Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 39/2024/HS-PT

Ngày 11/7/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hương.

Các Thẩm phán: Ông Hoàng Tuấn Trọng và ông Phạm Trung Thực.

-Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Văn Giang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa:

Ông Vũ Đức Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 11/7/2024, tại trụ sở, Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý 42/2024/HSPT ngày 11 tháng 4 năm 2024 đối với các bị cáo Lương Công Đ, Hoàng Văn B, Đào Xuân H, do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 08/2024/HS-ST ngày 01/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên.

* Bị cáo có kháng cáo:

  1. Họ và tên: Lương Công Đ, S năm 1962 tại: xã T, huyện T, tỉnh Hưng Yên; Nơi cư trú: thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Hưng Yên; Trình độ văn hoá: 12/12; Nghề nghiệp hiện tại: Hưu trí; Chức vụ khi phạm tội: Phó Bí thư thường trực - Chủ tịch UBND xã T; Là đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam, đã bị đình chỉ sinh hoạt Đảng ngày 03/8/2023; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lương Ngọc G và bà Hoàng Thị S1 (đều đã chết); Vợ: Phạm Thị T, sinh năm 1963; Có 02 con đều sinh năm 1986; Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt tạm giam từ ngày 02/8/2023, đến ngày 07/11/2023 được thay thế bằng biện pháp Bảo lĩnh. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
  2. Họ và tên: Đào Xuân H, T1 gọi khác: Đào Văn H1, Sinh năm 1957 tại: xã T, huyện T, tỉnh Hưng Yên; Nơi cư trú: thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Hưng Yên; Trình độ văn hoá: 10/10; Nghề nghiệp: Hưu trí; Chức vụ khi phạm tội: Phó Chủ tịch UBND xã T; Là đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam, đã bị đình chỉ sinh hoạt Đảng ngày 03/8/2023; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đào Danh L và bà Hoàng Thị N (đều đã chết); Vợ: Nguyễn Thị H2, sinh năm 1962; Có 03 con, con lớn nhất sinh năm 1984, con nhỏ nhất sinh năm 1990; Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt tạm giam từ ngày 02/8/2023, đến ngày 06/10/2023 được thay thế bằng biện pháp Bảo lĩnh; Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
  3. Họ và tên: Hoàng Văn B, S năm 1959 tại: xã T, huyện T, tỉnh Hưng Yên; Nơi cư trú: thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Hưng Yên; Trình độ văn hoá: 12/12; Nghề nghiệp: Hưu trí; Chức vụ khi phạm tội: Phó Chủ tịch HĐND xã T; Là đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam, đã bị đình chỉ sinh hoạt Đảng ngày 07/12/2023; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hoàng Kim S2 (đã chết) và bà Vũ Thị Đ1, sinh năm 1928; Vợ: Đào Thị N1, sinh năm 1964; Có 02 con, con lớn sinh năm 1984, con nhỏ sinh năm 1990; Tiền án, tiền sự: Không; Hiện đang bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú; Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo Hoàng Văn B: Bà Bùi Thị T2, ông Trần Đình T3, ông Trần Đinh Minh L1 - Luật sư Văn phòng L4 - Đoàn luật sư thành phố H. Địa chỉ: số C ngõ B, phố T, phường H, quận Đ, thành phố Hà Nội. (Tại phiên tòa có mặt bà T2, ông L1, vắng mặt ông T3).

Trong vụ án còn có các bị cáo không kháng cáo:

Đào Văn T4; Tên gọi khác: Đào Kim T5, sinh năm 1967; Đào Văn S3, Sinh năm 1967; Bùi Văn Q, Sinh năm 1961; Đào Văn D, Sinh năm 1970. (Đều có mặt tại phiên tòa).

Bị hại:

  • Ông Bùi Văn M, sinh năm 1950; Ông Đào Văn H3, sinh năm 1978; Bà Bùi Thị N2, sinh năm 1963; Bà Bùi Thị D1, sinh năm 1975; Bà Bùi Thị S4, sinh năm 1973; Ông Đào Xuân Đ2, sinh năm 1977; Ông Bùi Văn C, sinh năm 1974; Ông Bùi Văn Q1, sinh năm 1974 - Đều cùng địa chỉ: Thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Hưng Yên.
  • Ông Phạm Mạnh X, sinh năm 1972; Ông Trần Văn H4, sinh năm 1961
    Đều cùng địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Hưng Yên.
  • Ông Vũ Văn V, sinh năm 1975; Ông Nguyễn Đình D2, sinh năm 1945 - Đều cùng địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Hưng Yên.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Hưng Yên. Đại diện theo pháp luật: Ông Hoàng Đức D3 - Chức vụ: Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã T. Địa chỉ: Thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Hưng Yên.

Người làm chứng:

  • Ông Đào Xuân H5, sinh năm 1978; Ông Đào Văn S3 (tên gọi khác: Đào Văn N3), sinh năm 1974; Đều cùng địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Hưng Yên.
  • Ông Lương Ngọc H6, sinh năm 1979; Ông Đào Văn L2, sinh năm 1963.
    Đều cùng địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Hưng Yên.

(Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng đều vắng mặt tại phiên tòa. Riêng ông Lương Ngọc H6 có mặt.).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong các năm từ 2013-2015, xã T, huyện T triển khai thực hiện chính sách dồn thửa đổi ruộng theo các văn bản, chỉ thị, nghị quyết và kế hoạch của tỉnh Hưng Yên và huyện T Đảng bộ xã T đã ban hành Nghị quyết số 18-NQ/ĐU ngày 03/10/2013 về việc tiếp tục dồn thửa đổi ruộng đất nông nghiệp thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới trên địa bàn xã, giai đoạn 2013-2015; Kế hoạch số 20-KH/UBND ngày 25/10/2013 tiếp tục dồn thửa đổi ruộng đất nông nghiệp thực hiện xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2013-2015 trên địa bàn xã T và Phương án số 01/PA-UBND ngày 17/6/2014 "Phương án dồn thửa đổi ruộng đất sản xuất nông nghiệp"; Quyết định số 92 thành lập Ban Chỉ đạo, tổ giúp việc để thực hiện việc dồn thửa, đổi ruộng đất nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới trên địa bàn xã T, giai đoạn 2013 - 2015.

