Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TIỀN HẢI
TỈNH THÁI BÌNH
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 39/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 12 - 7 - 2024

V/v: “Tranh chấp hôn nhân gia đình”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI, TỈNH THÁI BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nhi

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Tô Thị Hương và ông Phạm Mã Siêu.

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Lê Trung Hiếu - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: Ông Phạm Minh Thanh - Kiểm sát viên

Ngày 12 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tiền Hải xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 26/2024/TLST - HNGĐ ngày 21/3/2024 về việc: “Tranh chấp hôn nhân gia đình” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 24/5/2024 và quyết định hoãn phiên tòa số: 23/2024/QĐST-HNGĐ ngày 21/6/2024 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Lưu Thị M, sinh năm 1981 (có mặt).
  • Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện H, tỉnh Thái Bình.
  • - Bị đơn: Anh Phạm Văn T, sinh năm 1983 (vắng mặt).
  • Địa chỉ: Thôn T, xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện về việc xin ly hôn và trong quá trình tố tụng tại Tòa án nguyên đơn - chị Lưu Thị M trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Phạm Văn T tự do tìm hiểu và tự nguyện kết hôn với nhau, được Ủy ban nhân dân xã N, huyện T kết hôn vào ngày 21 tháng 5 năm 2004. Sau khi kết hôn chị và anh T chung sống với nhau tại gia đình anh T ở thôn T, xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình. Cuộc sống chung vợ chồng hoà thuận, hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp nhau, vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi chửi nhau, thậm chí anh T đã rất nhiều lần đánh đập chị. Mâu thuẫn ngày càng trầm trọng nên chị đã phải bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở huyện H, tỉnh Thái Bình sinh sống từ năm 2019 đến nay, không ai còn quan tâm đến ai nữa. Mặc dù chị và anh T đều là người theo đạo Công giáo nhưng đến nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể quay lại tiếp tục chung sống với nhau được nữa, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh T.

Về quan hệ con chung: Chị và anh T có 01 con chung là Phạm Lưu Gia B, sinh ngày 07/9/2004 hiện nay đã thành niên nên không đặt ra giải quyết.

Về quan hệ tài sản chung và công nợ chung: Chị và anh T không có tài sản gì chung, không vay nợ ai và cũng không cho ai vay nợ nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về phía bị đơn: Tòa án đã triệu tập bị đơn là anh Phạm Văn T nhiều lần nhưng anh T không đến Tòa án để làm việc. Tòa án đã tiến hành xác minh và lấy lời khai của anh trai anh T là anh Phạm Văn T1, sinh năm 1977, trú tại thôn T, xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 05/4/2024 anh T1 trình bày: Anh là anh trai của anh Phạm Văn T, chị Lưu Thị M và anh Phạm Văn T tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn với nhau vào năm 2004 tại ủy ban nhân dân xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình. Sau khi kết hôn vợ chồng anh T chị M chung sống với nhau một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình vợ chồng không hợp nhau và hiện nay chị M và anh T đã sống ly thân, chị M đã bỏ về quê ở huyện H, tỉnh Thái Bình sinh sống có anh T đi làm ăn ở tỉnh ngoài, khi nào gia đình có việc thì anh T có về nhà, tuy nhiên anh làm gì và ở địa chỉ nào thì anh không biết. Nay chị M có đơn xin ly hôn anh T, quan điểm của anh và gia đình là: Gia đình anh theo đạo Công giáo nên việc ly hôn là không được phép, bản thân anh cũng mong muốn chị M và anh T đoàn tụ còn chị M xin ly hôn thì chị tự giải quyết. Quá trình chung sống anh T và chị M có 01 con chung là Phạm Lưu Gia B, sinh ngày 07/9/2004 hiện nay đã thành niên. Về quan hệ tài sản chung và công nợ chung: Anh T và chị M không có đất cát gì tại địa phương còn tài sản hay nợ chung gì khác thì anh không nắm được.

Gia đình anh nhận được giấy báo và văn bản tố tụng của Toà án anh cam kết sẽ thông báo và giao lại cho anh T. Tuy nhiên anh là người theo đạo Công giáo nên từ chối ký biên bản của Toà

Kết quả xác minh tại xã N, huyện T thể hiện: Chị Lưu Thị M, sinh năm 1981 và anh Phạm Văn T, sinh năm 1983 tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 01/7/2004 tại ủy ban nhân dân xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình. Sau khi kết hôn giữa anh T và chị M xảy ra mâu thuẫn cụ thể như thế nào địa phương không nắm được. Hiện tịa chị M và anh T đã sống ly thân được một thời gian. Quá trình chung sống chị M và anh T có 01 con chung là Phạm Lưu Gia B, sinh ngày 07/9/2004 hiện đã thành niên. Về tài sản chung và công nợ chung, địa phương không nắm được cụ thể. Gia đình anh T là người theo đạo Công giáo, anh T là lao động tự do hiện tại đang đi làm ăn ở tỉnh ngoài, địa chỉ làm việc của anh T ở đâu thì địa phương không nắm được. Tuy nhiên khi gia đình có việc thì anh T vẫn về địa phươn. Nay chị M có đơn xin ly hôn anh T, địa phương đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:

  • - Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án, nguyên đơn là chị M đã thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật luật tố tụng dân sự, bị đơn là anh Phạm Văn T không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
  • - Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử xử cho chị Lưu Thị M được ly hôn anh Phạm Văn T. Về quan hệ con chung và quan hệ tài sản chung và công nợ chung: Không đặt giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về áp dụng pháp luật tố tụng:

    Xét thấy nguyên đơn là chị Lưu Thị M khởi kiện xin ly hôn anh Phạm Văn T, anh T đang đăng ký hộ khẩu thường trú tại xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử xét thấy Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình đã thụ lý và giải quyết yêu cầu của chị M là đúng thẩm quyền.

    Bị đơn là anh Phạm Văn T đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai mà không có lý do. Vì vậy, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt anh T là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành biện pháp thu thập tài liệu, chứng cứ. Vì vậy Viện kiểm sát tham gia phiên toà là đúng với quy định tại Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự.

  2. Về áp dụng pháp luật nội dung:

    Về quan hệ hôn nhân: Chị Lưu Thị M và anh Phạm Văn T tự nguyện kết hôn có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình vào ngày 21/5/2004 xác định là hôn nhân hợp pháp. Vợ chồng chị M anh T mâu thuẫn và hiện tại chị M, anh T không còn chung sống với nhau từ năm 2019 đến nay (chị M bỏ về quê ở huyện H sinh sống, còn anh T đi làm ăn ở tỉnh ngoài), không ai còn quan tâm ai nữa. Nay chị M có đơn xin ly hôn anh T, anh T không đến Toà án làm việc cũng không có văn bản thể hiện quan điểm của mình điều này thể hiện anh T cũng không muốn duy trì cuộc hôn nhân này nữa và không có ý thức níu kéo để vợ chồng về đoàn tụ. Từ những tình tiết nêu trên, xét thấy, tình trạng hôn nhân của chị M và anh T đã trầm trọng, đời sống chung trên thực tế không còn tồn tại, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu của chị M, xử cho chị M được ly hôn anh T là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

    Về quan hệ con chung: Xét thấy con chung của chị M và anh T là Phạm Lưu Gia B, sinh ngày 07/9/2004 đã thành niên nên không đặt ra giải quyết.

    Về quan hệ tài sản chung và công nợ chung: Chị M trình bày chị và anh T không có tài sản gì chung, không vay nợ ai và cũng không cho ai vay nợ nên không yêu cầu Toà án giải quyết, anh T không đến Toà án làm việc cũng không có văn bản thể hiện quan điểm của mình nên không đặt ra giải quyết.

    Về án phí: Chị Lưu Thị M phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lưu Thị M được ly hôn anh Phạm Văn T.
  2. Về quan hệ con chung: Anh Phạm Văn T và chị Lưu Thị M có 01 con chung là Phạm Lưu Gia B, sinh ngày 07/9/2004 hiện đã thành niên nên không đặt ra giải quyết.
  3. Về quan hệ tài sản chung và công nợ chung: Không đặt ra giải quyết.
  4. Về án phí: Chị Lưu Thị M phải nộp 300.000 (ba trăm ngàn) đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm. Chuyển số tiền 300.000 (ba trăm ngàn) đồng chị M đã nộp tiền tạm ứng án phí theo biên lai số 0002593 ngày 21/3/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tiền Hải thành án phí.

Án xử công khai sơ thẩm, chị Lưu Thị M có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, anh Phạm Văn T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt theo quy định của pháp luật.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
HỘI THẨM NHÂN DÂN Nguyễn Thị N

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Tiền Hải;
  • - UBND xã Nam Chính;
  • - Chi cục THADS huyện Tiền Hải;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Nhi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 39/2024/HNGĐ-ST ngày 12/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI, TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp hôn nhân gia đình

  • Số bản án: 39/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI, TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: MÂY - TỚI
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger