|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
|
Bản án số: 39/2024/DS-ST Ngày 11-7-2024 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thị Tuyết
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Dương Văn Toản
- Ông Thân Văn Nhàn
Thư ký phiên toà: Bà Chu Thị Minh Nguyệt – Thư ký Toà án nhân dân thị xã Việt Yên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên tham gia phiên toà: Ông Ong Văn Chúc – Kiểm sát viên.
Trong ngày 11/7/2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân thị xã Việt Yên xét xử sơ thẩm vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 38/2024/TLST-DS ngày 28 tháng 02 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:57/2024/QĐXXST-DS ngày 06/6/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 52/2024/QĐST-DS ngày 21/6/2024 giữa:
- Nguyên đơn: Ngân hàng N
Địa chỉ trụ sở: Số B, đường L, phường T, quận B, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Toàn V – chức vụ: Tổng giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lâm Văn K – chức vụ: Giám đốc Ngân hàng N, chi nhánh K Bắc Giang
Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Nguyễn Văn L– Chức vụ: Trưởng phòng khách hàng Ngân hàng N1 chi nhánh K – vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.
- Bị đơn: Ông Vũ Trí O, sinh năm 1983 – vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn T, xã L, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, tại bản tự khai và quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, ông Nguyễn Văn L là đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Căn cứ Hợp đồng tín dụng số 2502LAV200803391 ngày 19/11/2008 đã ký giữa A Chi nhánh Khu công nghiệp Đ Bắc Giang. (Bên cho vay- Bên A) và (Bên vay vốn- Bên B) là ông Vũ Trí O.
Hai bên đã cam kết thống nhất trên hợp đồng tín dụng về việc bên A cho bên B vay tiền theo nội dung thỏa thuận dưới đây:
Hợp đồng tín dụng được cấp: 15.000.000 đồng. (Bằng chữ: Mười lăm triệu đồng chẵn). Thời hạn cho vay: 36 tháng. Mục đích sử dụng tiền vay: Mua xe máy. Dư nợ đến ngày 12/3/2024 là: 10.000.000 đồng. Tài sản đảm bảo: Cho vay không có bảo đảm bằng tài sản. Ông Vũ Trí O đã vi phạm hợp đồng tín dụng số: 2502LAV200803391 ngày 19/11/2008, không trả nợ gốc, lãi đầy đủ đúng hạn.
Căn cứ Hợp đồng tín dụng và phụ lục hợp đồng, ông Vũ Trí O vay của Chi nhánh Ngân hàng N chi nhánh Khu công nghiệp Đ số tiền 15.000.000 đồng, thời hạn vay 36 tháng tính từ ngày 21/11/2008, phân kỳ trả nợ như sau: Ngày 19/11/2009 trả 5.000.000 đồng tiền gốc và tiền lãi phát sinh; ngày 19/11/2010 trả 5.000.000 đồng tiền gốc và tiền lãi phát sịnh; ngày 19/11/2011 trả 5.000.000 đồng tiền gốc và lãi phát sinh. Ngày 19/11/2009 ông O trả được 5.000.000 đồng tiền gốc và tiền lãi phát sịnh. Sau đó ông O không trả được tiền vay. Ngày 19/11/2010 vi phạm nghĩa vụ thanh toán, quá hạn từ ngày 20/11/2010. Ngân hàng không đồng ý chuyển giao nghĩa vụ và chỉ yêu cầu ông O phải trả nợ.
Ngân hàng đề nghị Tòa án nhân dân thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang buộc ông Vũ Trí O phải trả nợ số tiền tính đến ngày 11/7/2024 là: 25.712.570 đồng, trong đó: Nợ gốc là: 10.000.000 đồng.Nợ lãi là: 15.712.570 đồng. Buộc ông Vũ Trí O phải tiếp tục trả lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng số 2502LAV200803391 ngày 19/11/2008 kể từ ngày tiếp theo của ngày Tòa án ra bản án/quyết định cho đến ngày thực tế ông O trả hết nợ gốc và lãi cho A chi nhánh K Bắc Giang.