Khoảng cuối năm 2013, tại phòng làm việc của Đào Văn T4 diễn ra cuộc họp bàn thống nhất mức thu phí chuyển đổi đất nông nghiệp, thành phần gồm 07 cán bộ chủ chốt của UBND xã T, có họ tên và chức vụ cụ thể như sau: Đào Văn T4 - Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐND xã nhiệm kỳ 2013-2015; Lương Công Đ - Chủ tịch UBND xã nhiệm kỳ B2; Nguyễn Văn M1 - Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy xã T nhiệm kỳ 2013-2015; Đào Xuân H - Phó chủ tịch UBND xã nhiệm kỳ 2010-2015; Hoàng Văn B - Phó Chủ tịch HĐND xã nhiệm kỳ B3; Bùi Văn Q - Cán bộ tài chính kế toán xã; Đào Văn S3 - Thủ quỹ. Tại cuộc họp, Đ báo cáo trong quá trình triển khai, thực hiện chính sách dồn thửa, đổi ruộng, có 12 hộ dân trên địa bàn xã T có nguyện vọng được chuyển đổi diện tích đất 03 sang diện tích đất khoán thầu trang trại mà họ đang sử dụng, các hộ dân đã có đơn gửi lên UBND xã T đề nghị được chuyển đổi diện tích đất nêu trên và xin ý kiến của những người dự họp là sẽ thu phí của các hộ dân có nguyện vọng chuyển đổi đất nhằm tăng nguồn thu cho ngân sách xã. Mặc dù tất cả đều hiểu và biết rõ việc thực hiện dồn thửa đổi ruộng là một chính sách lớn của Đảng, Nhà nước nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân trong việc phát triển kinh tế nông nghiệp ở nông thôn. Cấp ủy, chính quyền địa phương các cấp phải tạo mọi điều kiện thuận lợi cho nhân dân trong việc dồn thửa đổi ruộng, phát triển kinh tế, tuyệt đối không được phép lợi dụng chính sách này để thu bất kỳ một khoản phí nào của người dân. Nhưng với động cơ, mục đích nhằm tăng nguồn thu cho ngân sách xã để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng tại địa phương, lại vừa tạo điều kiện cho các hộ dân được chuyển đổi diện tích đất 03 vào diện tích khoán thầu trang trại mà họ đang sử dụng theo đúng nguyện vọng, nên khi Đ đề nghị mọi người trong cuộc họp cho ý kiến để bàn, thống nhất về mức thu tiền đối với các hộ dân này, thì tất cả 07 người dự họp đều đồng ý. Khi B đề xuất mức thu tiền là 5.000.000 đồng/01 sào, Đ có ý kiến thu số tiền 5.000.000 đồng là cao và đề xuất mức thu là 3.000.000đồng/01 sào. Sau đó 07 người dự họp cùng bàn bạc và đều nhất trí với mức thu 3.000.000đồng/01 sào như đề xuất của Đ, nội dung thu sẽ ghi là “các hộ dân tự nguyện đóng góp”, không ai có ý kiến gì khác và cuộc họp cũng không ghi nghị quyết, không có ai ghi chép sổ sách gì.

Căn cứ kết quả cuộc họp trên, Đ giao cho H, Q và S3 mời các hộ dân có nguyện vọng đến UBND xã để triển khai việc thu tiền. Ngày 10/01/2014, tại Văn phòng Đảng ủy xã T, H chủ trì cùng với Q và S3 tiến hành họp đối với đại diện các hộ dân có nguyện vọng chuyển đổi diện tích đất 03 vào diện tích đất khoán thầu trang trại. Tại cuộc họp, H thông báo mức thu phí là 3.000.000 đồng/01 sào, nếu ai có nguyện vọng chuyển đổi đất 03 vào diện tích đất khoán thầu trang trại thì nộp tiền về UBND xã và ấn định thời gian hoàn thành nghĩa vụ tài chính trước ngày 10/7/2014. Đồng thời, H giao cho Q và S3 thực hiện việc thu tiền của các hộ dân. Tuy nhiên, lấy lý do đây là nguồn thu không trong Ngân sách, nên Q không thu tiền, mà để cho S3 là Thủ quỹ trực tiếp thực hiện việc thu tiền.

Việc thu tiền được S3 thực hiện từ sau cuộc họp với dân ngày 10/01/2014 đến ngày 10/7/2014. Đại diện các hộ dân nộp tiền cho S3, thì được ghi tên và ký nộp vào “Danh sách nộp tiền hộ trang trại” do S3 lập. S3 không ghi Biên lai hay Phiếu thu gì cho các hộ dân. Cụ thể 12 hộ dân nộp tiền như sau:

  1. Hộ anh Bùi Văn C, nộp 13.000.000đ;
  2. Hộ ông Bùi Văn M nộp 19.800.000đ;
  3. Hộ bà Bùi Thị S4 nộp 26.200.000đ;
  4. Hộ bà Bùi Thị N2 nộp 32.000.000đ;
  5. Hộ anh Đào Văn H3 nộp 36.000.000đ;
  6. Hộ chị Bùi Thị D1 nộp 19.800.000đ;
  7. Hộ anh Bùi Văn Q1 nộp 18.000.000đ;
  8. Hộ anh Đào Xuân Đ2 nộp 22.000.000đ;
  9. Hộ anh Phạm Mạnh X nộp 5.000.000đ;
  10. Hộ anh Vũ Văn V nộp 6.000.000đ;
  11. Hộ anh Nguyễn Đình D2 nộp 27.000.000đ;
  12. Hộ anh Trần Văn H4 nộp 10.000.000đ.

Tổng số tiền thu được của 12 hộ dân trên là 234.800.000đ. Sỹ quản lý số tiền này tại két sắt của UBND xã.

Sau khi hoàn thành việc thu tiền, ngày 21/7/2014, tại phòng họp Trụ sở UBND xã T diễn ra cuộc họp giữa Thường trực Đảng ủy, Thường trực HĐND, Ban lãnh đạo UBND xã, kế toán, thủ quỹ của xã T để bàn bạc về việc chi số tiền đã thu được của 12 hộ dân. Thành phần tham gia cuộc họp gồm có 07 cán bộ chủ chốt sau: Tuyến (Bí Thư), Đ (Chủ tịch), M1 (Phó bí thư), B (Phó chủ tịch HĐND), H (Phó chủ tịch UBND), Q (kế toán), S3 (thủ quỹ). Tại cuộc họp, sau khi nghe Quynh báo cáo về kết quả thu chi ngân sách 06 tháng đầu năm và phương hướng thu chi ngân sách 06 tháng cuối năm 2014 thì S3 báo cáo kết quả thu tiền của 12 hộ dân có nguyện vọng chuyển đổi đất 03 vào diện tích đất khoán thầu trang trại được tổng số là 234.800.000 đồng, đề nghị các Lãnh đạo cho phương án chi. Sau khi S3 báo cáo, thì Đ có ý kiến việc tu sửa 03 tuyến đường giao thông trong xã gồm: tuyến từ đình T đi T; tuyến từ đình T đến chùa M2; tuyến từ đường L đi T. Việc tu sửa đã xong từ giữa 2014, nhưng chưa có nguồn kinh phí để trả và đề nghị được dùng số tiền đã thu của 12 hộ dân để chi trả vào việc tu sửa 03 tuyến đường giao thông này. Tiếp theo S3 báo cáo: Số tiền đã tu sửa 03 tuyến đường trên chỉ hết 195.000.000 đồng, còn dư 39.800.000 đồng thì xin ý kiến tiếp về việc chi số tiền dư này. Đồng thời, S3 báo cáo hiện đang còn 02 khoản đã tạm ứng chi từ đầu năm mà chưa có nguồn hoàn ứng là: Chi đi tham quan vùng kinh tế mới tại Sơn La và chi mua quà tết 2014 cho cán bộ UBND xã và cán bộ các thôn. Quynh có ý kiến về 02 khoản đã tạm ứng trên là các khoản chi không có hóa đơn chứng từ, nên không thanh quyết toán được. Do vậy, Đ đề xuất công khai tại cuộc họp về việc sẽ giao cho H chủ trì, chỉ đạo Đào Văn D (công chức địa chính) lập 03 bộ hồ sơ tu sửa đường định hướng sẽ đưa vào quyết toán chi hết số tiền 234.800.000 đồng đã thu của 12 hộ dân. Đối với số tiền chênh lệch thừa ra sau khi chi trả việc tu sửa đường là 39.800.000 đồng, đề xuất được chi hoàn ứng vào 02 khoản mà UBND xã đã tạm ứng chi trước đó là: chỉ đi tham quan vùng kinh tế mới tại Sơn La và chi mua quà tết cho cán bộ UBND xã, thôn. Tất cả mọi người dự họp đều nhất trí với đề xuất của Đ, không ai có ý kiến phản đối gì. Nội dung cuộc họp không có ai ghi vào sổ sách, nghị quyết. Chỉ riêng B ghi tóm tắt nội dung cuộc họp vào sổ tay cá nhân của mình.

Căn cứ vào kết quả cuộc họp ngày 21/7/2014, Đ đã giao cho H chỉ đạo cho Đào Văn D là cán bộ địa chính nông nghiệp xã T lập 03 bộ hồ sơ hợp đồng định hướng quyết toán chi hết số tiền 234.800.000đ đã thu của 12 hộ dân vào việc tu sửa 03 tuyến đường giao thông trong xã. Khi giao nhiệm vụ cho D lập 03 bộ hồ sơ sửa đường để quyết toán, Đ và H đã nói rõ cho D biết số tiền thu được của 12 hộ dân chuyển đổi đất 03 vào đất trang trại là 234.800.000 đồng và số tiền thực chi để sửa đường chỉ hết 195.000.000 đồng, nhưng phải lập hồ sơ quyết toán chi hết số tiền 234.800.000 đồng, để lấy ra số tiền chênh lệch là 39.800.000 đồng cho Lãnh đạo xã chi vào việc khác. Mặc dù biết rõ việc tu sửa 03 tuyến đường giao thông trong xã không hết 234.800.000 đồng, nhưng vì động cơ cá nhân khác, D không lập hồ sơ tu sửa đường trên cơ sở thực chi là 195.000.000 đồng, mà D đã cố ý lập khống 03 bộ hồ sơ quyết toán việc tu sửa 03 tuyến đường giao thông trong xã chi hết số tiền 234.800.000 đồng đúng theo sự chỉ đạo của Đ và H. Việc lập hồ sơ tu sửa đường Doan thực hiện sau ngày 21/7/2014 nhưng để phù hợp với thời điểm UBND xã sửa xong 03 tuyến đường thì D đã ghi lùi ngày ký hợp đồng vào các tháng 4, 5, 6 năm 2014. Sau khi lập xong 03 bộ hồ sơ quyết toán làm đường khống, D đã trình Tuyến (Bí thư), Đ (Chủ tịch), B (Phó Chủ tịch HĐND), Q (kế toán), S3 (thủ quỹ) và một số người khác ký vào 03 bộ hợp đồng đó để hợp lý hóa hồ sơ thanh quyết toán. Sau khi mọi người ký hoàn thiện hồ sơ xong, D đã đưa hồ sơ cho Q.

