|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 39/2024/HS-ST Ngày: 13-8-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Hoàng Thanh Trúc.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Phạm Phước Tâm.
- Bà Phan Thị Mướt.
- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Trọng Nhân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Tân - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 22/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Thanh L, sinh năm 1984 tại tỉnh Vĩnh Long; giới tính: Nam; Nơi cư trú: Số G xóm B, Khóm B, Phường B, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 04/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn L1 và con bà Trần Thị B (chết); vợ, con: Chưa có; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 13/3/2023, bị UBND thành phố S, tỉnh Đồng Tháp xử phạt vi phạm hành chính số tiền 80.000.000 đồng về hành vi vận chuyển hàng cấm, chưa nộp phạt; Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện bị cáo đang tại ngoại (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Nguyễn Thị Ngọc L2, sinh năm 1972 (có đơn xin xét xử vắng mặt).
Nơi cư trú: Số B, ấp T, xã T, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào ngày 13/3/2023, Nguyễn Thanh L bị Ủy ban nhân dân thành phố S, tỉnh Đồng Tháp xử phạt hành chính với số tiền 80.000.000 đồng về hàng vi vận chuyển hàng cấm, chưa nộp phạt nhưng tiếp tục thực hiện hành vi vận chuyển thuốc lá điều nhập lậu như sau:
Vào khoảng 15 giờ 30 phút ngày 14/02/2024, Nguyễn Thanh L đang uống cà phê tại quán nước không biết tên có địa chỉ tại Phường B, thành phố V thì có người tên T không rõ họ và địa chỉ đến thuê L đến cầu T thuộc địa phận xã P, huyện C lấy 500 bao thuốc lá điếu nhập lậu chở về thành phố V giao cho T, T trả công cho L số tiền 300.000 đồng, L đồng ý, nhưng chưa nhận tiền công. L mượn xe mô tô biển số 66C1-296.02 của chị ruột tên Nguyễn Thị Ngọc L2 nói là đi công việc, L điều khiển xe mô tô đến cầu T thì gặp người đàn ông lạ mặt không biết tên và địa chỉ giao cho L một cái ba lô màu xanh và túi xách màu đen bên trong có chứa thuốc lá điếu nhập lậu, L để ba lô trên ba ga xe còn túi xách màu đen thì chở phía sau, L điều khiển xe mô tô chạy trên quốc lộ C về Vĩnh Long, khi đến khóm M, thị trấn M, huyện C thì bị tổ tuần tra Phòng C Công an tỉnh Đ dừng phương tiện kiểm tra bắt quả tang thu thu giữ: 300 bao thuốc lá Jet, 100 bao thuốc lá hiệu Hero, 100 bao thuốc lá Scott, 01, balo màu xanh đen; 01 túi xách màu đen, 01 xe mô tô nhãn hiệu Sirius biển số 66C1-296.02 màu đen xám vàng, sau đó bàn giao hồ sơ cùng tang vật cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C xử lý theo thẩm quyền.
Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo Nguyễn Thanh L đã thành khẩn khai báo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Lời khai bị cáo phù hợp với biên bản phạm tội quả tang cùng các tài liệu chứng cứ khác thu thập có trong hồ sơ vụ án.
Việc tạm giữ và xử lý đồ vật, tài liệu:
Đối với số thuốc lá được thu giữ là hàng cấm nên tịch thu tiêu hủy. Riêng đối với xe mô tô nhãn hiệu Sirius biển số 66C1-296.02 màu đen xám vàng của chị Nguyễn Thị Ngọc L2 cho L mượn để đi lại, không biết L dùng vào việc phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã trả lại cho chị L2 xong.
-Về trách nhiệm dân sự: Không.
Trong quá điều tra, Nguyễn Thanh L thừa nhận hành vi vận chuyển hàng cấm như đã nêu trên.
Chị Nguyễn Thị Ngọc L2 không biết việc L mượn xe để thực hiện hành vi phạm vi, nên không có căn cứ để xem xét xử lý hình sự.
Đối với số tiền 300.000 đồng tiền công vận chuyển hàng cấm bị cáo L chưa nhận và không có căn cứ xác định bị cáo đã nhận nên không xem xét xử lý.
Tại Cáo trạng số 24/CT-VKSHCL ngày 12/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp đã truy tố bị cáo Nguyễn Thanh L về tội “Vận chuyển hàng cấm” theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 191 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thanh L thừa nhận thực hiện vận chuyển 500 bao thuốc lá điếu nhập như nội dung bản Cáo trạng miêu tả.
Tại phiên toà, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp phát biểu luận tội có nội dung chính như sau:
Kiểm sát viên giữ nguyên Cáo trạng truy tố, phân tích hành vi, các yếu tố cấu thành tội phạm, động cơ mục đích phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ đề nghị Hội đồng xét xử sơ thẩm tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh L phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”. Đề nghị áp dụng điểm e khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo L từ 06 tháng đến 09 tháng tù.
Các phần khác đề nghị Hội đồng xét xử xem xét như nội dung đề nghị của Cáo trạng.
Tại phần tranh luận, bị cáo L không phát biểu tranh luận. Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng trong vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, tỉnh Đồng Tháp, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Từ khi khởi tố vụ án cho đến tại phiên tòa sơ thẩm, những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Xét thấy, các hành vi, quyết định tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Xét thấy, bị cáo L là người đã trưởng thành, có khả năng nhận thực và
điều khiển hành vi, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, vào chiều ngày 14/02/2024, bị cáo L có hành vi vận chuyển 500 bao thiếu lá điếu nhập lậu từ địa bàn xã P đến thị trấn M, huyện C thì bị bắt quả tang cùng tang vật, bị cáo không xuất trình được xuất xứ nguồn gốc cũng như giấy tờ chứng minh hàng hoá theo quy định.
Đối với hành vi của bị cáo L chưa đủ định lượng để bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, bị cáo L đã bị Ủy ban nhân dân thành phố S xử phạt vi phạm hành chính số tiền 80.000.000 đồng về hành vi vận chuyển hàng cấm là thuốc lá điếu nhập lậu, chưa nộp phạt.
Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo L đã bị xử lý vi phạm hành chính về hành vi vận chuyển hàng cấm là thuốc lá điếu nhập lậu, chưa nộp phạt nhưng vẫn tiếp tục thực hiện hành vi vi phạm. Do đó, bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo đã xâm hại đến trật tự quản lý kinh tế, gây ảnh hưởng tình hình trật tự trị an tại địa phương. Kết quả điều tra xác định được bị cáo L thực hiện hành vi riêng biệt, không có đồng phạm khác.
Từ những phân tích trên, có căn cứ khẳng định hành vi vận chuyển thiếu lá điếu nhập lậu của bị cáo đủ cơ sở cấu thành tội “Vận chuyển hàng cấm”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm e khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự như sau:
“Điều 191. Tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm
1. Người nào tàng trữ, vận chuyển hàng cấm thuộc một trong các trường hợp sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các điều 232, 234, 239, 244, 246, 249, 250, 253, 254, 304, 305, 306, 309 và 311 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm;
a) .................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................
e) Hàng hoá dưới mức quy định tại các điểm a, b, c, đ và đ khoản này nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc tại một trong các Điều 188, 189, 190, 192, 193, 194, 195 và 200 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm;
................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................
4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm
[3] Xét thấy hành vi của bị cáo L là nguy hiểm cho xã hội, gây ra ảnh hưởng xấu cho xã hội. Do đó, hành vi của bị cáo cần phải được xử lý. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Về tình tiết giảm nhẹ: Nhận thấy, bị cáo “phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”, sau khi phạm tội bị cáo “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, gia đình bị cáo khó khăn, nuôi cha gì bị liệt có xác nhận của chính quyền địa phương nên được giảm nhẹ theo quy định tại điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một khoảng thời gian nhất định, để giúp bị cáo có thời gian sửa chữa phấn đấu trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội, góp phần răn đe và phòng ngừa chung.
[4] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, hoàn cảnh gia đình khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[5] Về tài liệu tạm giữ:
Đối với xe mô tô biển số 66C1-296.02 của chị L2 cho bị cáo mượn không biết việc bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nên trả lại cho chị L2 là phù hợp.
Đối với 500 bao thuốc lá gồm 300 bao thuốc Jet, 100 bao Hero và 100 bao Scott; 01 balo và 01 túi xách là tang vật và phương tiện thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu tiêu huỷ là phù hợp.
Đối với người tên T và người thanh niên giao thuốc lá cho bị cáo tiếp tục xác minh làm rõ để xử lý theo quy định pháp luật.
[6] Về án phí: Buộc bị cáo L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[7] Xét thấy phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên toà là có cơ sở nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh L phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.
Căn cứ điểm e khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh L 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án. - Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ
luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu huỷ:
- 300 (Ba trăm) bao thuốc lá J;
- 100 (Một trăm) bao thuốc lá H;
- 100 (Một trăm) bao thuốc lá S;
- 01 (Một) ba lô màu xanh đen;
- 01 (Một) túi xách màu đen.
- Về án phí:
Căn cứ Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. - Bị cáo có mặt tại phiên tòa thì có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án được thực hiện theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận: - VKSND huyện Cao Lãnh; - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Tháp; - Cơ quan THAHS Công an huyện Cao Lãnh, tỉnh ĐT; - Phòng GĐKT tỉnh ĐT; - CQ CS ĐT CA HCL, tỉnh Đồng Tháp; - Phòng nghiệp vụ hồ sơ CA tỉnh ĐT; - Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Lưu: HSVA. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hoàng Thanh Trúc |
Bản án số 39/2024/HS-ST ngày 13/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP về hình sự sơ thẩm (vận chuyển hàng cấm)
- Số bản án: 39/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Vận chuyển hàng cấm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo L phạm tội Vận chuyển hàng cấm