Bị đơn ông Vũ Trí O trình bày: Năm 2008, ông có đứng tên ký hợp đồng tín dụng với Ngân hàng N chi nhánh K1 để vay số tiền gốc là 15.000.000 đồng, mục đích vay trong hợp đồng tín dụng là mua xe máy. Thực tế số tiền này ông vay hộ Công ty, ông có lên Ngân hàng ký hồ sơ và nhận tiền giải ngân từ Ngân hàng, sau đó ông nộp lại tiền cho Công ty ngay và có phiếu thu của công ty (chỉ có chữ ký của Kế toán, hiện nay ông vẫn giữ), khi đó ông đang làm việc tại công ty cổ phần C và ông đứng ra vay tiền hộ Công ty, ông đã nộp lại tiền cho Công ty tiền ngân hàng giải ngân, ông không có giấy tờ thỏa thuận giữa ông và Công ty. Sau khi vay tiền thì việc trả lãi và gốc là do Công ty chịu trách nhiệm, ông không liên quan. Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông trả khoản tiền gốc là 10.000.000 đồng và tiền lãi phát sinh, ông không đồng ý, đề nghị Công ty phải thanh toán trả Ngân hàng, ông không được sử dụng số tiền vay nên không đồng ý trả. Tại phiếu thu tiền ngày 21/11/2008 có ghi nội dung Công ty trực tiếp trả nợ gốc và lãi cho Ngân hàng, dẫn giải: thu lại tiền vay Ngân hàng. Ông nghỉ việc tại Công ty năm 2009, khi nghỉ việc thì cũng không nhớ là có thỏa
thuận gì về khoản nợ này không. Việc ký hợp đồng tín dụng này không liên quan đến vợ ông. Do điều kiện công việc bận, ông O đề nghị tòa án hòa giải, xét xử vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên phát biểu ý kiến về việc tuân thủ pháp luật trong suốt quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, bị đơn kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của pháp luật.
Về ý kiến giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng Điều 90; khoản 2 Điều 91; khoản 2 Điều 95; điểm a khoản 3 Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; khoản 2 Điều 210 Luật tổ chức tín dụng năm 2024; khoản 1 Điều 370, khoản 2 Điều 149 Bộ luật dân sự; Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm g khoản 1 Điều 40; Điều 147; Điều 157; Điều 158; Điều 227; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Buộc ông Vũ Trí O phải thanh toán trả Ngân hàng N số tiền gốc và lãi tính đến ngày 11/7/2024 là 25.712.570 đồng, trong đó tiền gốc 10.000.000 đồng, tiền lãi là 15.712.570 đồng, tiếp tục trả lãi phát sinh theo thoả thuận trong hợp đồng tín dụng. Về án phí: Ông Vũ Trí O phải chịu 1.285.628 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả Ngân hàng N số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và việc thẩm tra chứng cứ tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn là Ngân hàng N khởi kiện yêu cầu bị đơn là ông Vũ Trí O trả tiền gốc và lãi theo hợp đồng tín dụng đã ký, do ông O vi phạm nghĩa vụ trả tiền gốc, tiền lãi theo theo thỏa thuận, cam kết trong hợp đồng tín dụng. Nguyên đơn có giấy phép đăng ký kinh doanh, bị đơn không có giấy phép đăng ký kinh doanh. Căn cứ khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Bị đơn cư trú tại Thôn T, xã L, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Các bên thực hiện hợp đồng tại Ngân hàng N2 – Chi nhánh Khu công nghiệp Đ, địa chỉ: Lô B, Khu công nghiệp Đ, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. Căn cứ điểm a khoản 1 điều 35, điểm g khoản 1 Điều 40 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.
[2] Về thời hiệu: Căn cứ Hợp đồng tín dụng số 2502LAV200803391 và phụ lục hợp đồng ngày 19/11/2008; Hợp đồng tín dụng bổ sung về áp dụng lãi suất cho vay linh hoạt ngày 15/4/2009 ký kết giữa Ngân hàng N chi nhánh K Bắc Giang thì ông Vũ Trí O vay tiền của Ngân hàng N chi nhánh K Bắc Giang số tiền 15.000.000 đồng, thời hạn vay là 36 tháng kể từ ngày 21/11/2008. Ngày 19/11/2009 ông O trả
được 5.000.000 đồng tiền gốc và lãi phát sinh. Ngày 19/11/2010 ông O không trả tiền gốc và lãi theo thỏa thuận, ngày 20/11/2010 khoản nợ của ông O chuyển quá hạn do ông O vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Ngày 19/11/2011 đến hạn, ông O không thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Ngày 21/02/2024 Ngân hàng N nộp đơn khởi kiện yêu cầu ông O trả số tiền vay. Vụ án không có đương sự nào yêu cầu áp dụng thời hiệu. Áp dụng khoản 2 Điều 149 Bộ luật dân sự, khoản 2 Điều 184 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án không áp dụng quy định về thời hiệu.
[3] Về sự vắng mặt của các đương sự: Đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng ông Nguyễn Văn L vắng mặt và có đơn xin vắng mặt, ông Vũ Trí O vắng mặt tại phiên tòa những đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn là đảm bảo quy định tại các Điều 227, Điều 228, điểm a, b Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[4] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Căn cứ các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, lời khai của nguyên đơn, bị đơn đủ cơ sở xác định: Ngày 19/11/2008 ông Vũ Trí O ký hợp đồng tín dụng với Ngân hàng N để vay số tiền 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng); thời hạn vay 36 tháng, tính từ ngày 21/11/2008, phân kỳ trả nợ: Ngày 19/11/2009 trả 5.000.000 đồng tiền gốc và tiền lãi phát sinh, ngày 19/11/2010 trả 5.000.000 đồng tiền gốc và tiền lãi phát sinh, ngày 19/11/2011 trả 5.000.000 đồng tiền gốc và tiền lãi phát sinh. Sau khi vay ngày 19/11/2009 ông O trả được 5.000.000 đồng tiền gốc và tiền lãi phát sinh. Ngày 19/11/2010 ông O không trả được tiền gốc, tiền lãi theo thỏa thuận, ông O vi phạm nghĩa vụ thanh toán, khoản nợ chuyển nợ quá hạn từ ngày 20/11/2010. Việc ông O không trả thực hiện trả nợ gốc và lãi theo kỳ hạn trả nợ là vi phạm điều khoản trong hợp đồng tín dụng và phục lục hợp đồng đã ký. Tính đến hết ngày 11/7/2024 ông O còn nợ Ngân hàng số tiền gốc là 10.000.000 đồng và tiền lãi là 15.712.570 đồng.