Được sự đồng ý của Ban Lãnh đạo xã (gồm Thường trực Đảng ủy, Thường trực HĐND và Ban lãnh đạo UBND xã) tại cuộc họp ngày 21/7/2014 và sau khi D làm xong các hồ sơ thanh quyết toán trên, S3 đã sử dụng số tiền thu được của 12 hộ dân để thanh toán chi trả tiền làm đường cho các ông Đào Văn L2, Lương Ngọc H6 và Đào Văn N3 hết 195.000.000 đồng. Số tiền còn lại 39.800.000 đồng, S3 thanh toán hoàn ứng vào 02 khoản đã tạm ứng chi trước đó là: chi đi tham quan vùng kinh tế mới tại Sơn La 23.600.000 đồng và chi mua quà tết cho cán bộ UBND xã, thôn 16.200.000 đồng.

Quá trình điều tra, đại diện các hộ dân đã nộp tiền khai nhận việc họ nộp tiền theo yêu cầu của UBND xã là để được chuyển đổi đất 03 vào diện tích đã khoán thầu trang trại theo nội dung cán bộ UBND xã triển khai đến các hộ dân tại cuộc họp ngày 10/01/2014, không có việc họ tự nguyện đóng góp tiền để tu sửa đường giao thông. Mặt khác, trong giai đoạn từ năm 2013 đến 2015, UBND xã T không có cuộc vận động nào đến nhân dân trong xã về việc đóng góp tiền để làm đường giao thông.

Quá trình điều tra, các ông, bà Bùi Văn M, Đào Văn H3, Bùi Thị N2, Bùi Thị D1, Bùi Thị S4, Bùi Văn C trình bầy: Ngoài số tiền đóng 3.000.000đồng/01sào, các hộ dân còn đóng thêm 1.500.000đồng/01sào được số tiền 90.000.000 đồng mục đích để đưa cho Lương Công Đ 60.000.000 đồng, đưa cho Bùi Văn Q 30.000.000 đồng theo yêu cầu của Đ. Sau khi đóng tiền, tất cả những người trên cử H3, N2, D1, S4 đến nhà Đ đưa cho Đ 60.000.000đồng nhưng xin lại được 10.000.000 đồng và đưa cho Q số tiền 30.000.000 đồng.

Vật chứng thu giữ gồm:

  • Hoàng Văn B giao nộp 01 sổ cá nhân ghi chép trong thời gian công tác tại UBND xã T; 02 bản phô tô gồm 01 tờ Giấy biên nhận đề ngày 22/7/2014 và 01 Danh sách báo cáo Thường vụ ngày 21/7/2014.
  • Đào Văn T4 giao nộp: 01 bộ hồ sơ hợp đồng tu sửa tuyến đường làng nghề đi Tam Cao; 01 bộ hồ sơ hợp đồng tu sửa đường từ Đình T đi chùa M2; 01 bộ hồ sơ hợp đồng tu sửa tuyến đường từ đình T đi T; 01 bộ hồ sơ chi sửa chữa 03 tuyến đường gồm: đường làng nghề đi T, đường từ đình T đi chùa M2, đường từ đình T đi T; 01 giấy nộp tiền vào tài khoản lập ngày 31/12/2014, số tiền 234.800.000đ; 01 danh sách các hộ dân đóng tiền.
  • Bùi Văn Q giao nộp: Danh sách đoàn cán bộ lãnh đạo UBND xã T đi công tác huyện S, tỉnh Sơn La từ ngày 14-16/3/2014; Các bản Danh sách cấp quà tết năm 2014. Tại danh sách này thể hiện 7 bị can và một số người khác được phát quà Tết trị giá 150.000 đồng/suất.
  • Đào Văn S3 giao nộp 01 Biên bản ngày 10/01/2014 về việc thỏa thuận diện tích chuyển đổi đất vòng 1 vào diện tích đất trang trại của hộ gia đình; 01 Danh sách nộp tiền hộ trang trại và 09 Đơn đề nghị chuyển đổi của các hộ dân.
  • Đại diện UBND xã T giao nộp 04 sổ Nghị quyết gồm: Sổ nghị quyết họp UBND xã năm 2012; Sổ giao ban tuần của UBND xã năm 2012; Sổ nghị quyết họp UBND xã năm 2013; Sổ giao ban tuần của UBND xã năm 2013. Kết quả kiểm tra 04 sổ Nghị quyết trên, không có nội dung nào liên quan đến vụ án.

Tại Bản kết luận giám định số 286/KL-KTHS ngày 25/10/2023 của Phòng K Công an tỉnh H kết luận về chữ ký, chữ viết của các bị cáo trong các bộ hồ sơ hợp đồng tu sửa đường các tuyến Làng nghề đi T (A1), Thống nhất đi chùa M2 (A2), Tất V1 đi T (A3), và 01 bộ hồ sơ chi sửa chữa 03 tuyến đường trên (A4), 01 giấy nộp tiền vào tài khoản tại K lập ngày 31/12/2014 (A5), so với mẫu chữ ký, chữ viết của các bị cáo mà Cơ quan điều tra đã thu thập thể hiện đúng là chữ ký của Hoàng Văn B, Đào Văn T4, Lương Công Đ, Đào Xuân H, Bùi Văn Q, Đào Văn S3, Đào Văn D.

Cơ quan điều tra đã trưng cầu định giá việc tu sửa 03 tuyến đường giao thông của xã T thời điểm tháng 4, 5/2014, vật liệu phục vụ tu sửa là đá bây (đường Làng nghề đi T, đường từ đình T đi chùa M2, đường từ đình T đi T). Tại Bản kết luận định giá tài sản số 78/KL-HĐĐGTS ngày 22/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T kết luận: Không đủ căn cứ, điều kiện để định giá.

Về trách nhiệm dân sự: Đào Văn T4, Lương Công Đ, Đào Xuân H, Bùi Văn Q, Đào Văn S3, Đào Văn D đã tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại về vật chất tổng số tiền là 234.800.000 đồng cho 12 hộ dân. Những người bị hại đã nhận đủ tiền, không yêu cầu bồi thường gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo trên.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo Lương Công Đ, Đào Văn T4, Đào Xuân H, Bùi Văn Q, Đào Văn S3, Đào Văn D đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như trên; riêng bị cáo Hoàng Văn B không thừa nhận hành vi phạm tội của mình.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 08/2024/HS-ST ngày 01/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên. đã quyết định:

Căn cứ khoản 1 Điều 281 Bộ luật hình sự năm 1999; Điều 17, Điều 41, điểm b, s, v, t khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 đối với bị cáo Lương Công Đ và Đào Xuân H.

Căn cứ khoản 1 Điều 281 Bộ luật hình sự năm 1999; Điều 17, Điều 41, điểm v, x, t khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, khoản 1,2 Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 đối với bị cáo Hoàng Văn B.

Tuyên bố: Các bị cáo Lương Công Đ, Đào Xuân H, Hoàng Văn B, phạm tội Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ.

Xử phạt bị cáo Lương Công Đ

02 năm 09 tháng tù, được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam 03 tháng 08 ngày, bị cáo còn phải chấp hành 02 năm 05 tháng 22 ngày tù. Thời hạn tính từ ngày đi chấp hành án.

Xử phạt bị cáo Đào Xuân H

02 năm 06 tháng tù, được trừ thời gian tạm giam 02 tháng 06 ngày, bị cáo còn phải chấp hành 02 năm 03 tháng 24 ngày tù. Thời hạn tính từ ngày đi chấp hành án.

Xử phạt bị cáo Hoàng Văn B

02 năm 03 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 năm 06 tháng, thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định hình phạt đối với các bị cáo không kháng cáo, hình phạt bổ sung, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 11/3/2024, bị cáo Lương Công Đ và Đào Xuân H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin cải tạo tại địa phương. Các bị cáo xuất trình đơn trình bày hoàn cảnh gia đình khó khăn có xác nhận của chính quyền địa phương; biên lai thu án phí hình sự sơ thẩm; bệnh án điều trị ngoại trú.

Ngày 13/3/2024, bị cáo Hoàng Văn B kháng cáo toàn bộ bản án hình sự sơ thẩm của TAND huyện Tiên Lữ. Bị cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm tuyên bố bị cáo không phạm tội "Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ".

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị cáo Lương Công Đ và Đào Xuân H vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin cải tạo tại địa phương, xin hưởng án treo.

Bị cáo Hoàng Văn B giữ nguyên yêu cầu kháng cáo kêu oan. Luật sư Bùi Thị T2 đề nghị HĐXX tuyên bị cáo B không phạm tội Lợi dụng chức vụ quyền hạn khi thi hành công vụ. Luật sư Trần Đình Minh L3 đề nghị HĐXX căn cứ điểm c khoản 1 Điều 29 BLHS miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo B.

Các bị cáo Đ, H và các bị cáo khác không kháng cáo gồm Đào Văn T4, Bùi Văn Q, Đào Văn S3, Đào Văn D đều khai nhận bị cáo B có tham gia vào cuộc hội ý lãnh đạo chủ chốt khoảng cuối năm 2013 để bàn về việc thu tiền của các hộ dân có nguyện vọng được chuyển đổi diện tích đất 03 sang diện tích đất khoán thầu trang trại mà họ đang sử dụng. Bị cáo Đ, H, Q, S3, D xác định chính bị cáo B còn đề xuất mức thu 5.000.000 đồng/sào nhưng các ý kiến khác cho rằng mức thu như vậy là cao và cuộc hội ý đã thống nhất mức thu 3.000.000 đồng/sào.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa, sau khi phân tích, đánh giá nguyên nhân thực hiện hành vi phạm tội, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, xác định: Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Hoàng Văn B, Lương Công Đ và Đào Xuân H về tội Lợi dụng chức vụ quyền hạn khi thi hành công theo quy định tại khoản 1 Điều 281 Bộ luật hình sự năm 1999 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, không oan sai; mức hình phạt 02 năm 09 tháng tù đối bị cáo Lương Công Đ là tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo kêu oan của bị cáo Hoàng Văn B và kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo của bị cáo Lương Công Đ, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm đối với hai bị cáo này.

Đối với bị cáo Đào Xuân H, do bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ TNHS, phạm tội với vai trò thứ hai trong vụ án; tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo được hưởng thêm tình tiêt giảm nhẹ TNHS mới nên không cần cách ly bị cáo H ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần xử phạt tù nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách theo quy định pháp luật cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung trong toàn xã hội. Do đó, đề nghị HĐXX áp dụng điểm e khoản 1 Điều 357 BLTTHS, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đào Xuân H, xử phạt bị cáo Đào Xuân H 02 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách 05 năm kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng: Đơn kháng cáo của của các bị cáo Hoàng Văn B, Lương Công Đ và Đào Xuân H đảm bảo về hình thức,trong thời hạn luật định, là kháng cáo hợp lệ nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2]. Xét kháng cáo kêu oan của bị cáo Hoàng Văn B1, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy:

Trong các năm từ 2013- 2014, với động cơ, mục đích để tăng nguồn thu cho ngân sách UBND xã T, lợi dụng chính sách dồn thửa đổi ruộng, Lương Công Đ - Chủ tịch UBND xã; Đào Văn T4- Bí thư Đảng ủy; Đào Xuân H- Phó chủ tịch UBND xã; Hoàng Văn B- Phó chủ tịch HĐND xã; Bùi Văn Q- Cán bộ tài chính, kế toán xã; Đào Văn S3 - Cán bộ văn phòng kiêm Thủ quỹ UBND xã, đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn, cố ý thu tiền trái quy định của 12 hộ dân trong xã T với tổng số tiền là 234.800.000 đồng để chuyển đổi đất 03 vào đất khoán thầu trang trại. Sau khi thu được số tiền trên, ngày 21/7/2014, các bị cáo tiếp tục họp thống nhất việc chi số tiền đã thu được vào việc tu sửa đường giao thông là 195.000.000 đồng, nhưng lập hồ sơ quyết toán chi hết số tiền 234.800.000 đồng, nhằm lấy ra số tiền chênh lệch 39.800.000 đồng để chi hoàn ứng việc đi tham quan du lịch Sơn La và chi quà Tết 2014. Đào Văn D (công chức địa chính) vì động cơ cá nhân khác, biết nguồn gốc số tiền 234.800.000 đồng thu của 12 hộ dân trong việc dồn thửa đổi ruộng, biết việc tu sửa 03 tuyến đường giao thông không chi hết số tiền 234.800.000 đồng (thực chi 195.000.000 đồng). Nhưng để thực hiện theo sự chỉ đạo của Lãnh đạo UBND xã, D đã cố ý lập 03 bộ hồ sơ quyết toán khống chi hết số tiền 234.800.000 đồng vào việc tu sửa đường, nhằm lấy ra số tiền chênh lệch 39.800.000 đồng để giúp cho Lãnh đạo UBND xã T hoàn ứng 02 khoản chi đi tham quan du lịch và chi quà Tết.

Đối với việc Hoàng Văn B và luật sư bào chữa cho rằng, B không tham gia vào cuộc hội ý cuối năm 2013 bàn về việc thu tiền của một số hộ dân trong quá trình dồn thửa đổi ruộng và không phạm tội Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ thì thấy: Mặc dù không có biên bản ghi chép nội dung cuộc họp hội ý giữa các cán bộ, lãnh đạo chủ chốt xã T cuối năm 2013, tuy nhiên cả 05 bị cáo đồng phạm gồm Đào Văn T4, Đào Xuân H, Bùi Văn Q, Lương Công Đ và Đào Văn S3 đều khai nhận B có tham gia họp bàn về việc thu tiền của các hộ dân. Trong đó 04 người (H, Đ, S3, Q) đều khai chính B là người đề xuất mức thu là 5.000.000đ/sào. Lời khai của các bị cáo có sự thống nhất, khách quan và ổn định ngay từ giai đoạn xử lý tin báo, trong suốt quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm. Tại phiên tòa phúc thẩm, Đào Xuân H, Bùi Văn Q, Lương Công Đ và Đào Văn S3 tiếp tục khẳng định bị cáo B có tham gia cuộc họp hội ý khoảng cuối năm 2013, chính B là người đề xuất mức thu 5.000.000 đồng/sào. Do đó, có căn cứ xác định bị cáo B tham gia vào cuộc họp hội ý lãnh đạo chủ chốt cuối năm 2013 để bàn về việc thu tiền của một số hộ dân trong quá trình dồn thửa đổi ruộng. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo cho rằng, nếu có đủ căn cứ chứng minh bị cáo có tham gia vào cuộc hội ý cuối năm 2013 nêu trên thì bị cáo cũng không có chức năng, nhiệm vụ gì trong việc quyết định thu, chi tài chính của UBND xã nên bị cáo không có khả năng lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ là không có căn cứ chấp nhận. Bởi lẽ, tại thời điểm đó, bị cáo đang giữ chức vụ Phó chủ tịch hội đồng nhân dân xã và là một trong những cán bộ lãnh đạo chủ chốt của xã T. Cuộc hội ý có sự tham gia của bị cáo và các bị cáo đồng phạm khác là lãnh đạo chủ chốt của xã để thống nhất chung về chủ trương thu tiền của một số hộ dân nêu trên.

Đối với quan điểm của bị cáo B và Luật sư bào chữa Bùi Thị T2 cho rằng, cuộc họp ngày 21/7/2014 không có biên bản, sổ sách ghi chép nội dung cụ thể; bị cáo B thừa nhận có tham gia cuộc họp này nhưng không biết về nội dung chi số tiền 234.800.000 đồng đã thu được của các hộ dân. Tuy nhiên, tại sổ tay cá nhân của bị cáo B nộp cho cơ quan điều tra thể hiện B đã ghi chép lại nội dung cuộc hội ý Ban thường vụ Đảng ủy ngày 21/7/2014. Thành phần tham gia hội ý gồm có Ban thường vụ Đảng ủy, công chức tài chính kế toán. Phần nội dung buổi hội ý Bẩy có ghi: “UBND xã báo cáo thu, chi 6 tháng đầu năm; báo cáo thu phí chuyển vào diện tích đã làm trang trại 11 hộ = 224.800.000đồng; Sơn La 31.000.000đồng, tết 79.000.000đồng; đề nghị UBND xã báo cáo hồ sơ: Báo cáo KT - thiết kế - dự toán đào đắp đường giao thông để thường trực hội đồng nhân dân kiểm tra” (BL số 908). Nội dung ghi chép trên được Bẩy thể hiện tại bản tự khai của Bẩy ngày 19/10/2023 và biên bản lấy lời khai ngày 20/4/2022 (BL số 915-916). Lời khai của các bị cáo đồng phạm đều thừa nhận tại cuộc họp lãnh đạo chủ chốt xã T ngày 21/7/2014 có nội dung bàn bạc thống nhất về việc chi số tiền 234.800.000 đồng đã thu được của 12 hộ dân. Do đó, quan điểm, lập luận này của bị cáo và luật sư bào chữa không được chấp nhận.

Đối với quan điểm, ý kiến của bị cáo B và Luật sư cho rằng: Các hồ sơ nghiệm thu, thanh quyết toán mặc dù có chữ của bị cáo B tại mục thường trực Hội đồng nhân dân xã nhưng đều do Đào Văn D lập khống và ghi lùi ngày để hợp lý hóa số tiền đã chi nên không phát sinh hiệu lực và không thể sử dụng làm chứng cứ để quy kết trách nhiệm cho bị cáo B, HĐXX thấy: Tại 03 hồ sơ quyết toán tiền tu sửa 03 tuyến đường giao thông trong xã do Đào Văn D lập khống, D lập hồ sơ xong thì trình B ký xác nhận vào các tài liệu khảo sát và nghiệm thu các tuyến đường với vai trò thay mặt Hội đồng nhân dân xã. B thừa nhận việc đã ký khống vào các hồ sơ do D trình để hoàn thiện thủ tục. Bị cáo cũng thừa nhận việc ký khống là sai nhưng do thời điểm đó bị cáo không trúng cử vào Đảng ủy xã, ở vào thế yếu nên vẫn buộc phải ký. Việc B ký xác nhận vào 03 bộ hồ sơ quyết toán việc tu sửa đường với vai trò thay mặt Hội đồng nhân dân là thực hiện nhiệm vụ quyền hạn được quy định tại Điều 25 và Điều 29 Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và UBND. Tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm, các bị cáo đồng phạm khác trong vụ án đều khai nhận đối với khoản tiền 234.800.000 đồng là tiền thu ngoài ngân sách xã nên việc chi bắt buộc phải có sự đồng ý của Thường trực Hội đồng nhân dân xã thì Kho bạc mới duyệt chứng từ. Tuy nhiên, như đã phân tích và nhận định ở trên, ba bộ hồ sơ đều do bị cáo D lập khống để chi hết số tiền đã thu của các hộ dân nên bị cáo B và các bị cáo đồng phạm khác đã có hành vi làm trái công vụ được giao. Quan điểm, ý kiến của bị cáo B và luật sư bào chữa không được chấp nhận.

Như vậy, có đủ căn cứ xác định Hoàng Văn B có tham gia cuộc hội ý vào khoảng cuối năm 2013 bàn về việc thu tiền của 12 hộ dân có nguyện vọng chuyển đổi đất 03 vào đất khoán thầu trang trại, có bàn bạc và đưa ra mức thu là 5.000.000đ/sào. Quá trình thực hiện, các hộ dân này đã nộp tiền hết. Bẩy có tham gia vào cuộc hội ý ngày 21/7/2014 nghe báo cáo kết quả đã thu tiền và phương hướng chi tiền. Ngoài ra, khi D trình 03 hồ sơ làm đường khống cho B thì B (với vai trò là Phó chủ tịch HĐND xã) đã ký xác nhận vào 03 bộ hồ sơ quyết toán khống việc tu sửa đường, để Doan hợp thức hóa hồ sơ quyết toán khống chi hết số tiền 234.800.000đ đã thu của các hộ dân.

Bị cáo B biết việc thu tiền của các hộ dân trong quá trình dồn thửa đổi ruộng là trái quy định nhưng tại cuộc họp cuối năm 2013, bị cáo vẫn đề xuất mức thu, sau khi cuộc hội ý thống nhất mức thu, các bị cáo đã triển khai việc thu tiền và đã thu xong như vậy tội phạm đã hoàn thành. Sau khi thu xong tiền các bị cáo tiếp tục tổ chức cuộc hội ý để bàn việc chi hết số tiền 234.800.000đ. Bị cáo B ký hồ sơ tu sửa đường do bị cáo D lập khống để hoàn thiện chứng từ chi. Căn cứ vào hồ sơ lập khống nêu trên, bị cáo S3 đã chi hết số tiền thu được theo đúng tinh thần cuộc hội ý ngày 21/7/2014.

Hành vi như đã nêu trên của các bị cáo Lương Công Đ, Đào Xuân H, Hoàng Văn B và các bị cáo đồng phạm khác không kháng cáo (Đào Văn T4, Đào Văn S3, Bùi Văn Q, Đào Văn D) đã đủ yếu tố cấu thành tội Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ. Do đó, các cơ quan tiến hành tố tụng huyện T đã khởi tố, truy tố, xét xử bị cáo Lương Công Đ, Đào Xuân H, Hoàng Văn B và các đồng phạm về tội Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ theo quy định tại khoản 1 Điều 281 Bộ luật hình sự năm 1999 là đúng người, đúng tội, không oan sai. Do đó, HĐXX phúc thẩm không có căn cứ chấp nhận kháng cáo kêu oan của bị cáo Hoàng Văn B.

Đối với nội dung kháng cáo của bị cáo B cho rằng các cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm đã bỏ lọt hành vi phạm tội của bị cáo Lương Công Đ và Bùi Văn Q, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã có quyết định tách hành vi của bị cáo Đ và Q để tiếp tục xác minh, làm rõ nên không có căn cứ chấp nhận yêu cầu này của bị cáo.

Đối với quan điểm của bị cáo và Luật sự bào chữa cho rằng, Tòa án cấp sơ thẩm đã có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng khi sử dụng lời khai có nhiều mâu thuẫn của các bị cáo đồng phạm để quy kết trách nhiệm cho bị cáo B; không thu thập được tài liệu, chứng cứ là sổ nghị quyết đảng ủy xã do ông M1 (đã chết) lưu giữ; không nhận định rõ vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn hay đồng phạm có tổ chức...đều không có căn cứ nên HĐXX không chấp nhận.

Đối với quan điểm của Luật sư Trần Đình Minh L3 đề nghị HĐXX căn cứ điểm c khoản 1 Điều 29 BLHS, miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo Hoàng Văn B do trước khi hành vi phạm tội bị phát giác, bị cáo đã khai rõ sự việc, góp phần hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm. HĐXX xét thấy, với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo và các đồng phạm đã thực hiện thì không đủ căn cứ để miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo mà chỉ có căn cứ cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ TNHS theo quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 BLHS như Tòa án cấp sơ thẩm đã nhận định.

[3]. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin cải tạo tại địa phương của bị cáo Lương Công Đ và Đào Xuân H, HĐXX phúc thẩm thấy:

Trong vụ án này, các bị cáo phạm tội có tính chất đồng phạm giản đơn. Đối với bị cáo Lương Công Đ, tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo giữ cương vị Chủ tịch UBND xã, Trưởng ban chỉ đạo dồn thửa đổi ruộng của xã đồng thời là người khởi xướng việc thu tiền, phương án chi tiền và chỉ đạo các bị cáo khác thu, chi quyết toán số tiền thu được nên bị cáo giữ vai trò cao nhất trong vụ án. Bên cạnh đó, bị cáo còn đang bị cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh làm rõ nội dung các hộ dân khai đã đưa riêng cho bị cáo số tiền 60.000.000 đồng theo quyết định tách hành vi số 01/QĐ CSĐT ngày 26/01/2023. Tại giai đoạn phúc thẩm, bị cáo xuất trình đơn trình bày hoàn cảnh gia đình khó khăn, có xác nhận của chính quyền địa phương; bệnh án điều trị ngoại trú bệnh tăng huyết áp và sỏi niệu quản, biên lai nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm, Đây là tình tiết giảm nhẹ mới bị cáo được hưởng theo quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS nên HĐXX có căn cứ giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo nhưng vẫn cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định như đề nghị của đại diện VKSND tỉnh Hưng Yên tại phiên tòa mới đủ tác dụng răn đe và phòng ngừa chung trong toàn xã hội. Do đó, HĐXX không có căn cứ chấp nhận kháng cáo xin cải tạo tại địa phương, xin hưởng án treo của bị cáo Đ.

Đối với bị cáo Đào Xuân H, do bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ TNHS, có nơi cư trú rõ ràng, phạm tội với vai trò thứ hai trong vụ án; tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo có đơn trình bày hoàn cảnh gia đình khó khăn có xác nhận của chính quyền địa phương, biên lai nộp tiền trước quyết định thi hành án ...nên được hưởng thêm tình tiêt giảm nhẹ TNHS mới tại khoản 2 Điều 51 BLHS. HĐXX xét thấy có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo H, không cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần xử phạt tù nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách theo quy định pháp luật như đề nghị của đại diện VKSND tỉnh Hưng Yên tại phiên tòa cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung trong toàn xã hội.

[4]. Từ những phân tích, nhận định trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm không có căn cứ chấp nhận kháng cáo kêu oan của của bị cáo B và kháng cáo xin xin hưởng án treo của bị Lương Công Đ; có căn cứ chấp nhận một phần kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Đ và kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Đào Xuân H.

Quan điểm và luận cứ của luật sư bào chữa cho bị cáo B không có căn cứ chấp nhận.

Quan điểm đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tại phiên tòa có căn cứ chấp nhận.

[4]. Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo B kháng cáo không được chấp nhận nên phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Bị cáo Đ, H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[5]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ Điều 343, điểm a,b khoản 1, khoản 2 Điều 355, Điều 356, Điều 357, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Xử:
    • - Không chấp nhận kháng cáo kêu oan của bị cáo Hoàng Văn B, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số sơ thẩm số 08/2024/HS-ST ngày 01/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên đối với bị cáo B
    • - Chấp nhận một phần kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Lương Công Đ và phần kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Đào Xuân H; sửa bản án hình sự sơ thẩm số 08/2024/HS-ST ngày 01/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên đối với bị cáo Đ, H.

Căn cứ khoản 1 Điều 281 Bộ luật hình sự năm 1999; Điều 17, Điều 41, điểm b, s, v, t khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 đối với bị cáo Lương Công Đ

Căn cứ khoản 1 Điều 281 Bộ luật hình sự năm 1999; Điều 17, Điều 41, điểm b, s, v, t khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, khoản 1,2 và 5 Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 92 Luật Thi hành án hình sự đối với bị cáo Đào Xuân H.

Căn cứ khoản 1 Điều 281 Bộ luật hình sự năm 1999; Điều 17, Điều 41, điểm v, x, t khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, khoản 1,2 và 5 Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 92 Luật Thi hành án hình sự đối với bị cáo Hoàng Văn B.

Tuyên bố: Các bị cáo Lương Công Đ, Đào Xuân H, Hoàng Văn B, phạm tội Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ.

Xử phạt:

Xử phạt bị cáo Lương Công Đ 02 năm 07 tháng tù, được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam 03 tháng 08 ngày. Thời hạn tính từ ngày đi chấp hành án.

Xử phạt bị cáo Đào Xuân H 02 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Xử phạt bị cáo Hoàng Văn B 02 năm 03 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 năm 06 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao các bị cáo Đào Xuân H và Hoàng Văn B cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Hưng Yên nơi các bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện đúng quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về án phí:

Bị cáo Hoàng Văn B phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác

của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Vụ GĐKT I - TAND Tối cao;
  • - VKSND tỉnh Hưng Yên;
  • - Phòng HSNV - CA tỉnh Hưng Yên;
  • - CA, VKS, THADS huyện Tiên Lữ;
  • - TAND huyện Tiên Lữ (2b);
  • - Các bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng khác;
  • - UBND xã Thủ Sỹ;
  • - Lưu: hồ sơ vụ án, VP, Tòa HC.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 39/2024/HS-PT ngày 11/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN về lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ

  • Số bản án: 39/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 11/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Đ, H. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo B
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger