 07/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: “Chữ ký, chữ viết mang tên Trần Quang N dưới mục “Bên vay” trên tài liệu cần giám định ký hiệu A1, A2 so với chữ ký, chữ viết đứng tên Trần Quang N trên tài liệu mẫu so sánh ký hiệu từ M1 đến M8 là do cùng một người viết ra”. Yêu cầu Trưng cầu giám định của ông Trần Quang N là không có căn cứ nên ông N phải chịu chi phí giám định.

[12] Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn có căn cứ được chấp nhận nên cần buộc bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; Nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không phải chịu án phí. Hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn.

[13] Các đương sự, người đại diện đều có quyền kháng cáo theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 161, Điều 203, khoản 2 Điều 227, khoản 2 Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Các Điều 463, 466, 468, 470 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điểm a khoản 1 Điều 13 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP, ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Luật Thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi bổ sung;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Duy P.

    Buộc ông Trần Quang N phải trả cho ông Nguyễn Duy P, bà Huỳnh Thị Thúy V số tiền 250.000.000 đồng (Hai trăm năm mươi triệu đồng).

    Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

  2. Về án phí:

    Bà Huỳnh Thị Thúy V, bà Đỗ Thị Thúy H, ông Nguyễn Duy P không phải chịu án phí. Hoàn trả lại cho ông Nguyễn Duy P số tiền 6.250.000 đồng (Sáu triệu hai trăm năm mươi ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0017717, ngày 08/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Linh.

    Ông Trần Quang N phải nộp 12.500.000 đồng (Mười hai triệu năm trăm ngàn đồng) án phí sơ thẩm sung công quỹ Nhà nước.

  3. Về chi phí giám định:

    Ông Trần Quang N phải chịu 2.640.000 đồng (Hai triệu sáu trăm bốn mươi ngàn đồng) chi phí Trưng cầu giám định. Ông N đã chi đủ.

  4. Về quyền kháng cáo:

    Các đương sự, người đại diện có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án, để Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.

  5. Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Đức Linh;
  • - Các đương sự;
  • - C.C. THA.DS huyện Đức Linh;
  • - Lưu HS, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Đình Trường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 39/2024/DS-ST ngày 15/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 39/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Duy Phúc-Trần Quang Nhiên
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger