|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TT TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Số: 39/2023/HNGĐ - ST Ngày: 14 - 8.- 2023. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TT – TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Huệ.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Lến;
- Ông Chau Khon Sốc.
Thư ký phiên tòa: Ông Chau Chanh Đô Ra - Thư ký Tòa án nhân dân huyện TT.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TT tham gia phiên tòa: Ông Chau Pholy– Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện TT, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số: 176/2023/TLST-HNGĐ, ngày 19 tháng 6 năm 2023 về: “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 64/2023/QĐXX - HNGĐ ngày 06 tháng 7 năm 2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Chau Kim H, sinh năm: 1990; địa chỉ cư trú: Tổ 04, ấp TO, xã CL, huyện TT, tỉnh An Giang.
Bị đơn: Bà Néang Sa V, sinh năm 1990; địa chỉ cư trú: Tổ 01, ấp TO, xã CL, huyện TT, tỉnh An Giang.
(Tại phiên tòa, ông H có mặt; bà V vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 12/6/2022 với các tài liệu kèm theo cũng như quá trình tố tụng tại tòa, ông Chau Kim H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa ông với bà V được hình thành là do tự quen biết, được cha mẹ đứng ra tổ chức đám cưới cho hai người vào năm 2011, hôn nhân có đăng ký kết hôn tại UBND xã CL, huyện TT, theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 150 ngày 04/9/2013. Sau khi cưới, vợ chồng sống tại nhà cha, mẹ vợ tại ấp TO, xã CL. Cuộc sống chung hạnh phúc đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bà V không chung thủy với chồng con, có quan hệ quen biết với người đàn ông khác, bị gia đình phát hiện, từ đó bà V bỏ đi từ năm 2015 và hai người ly thân nhau từ 08 năm nay. Trong thời gian ly thân gia đình bỏ mặt không đứng ra hàn gắn. Nay ông xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, ông xin ly hôn với bà V.
Về quan hệ con chung: Ông với bà V có 01 con chung tên Chau Lâm Kim Hu, sinh ngày 01/7/2013, hiện do ông nuôi. Khi ly hôn, ông yêu cầu tiếp tục nuôi con chung và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Về quan hệ tài sản chung: Ông với bà V không có tài sản chung.
Về quan hệ nợ chung: Ông với bà V không có nợ chung.
Tòa án đã thông báo hợp lệ cho bà Néang Sa V để tham gia phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng bà vẫn vắng mặt không lý do.
Tại phiên tòa, ông H bảo lưu ý kiến của mình. Riêng bà V đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham dự phiên tòa nhưng ông vẫn vắng mặt.
Quan điểm của Kiểm sát viên:
Về tố tụng: Tòa án thụ lý giải quyết đúng theo trình tự thủ tục, xác định đúng quan hệ tranh chấp và thẩm quyền xét xử. Trong quá trình tiến hành tố tụng, Thẩm phán cũng như Hội đồng xét xử (HĐXX) đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, đương sự trong vụ án cũng đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình.
Về nội dung: Ông H – bà V chung sống có đăng ký kết hôn, nên được xem là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống bà V quen biết với người khác, bỏ bê chồng con và ly thân đã lâu nên ông H xin ly hôn là có căn cứ. Về con chung, ông H yêu cầu nuôi, theo ý nguyện của cháu Hu, nên đề nghị chấp nhận yêu cầu của ông H. Về tài sản chung và nợ chung không xem xét. Từ phân tích trên đề nghị HĐXX quyết định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, quan điểm của Kiểm sát viên. HĐXX nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Ông H khởi kiện ly hôn với bà V, là thuộc thẩm quyền của Tòa án được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; bà V có địa chỉ cư trú tại xã CL, huyện TT, nên căn cứ vào khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện TT thụ lý giải quyết đúng thẩm quyền. Bà V được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không lý do, nên HĐXX xét xử vắng mặt theo Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2]. Về quan hệ hôn nhân: Ông H – bà V kết hôn và chung sống với nhau vào năm 2011, hôn nhân có đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số số 150 ngày 04/09/2013, nên xem là hôn nhân hợp pháp.
Tại phiên tòa, ông H bảo lưu ý kiến của mình, thể hiện do bà V quen biết với người khác rồi bỏ đi... ông và bà V ly thân đã lâu.
Qua trình bày của ông H, mặc dù bà V vắng mặt, nhưng tại biên bản xác minh vào ngày 05/7/2023 của Tòa án thể hiện: Hôn nhân giữa ông H – bà V hạnh phúc chỉ trong thời gian ngắn, đến đến năm 2016 thì bà V không chung thủy, có mối quan hệ quen biết với người đàn ông khác. Từ đó vợ chồng xảy ra mâu thuẫn trầm trọng và bà V đã bỏ đi theo người khác không còn sống chung với ông H từ năm 2016 cho đến nay, khả năng đoàn tụ chung sống lại với nhau là không thể.
Với chứng cứ thu thập vừa nêu, xét mâu thuẫn giữa ông H – bà V đã thật sự trầm trọng; đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, HĐXX nghĩ nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Hoai.
[3]. Về quan hệ con chung: Xét thấy, cháu Chau Lâm Kim Hu từ trước nay do ông H nuôi dưỡng, tình cảm giữa cháu Hu với ông H đã thật sự gắn bó, ý nguyện của cháu sau khi cha mẹ ly hôn xin được tiếp tục chung sống với cha. Để không xáo trộn về tâm sinh lý của cháu cũng như tạo điều kiện cho cháu phát triển tốt về sau, HĐXX nghĩ nên chấp nhận giao cháu Hu cho ông H tiếp tục nuôi là hoàn toàn phù hợp.
HĐXX cũng giải thích cho ông H biết: Trong thời gian nuôi con, ông H cùng người thân trong gia đình không được cản trở bà V trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con và theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Theo quy định của pháp luật, khi ly hôn bên không nuôi con phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, nhưng tại Tòa ông H không yêu cầu, nên HĐXX công nhận sự tự nguyện.
[4] Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Ông H khai ông với bà V không có tài sản chung và không có nợ chung. Tuy nhiên do bà V vắng mặt, nên HĐXX không xem xét và không đề cặp ở phần quyết định. Nếu sau này bà V có chứng cứ khác chứng minh có tài sản chung, có nợ chung và bà V có yêu cầu thì Tòa án sẽ xem xét thụ lý giải quyết theo quy định của pháp luật.
[6] Về án phí: Ông H là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm; các bên không phải chịu án phí nào khác.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình; các Điều 144, 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của ông Chau Kim H.
Về quan hệ hôn nhân: Ông Chau Kim H được ly hôn với bà Néang Sa V.
Về quan hệ con chung: Ông Chau Kim H tiếp tục nuôi con chung tên Chau Lâm Kim Hu, sinh ngày 01/7/2013.
Công nhận tự nguyện của ông Chau Kim H không yêu cầu bà Néang Sa V cấp dưỡng nuôi con.
Ông H cùng người thân trong gia đình không được cản trở bà V trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Về án phí: Ông Chau Kim H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được chuyển từ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0010122 ngày 12/6/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện TT (ông H nộp đủ).
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (14/8/2023), đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
(Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự).
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Văn Huệ |
Bản án số 39/2023/HNGĐ - ST ngày 14/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TT – TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn (hôn nhân và gia đình)
- Số bản án: 39/2023/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn (Hôn nhân và gia đình)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/08/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TT – TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ông Hoai xin ly hôn với bà Vieth. Bà Vieth vắng mặt