Anh Vũ Trí O xác định năm 2008 ông ký hợp đồng vay vốn với Ngân hàng N, trong hợp đồng ghi là để mua xe máy, nhưng thực tế là vay tiền cho Công ty cổ phần C. Bản thân ông và gia đình không liên quan gì đến việc này, việc vay tiền là vay cá nhân, vợ anh không biết việc vay này. Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử thấy ông O là người ký hợp đồng tín dụng và phụ lục hợp đồng. Thoả thuận vay tiền giữa ông O và Công ty cổ phần C không được sự thống nhất giữa 03 bên gồm Ngân hàng, ông O và Công ty cổ phần C. Nên thoả thuận nêu trên của ông O và Công ty cổ phần C không liên quan đến Hợp đồng tín dụng số 2502LAV200803391 ngày 19/11/2008. Ngân hàng không đồng ý chuyển giao nghĩa vụ. Ngoài ra mặc dù hợp đồng tín dụng thể hiện ông O vay tiền Ngân hàng để mua xe máy, nhưng thực tế việc ông O vay tiền, vợ ông không biết và ông O không sử dụng tiền vay vào việc gia đình, hơn nữa Ngân hàng chỉ yêu cầu một mình ông O phải trả số tiền gốc và lãi theo hợp đồng tín dụng.
Như vậy, việc Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông Vũ Trí O trả số tiền nợ gốc và lãi nêu trên là phù hợp với thỏa thuận của các bên tại Hợp đồng tín dụng và phụ lục
hợp đồng. Căn cứ khoản 1 Điều 370 Bộ luật dân sự, khoản 2 Điều 91, khoản 2 Điều 95, điểm a khoản 3 Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 8 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N3 nên được chấp nhận.
[5] Trong vụ án này ông Vũ Trí O khai ông đứng tên ký hợp đồng tín dụng vay tiền Ngân hàng cho Công ty cổ phần C. Căn cứ các tài liệu trong hồ sơ thì thấy: Hợp đồng tín dụng và phụ lục hợp đồng tín dụng ông Vũ Trí O là người vay ký. Hiện Công ty cổ phần C bị thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh không còn tồn tại trên cổng thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia, Ngân hàng không đồng ý chuyển giao nghĩa vụ. Do đó Hội đồng xét xử không xác định Công ty cổ phẩn chế biến nông sản thực phẩm Bắc Giang là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án nên không đưa vào tham gia tố tụng. Sau này có tranh chấp, ông Vũ Trí O được khởi kiện Công ty cổ phần C bằng vụ án khác.
[6] Về án phí: Yêu cầu của Ngân hàng N được chấp nhận nên ông O phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội. Hoàn trả Ngân hàng N số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 90, Điều 91, Điều 95, Điều 98 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; khoản 2 Điều 210 Luật tổ chức tín dụng năm 2024.
Căn cứ khoản 1 Điều 370, khoản 2 Điều 149 Bộ luật dân sự;
Căn cứ Án lệ số 08/2016/AL được Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17/10/2016 và được công bố theo Quyết định số 698/Q Đ-CA ngày 17/10/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao;
Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm g khoản 1 Điều 40; Điều 147; khoản 2 Điều 184; Điều 227; Điều 228; điểm a, b khoản 1 Điều 238; Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N:
Buộc ông Vũ Trí O phải trả cho Ngân hàng N tổng số tiền gốc và lãi tính đến hết ngày 11/7/2024 là 25.712.570 đồng (Hai mươi lăm triệu bẩy trăm mười hai nghìn năm trăm bẩy mươi đồng) trong đó nợ gốc là 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng), nợ lãi 15.712.570 đồng (Mười lăm triệu bẩy trăm mười hai nghìn năm trăm bẩy mươi đồng)
Kể từ ngày 12/7/2024, ông Vũ Trí O còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số 2502LAV200803391 ngày 19/11/2008 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh
lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
2. Về án phí: Ông Vũ Trí O phải chịu 1.285.628 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả Ngân hàng N số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 627.000 đồng theo biên lai số 0003351 ngày 27/02/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Việt Yên (nay là thị xã V), tỉnh Bắc Giang.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7; 7a; 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
3. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Tuyết |
Bản án số 39/2024/DS-ST ngày 11/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 39/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam và ông Vũ Trí Oanh
