TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 39/2024/HSPT Ngày 11 tháng 6 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hà
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thuý Hoàn và ông Phạm Ngọc Thành.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh - Thư ký TAND tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Vân Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 03/2024/HSPT ngày 05/01/2024, do có kháng cáo của các bị cáo Bùi Văn C, Bùi Văn B, Bùi Thị P, Bùi Văn T, Bùi Văn C1 và kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn V, ông Nguyễn Văn C2 đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 123/2023/HSST ngày 23/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.
- Các bị cáo kháng cáo:
- Bùi Văn C, sinh ngày 25/5/1958 tại Thái Bình; nơi cư trú: Thôn B, xã Đ, huyện H, tỉnh Thái Bình; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 7/10; con ông Bùi Văn V1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị L (đã chết); vợ: Bùi Thị P, sinh năm 1961; bị cáo có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Năm 1976, tham gia Q1 đến năm 1982 xuất ngũ về địa phương lao động tự do; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, có mặt.
- Bùi Văn B, sinh ngày 23/5/1959 tại Thái Bình; nơi cư trú: Thôn B, xã Đ, huyện H, tỉnh Thái Bình; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 10/10; con ông Bùi Văn T1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị C3 (đã chết); vợ Vũ Thị N, sinh năm 1962; bị cáo có 04 con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, có mặt.
- Bùi Thị P, sinh ngày 29/4/1961 tại Thái Bình; nơi cư trú: Thôn B, xã Đ, huyện H, tỉnh Thái Bình; giới tính: Nữ; dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: lớp 7/10; con ông Bùi Viết A (đã chết) và bà Nguyễn Thị N1 (đã chết); chồng Bùi Văn C, sinh năm 1958; bị cáo có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, có mặt.
- Bùi Văn T, sinh ngày 18/01/1949 tại Thái Bình; đăng ký thường trú: Số B, ngõ D, Tập thể Lao và B1 phổi, phường C, quận B, thành phố Hà Nội; nơi tạm trú: Thôn B, xã Đ, huyện H, tỉnh Thái Bình; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 7/10; con ông Bùi Văn T2 (đã chết) và bà Nguyễn Thị S (đã chết); vợ: Nguyễn Thị P1, sinh năm 1953; bị cáo có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, có mặt.
- Bùi Văn C1, sinh ngày 20/3/1984 tại Thái Bình; nơi cư trú: Thôn B, xã Đ, huyện H, tỉnh Thái Bình; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 7/12; con ông Bùi Văn C và bà Bùi Thị P; vợ Trần Thị H; bị cáo có 03 con; tiền sự: Không; tiền án: Bản án số 40/2021/HSST ngày 06/4/2021 của Toà án nhân dân huyện Hưng Hà, Thái Bình, tỉnh Thái Bình xử phạt Bùi Văn C1 01 năm 03 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc”. Ngày 28/9/2022, chấp hành xong án phạt cải tạo không giam giữ; ngày 28/9/2022, chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm và tiền khấu trừ thu nhập trong thời gian cải tạo không giam giữ. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, có mặt.
- Người bào chữa cho các bị cáo Bùi Văn C, Bùi Thị P, Bùi Văn B, Bùi Văn T: Ông Phạm Hữu L1 - Luật sư thuộc Văn phòng luật sư Phạm Hữu L1 và cộng sự - Đoàn luật sư tỉnh T, có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Bùi Văn C1: Ông Phạm Hữu G - Luật sư thuộc Văn phòng luật sư Phạm Hữu L1 và cộng sự - Đoàn luật sư tỉnh T, có mặt.
- Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1960 .
- Bà Nguyễn Thị V2, sinh năm 1962
- Anh Nguyễn Văn C4, sinh năm 1973
- Anh Nguyễn Văn C2, sinh năm 1976
Đều cư trú tại: Thôn B, xã Đ, huyện H, tỉnh Thái Bình.
- Bà Nguyễn Thị C5, sinh năm 1965; nơi cư trú: Thôn L, xã Đ, huyện H, tỉnh Thái Bình.
(Ông V đã chết ngày 23/4/2024, anh C2, anh C4 có mặt, bà V2, bà C5 có đơn xin vắng mặt).
- Người đại diện theo uỷ quyền của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Văn V3, sinh năm 1991; nơi cư trú: Thôn B, xã Đ, huyện H, tỉnh Thái Bình, có mặt.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Phạm H1 - Luật sư thuộc Văn phòng luật sư Phạm H1 và cộng sự - Đoàn luật sư tỉnh T, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Bùi Văn C cho rằng, từ năm 1990, dòng họ Bùi Văn có tiếp quản, trông coi 01 ngôi mộ của cụ Bùi Văn H2 (cụ 5 đời của họ B2) ở khu nghĩa trang Ồ sau Đống, cạnh ngôi mộ của cụ Húy K của dòng họ N2. Theo gia đình nhà họ B2, khi còn sống cụ Bùi Văn H3 là trưởng ngành III đã chỉ vị trí để xây mộ và thờ cúng (ngôi mộ chỉ xây quây hai hàng gạch đỏ xung quanh, mặt trên vẫn để lộ đất để cắm hương, không làm bia mộ, không ghi rõ tên tuổi, không đặt bát hương). Đến khoảng năm 2016, Bùi Văn C và Bùi Văn B đến ngôi mộ của cụ H2 thì thấy ngôi mộ của cụ Bùi Văn H2 được xây dựng lại và ghi tên trên ngôi mộ là cụ Nguyễn Thị D (mộ của dòng họ Nguyễn). Sau đó, bị cáo B được ông Nguyễn Đình C6, sinh năm 1959, trú cùng thôn kể lại là thấy ông Nguyễn Văn C2 đào mộ ở vị trí mộ cụ Húy K vào cuối năm 2015, còn bị cáo Bùi Thị P được bà Bùi Thị X, sinh 1956, trú cùng thôn kể lại là bà Nguyễn Thị G1 con dâu của dòng họ Nguyễn có lần phải mua gạch về đậy mộ cụ bị vỡ, không nói cụ thể là mộ cụ nào. Sau đó, Bùi Văn B và bị cáo C đi xem bói tại nhà ông Lê Đức T3, sinh năm 1965, cư trú tại thôn D, xã D, huyện T, tỉnh Hưng Yên, ông T3 nói là mộ cụ Bùi Văn H2 vẫn còn ở khu ổ gà sau Đống nhưng bị chuyển đi cách vị trí cũ khoảng 03 mét, mộ vẫn còn nấm. Do đó, các bị cáo Bùi Văn C, Bùi Văn B, Bùi Văn T, ông Bùi Văn T4 và bị cáo Bùi Thị P cho là gia đình ông Nguyễn Văn C2 và bà Nguyễn Thị G1 đã đào mộ cụ Bùi Văn H2 đi để lấy chỗ chôn hài cốt của cụ D và chuyển tiểu chứa hài cốt của cụ H2 sang vị trí khác cách khoảng 03 mét để chôn rồi xây lên ngôi mộ “Nguyễn tộc”. Sau đó các bị cáo C, B, T, P và ông T4 nhiều lần sang nhà ông Nguyễn Văn C2 để xin lại mộ nhưng ông C2 không đồng ý.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày: Ngôi mộ cụ Húy K đã được chôn cất tại khu ổ gà sau Đống từ rất lâu, từ những năm 2000 gia đình đã xây thành khuôn viên khu mộ nhà họ N2, trong khuôn viên này có ngôi mộ cụ Húy K và mộ một người con cụ H4 Kỷ chết trẻ. Cuối năm 2015, gia đình ông Nguyễn Văn K1 cùng các con là: Ông Nguyễn Văn V, bà Nguyễn Thị V2, ông Nguyễn Văn C4, bà Nguyễn Thị C5 và ông Nguyễn Văn C2 tiến hành bốc mộ cho cụ Nguyễn Thị D (là thím của ông K1) và chuyển về chôn cạnh bên trái mộ của cụ Húy K (là bố chồng của cụ D) táng tại khu ổ gà sau Đống, nghĩa trang T8 Ngoài ra, ông C2 còn khẳng định bên phải ngôi mộ của cụ Húy K, cách 1,5m là ngôi mộ của một người con cụ Húy K, chết trẻ nên không rõ tên tuổi, giới tính và năm chết cũng được an táng ở đó. Nên khi tiến hành bốc mộ cho cụ D thì gia đình đã xây sửa lại ngôi mộ này và cắm bia, viết tên ngôi mộ là “Nguyễn tộc”. Dòng họ N2 khẳng định bên cạnh phía bên trái ngôi mộ cụ Húy K không có ngôi mộ nào của dòng họ B2 và không di dời hài cốt của ngôi mộ nào sang chôn cất tại ngôi mộ “Nguyễn Tộc”.
Vì vậy, hai bên gia đình xảy ra tranh chấp mộ, gia đình các bị cáo làm đơn gửi chính quyền thôn B và xã Đ để đề nghị giải quyết tranh chấp mộ. Ngày 27/01/2022, tại đình làng B, xã Đ, Ban công tác mặt trận thôn B đã tiến hành hòa giải giữa nhà họ B2 và nhà họ Nguyễn nhưng hoà giải không thành, do hai bên dòng họ đều khẳng định ngôi mộ “Nguyễn tộc” là của dòng họ nhà mình nhưng cả hai bên đều không đưa ra được căn cứ chứng minh nguồn gốc mộ, vì vậy hai bên cùng đề nghị được khai quật ngôi mộ “Nguyễn tộc” để kiểm tra, nếu thấy đất rỗng, xốp, tiểu bên dưới mộ bị nứt, vỡ, đậy bằng gạch mới thì gia đình ông K1 phải chịu trách nhiệm, còn nếu đất chật, liền thổ, tiểu bên dưới không bị vỡ, nứt, tức chưa bị đào bới thì nhà họ Bùi phải chịu trách nhiệm. Tuy nhiên, Ban công tác mặt trận thôn B không đồng ý cho khai quật mộ, việc khai quật mộ phải xin ý kiến các cấp có thẩm quyền nên yêu cầu hai bên gia đình họ N2 và họ B2 không được tự ý khai quật, di dời ngôi mộ “Nguyễn tộc” trong thời gian chờ giải quyết.
Đến tháng 11/2022, các bị cáo P, C và B thống nhất với nhau cứ tiến hành di dời ngôi mộ “Nguyễn tộc” dù chưa được giải quyết tranh chấp xong. Sau đó, bị cáo P đi xem ngày, giờ tốt để tiến hành di dời mộ và cùng thống nhất sẽ tiến hành di dời ngôi mộ “Nguyễn tộc” vào ngày 27/11/2022.
Ngày 26/11/2022, bị cáo B gặp ông Bùi Văn T5 (Bí thư chi bộ thôn B) bảo ông T5 đến tham gia di dời ngôi mộ “Nguyễn tộc” vào sáng ngày 27/11/2022 nhưng ông T5 không đồng ý tham gia. Bị cáo P gặp bà Nguyễn Thị M (bà M là vợ của ông T4) để thông báo thời gian di dời mộ. Sau đó, bị cáo B đến nhà ông T4, gặp ông T4, bà M để thông báo thời gian di dời mộ nhưng ông T4 từ chối tham gia vì bị ốm. Do ông T4 không tham gia nên bị cáo P, bị cáo B bảo bà M và anh Bùi Văn T6, sinh năm 1991, trú cùng thôn (anh T6 là con của ông T4) đi thay. Bà M được bị cáo P và bị cáo B nói lại đã giải quyết xong việc tranh chấp mộ, họ Nguyễn nhà ông K1 đã đồng ý cho di dời mộ và đã thông báo với chính quyền địa phương nên bà M đồng ý và gọi anh T6 đang đi làm ở thành phố Hà Nội về để tham gia di dời mộ thay ông T4, còn bị cáo C đến nhà bị cáo T, để thông báo thời gian di dời mộ. Bị cáo T có tham gia buổi hòa giải ngày 27/01/2022 tại đình làng B, biết việc chưa giải quyết tranh chấp mộ xong với gia đình ông K1 nhưng vẫn đồng ý tham gia di dời mộ. Chiều ngày 26/11/2022, bị cáo B mang 06 đoạn cọc tre và 02 chiếc bạt đến khu ổ gà sau Đống rồi cùng bị cáo C dựng bạt che mưa nắng tại vị trí ngôi mộ “Nguyễn tộc” và vị trí khuôn viên đất để chuyển mộ về. Đến khoảng 03 giờ 30 phút ngày 27/11/2022, các bị cáo C, B, T, P, bà M và anh T6 cùng nhau đi đến nghĩa trang để di dời ngôi mộ “Nguyễn tộc”. Khi đi bị cáo B mang theo 01 chiếc thuổng, 01 chiếc xẻng đầu vuông, 01 cây sắt để thuốn, 01 đoạn dây thừng dài khoảng 05 mét; bị cáo C mang theo 01 chiếc xô cao su để xách nước còn bị cáo P mang theo 01 chiếc đèn pin. Khi đến nghĩa trang, bị cáo C và bị cáo T phụ trách đào huyệt tại khuôn viên nhà họ Bùi xây quây gạch trước đây, kích thước (5,5m x 5,1m), cách vị trí ngôi mộ “Nguyễn tộc” khoảng 10 mét để chuyển mộ về, còn các bị cáo B, P, bà M, anh T6 thực hiện việc đào phá ngôi mộ “Nguyễn tộc” để lấy tiểu. Khi bị cáo C thấy chiếc xẻng đầu vuông khó đào đất đã đi về nhà bị cáo C1 mượn 01 chiếc xẻng đầu nhọn, đồng thời bảo bị cáo C1 đi di dời mộ “Nguyễn tộc”. Bị cáo C1 có tham gia buổi hòa giải ngày 27/01/2022 tại đình làng B và biết việc chưa giải quyết tranh chấp mộ xong với gia đình ông K1 nhưng vẫn đồng ý ra khu ổ gà sau Đống tham gia di dời ngôi mộ “Nguyễn tộc”. Sau đó, anh T6 dùng thuổng phá lớp bê tông mặt trên ngôi mộ “Nguyễn tộc” rồi lật các mảnh bê tông vỡ ra làm lộ đất bên trong. Bà M, bị cáo P nhặt đất, đá, gạch vỡ và múc nước đổ vào trong mộ để làm mềm đất còn bị cáo B dùng thanh sắt để thuốn để xác định vị trí của tiểu, sau đó đào đất lên thì phát hiện thấy một chiếc tiểu sành đậy bằng gạch, trong đó có 02 viên gạch đỏ vuông và 01 viên gạch thất cổ, bị cáo C1 dùng điện thoại cá nhân để chụp ảnh chiếc tiểu này, rồi cùng anh T6 dùng dây thừng kéo chiếc tiểu này lên trên mặt đất. Các bị cáo C, B, T, P, C1, bà M và anh T6 không mở gạch ra xem bên trong tiểu có gì mà cho vào trong một chiếc vỏ quách mới do bị cáo B đặt mua từ trước. Sau đó, bị cáo C1, anh T6 về trước còn bị cáo C nhờ anh Lê Văn M1 đang bốc mộ ở gần đó đến giúp các bị cáo C, B, P, T và bà M hạ quách tiểu vừa đào được xuống huyệt mới tại khuôn viên đất nhà họ B2, rồi lấp đất thành mô cao. Trong suốt quá trình trước, trong và sau khi di dời mộ, các bị cáo C, B, T, P, C1, bà M và anh T6 không thông báo cho ông V, ông C4, ông C2, bà V2 và bà C5 biết.
Ngày 28/11/2022, ông C2 phát hiện ngôi mộ “Nguyễn tộc” đã bị đào lên, di dời nên làm đơn gửi chính quyền xã Đ để đề nghị giải quyết.
Tại Cơ quan Điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo Bùi Văn C, Bùi Văn B, Bùi Văn T, Bùi Thị P, Bùi Văn C1 đã khai nhận toàn bộ hành vi và diễn biến sự việc như đã nêu trên nhưng không thừa nhận hành vi của các bị cáo là phạm tội xâm phạm mồ mả.
Bản án hình sự sơ thẩm số 123/2023/HSST ngày 23/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình quyết định:
- Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Bùi Văn C, Bùi Văn B, Bùi Văn T, Bùi Thị P, Bùi Văn C1 phạm tội “Xâm phạm mồ mả”.
- Về hình phạt:
- Áp dụng khoản 1 Điều 319; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 50; Điều 58 ; Điều 38; Điều 65 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Bùi Văn C 08 (tám) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm 04 (bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 23/11/2023.
- Áp dụng khoản 1 Điều 319; điểm i, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 50; Điều 58, Điều 38; Điều 65 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Bùi Văn B 08 (tám) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm 04 (bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 23/11/2023.
- Áp dụng khoản 1 Điều 319; Điều 17; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 58, Điều 38; Điều 65 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Bùi Thị P 07 (bảy) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm 02 (hai) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 23/11/2023.
- Áp dụng khoản 1 Điều 319; điểm i, s, o khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 38; Điều 65 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Bùi Văn T 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 23/11/2023.
Giao các bị cáo Bùi Văn C, Bùi Văn B, Bùi Thị P, Bùi Văn T cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện H, tỉnh Thái Bình nơi các bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo theo quy định tại khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
- Áp dụng khoản 1 Điều 319; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 50; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Bùi Văn C1 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.
- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự, Điều 607 Bộ luật Dân sự:
- Buộc các bị cáo C, B, P, T, C1 phải di chuyển ngôi mộ đang tranh chấp đang được chôn cất tại khuôn viên đất nghĩa trang mộ nhà họ B2 về vị trí ban đầu và phải xây dựng lại ngôi mộ theo hiện trạng tương đương với ngôi mộ ban đầu.
- Không chấp nhận yêu cầu của người đại diện theo uỷ quyền của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người đại diện theo uỷ quyền về việc buộc các bị cáo phải bồi thường số tiền là 8.300.000 đồng.
- Không chấp nhận yêu cầu của người đại diện theo uỷ quyền của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan cũng như người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người đại diện theo uỷ quyền về việc yêu cầu các bị cáo phải bồi thường về tổn thất về tinh thần là 18.000.000 đồng.
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo của các bị cáo, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Ngày 07/12/2023, các bị cáo Bùi Văn C, Bùi Văn B, Bùi Văn T, Bùi Thị P, Bùi Văn C1 kháng cáo cho rằng Toà án nhân dân huyện Hưng Hà xét xử các bị cáo về tội “Xâm phạm mồ mả” là không có cơ sở pháp lý. Đề nghị huỷ Bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình, trả hồ sơ vụ án để điều tra lại. Đồng thời, yêu cầu cơ quan tiến hành tố tụng phải khai quật ngôi mộ đang có tranh chấp để xét nghiệm ADN để làm căn cứ giải quyết vụ án một cách khoa học.
Ngày 07/12/2023, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Văn V và anh Nguyễn Văn C2 kháng cáo về phần trách nhiệm dân sự, đề nghị Toà án cấp phúc thẩm buộc các bị cáo phải bồi thường cho những người có quyền lợi liên quan theo quy định của pháp luật.
Ngày 04/6/2024, bị cáo Bùi Văn C1 có đơn thay đổi nội dung kháng cáo, bị cáo đã nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị xét xử về tội “Xâm phạm mồ mả” là đúng nên bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét vai trò của bị cáo trong vụ án để xử phạt bị cáo hình phạt là cải tạo không giam giữ.
Tại phiên tòa, các bị cáo Bùi Văn C, Bùi Văn B, Bùi Văn T, Bùi Thị P vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và đề nghị: Hội đồng xét xử huỷ bản án sơ thẩm để điều tra lại, xem xét rõ ngôi mộ đó của dòng họ nào để làm rõ sự việc.
Tại phiên tòa, bị cáo Bùi Văn C1 trình bày: Bị cáo không nắm được cụ thể nội dung tranh chấp mộ giữa hai dòng họ B2 và dòng họ Nguyễn, ngày 27/11/2022, bị cáo không được bàn bạc gì về việc di dời mộ “Nguyễn tộc”, bố bị cáo là Bùi Văn C chỉ vào nhà bị cáo mượn xẻng để đi đào mộ và bảo bị cáo tham gia giúp đào mộ nên bị cáo đi theo. Mặt khác, mục đích đào mộ “Nguyễn tộc” lên để di dời hài cốt về thờ cúng là yếu tố tâm linh, phong tục tập quán địa phương chứ không nhằm mục đích phá hoại mồ mả người khác. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là phạm tội xâm phạm mồ mả nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét kháng cáo của bị cáo, cho bị cáo mức hình phạt được cải tạo tại địa phương.
Tại phiên tòa, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt trình bày: Dòng họ Nguyễn không di chuyển bất kỳ ngôi mộ nào của dòng họ B2 để chôn cất sang ngôi mộ “Nguyễn tộc”. Ngôi mộ chôn cất cụ Húy K và ngôi mộ “Nguyễn tộc” của dòng họ N2 đã tồn tại trong khuôn viên khu mộ dòng họ Nguyễn từ lâu đời, khu mộ được xây thành khuôn viên riêng từ những năm 2000 và không có ngôi mộ nào của dòng họ B2 nằm cạnh mộ cụ Húy K. Vì vậy, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo. Đồng thời, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan rút toàn bộ kháng cáo về yêu cầu buộc các bị cáo phải bồi thường trách nhiệm dân sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình sau khi phân tích toàn bộ nội dung vụ án, xét tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội của các bị cáo, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo, xem xét nội dung kháng cáo của các bị cáo và xem xét việc rút toàn bộ yêu cầu kháng cáo của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Điều 356 Bộ luật Tố tụng Hình sự, không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Bùi Văn C, Bùi Văn B, Bùi Văn T, Bùi Thị Phi. Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Bùi Văn C1, sửa bản án sơ thẩm, chuyển sang hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn và xử phạt bị cáo Bùi Văn C1 06 tháng cải tạo không giam giữ và không khấu trừ thu nhập của bị cáo do bị cáo không có công việc, thu nhập ổn định, bản thân còn phải nuôi 03 con nhỏ. Áp dụng Điều 342, Điều 348 Bộ luật Tố tụng Hình sự, đình chỉ việc xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Các bị cáo Bùi Văn C, Bùi Văn B, Bùi Văn T, Bùi Thị P tranh luận: Các bị cáo đều cho rằng việc các bị cáo bị tuyên phạm tội “Xâm phạm mồ mả” là không có cơ sở pháp lý nên đề nghị Hội đồng xét xử huỷ bản án sơ thẩm để điều tra lại và cần phải xác định rõ ngôi mộ đó của của dòng họ N2 hay dòng họ B2 để làm cơ sở giải quyết vụ án.
Luật sư Phạm Hữu L1 tranh luận: Tại bản án sơ thẩm xác định ngôi mộ đề chữ “Nguyễn tộc” là mộ của con cụ H4 Kỷ chết trẻ, không tên tuổi, giới tính nhưng anh Nguyễn Văn C4, anh Nguyễn Văn V3 và những người trong dòng họ N2 đều khai: Nghe ông bà bố truyền đạt lại thì đây là ngôi mộ của con trai cụ Húy K, không có tên tuổi, như vậy có thể thấy là có sự mâu thuẫn giữa nhận định của bản án và lời khai của những người liên quan. Lời khai của ông Đ thể hiện: Ông Đ không biết cụ Húy K có bao nhiêu người con nhưng trong gia phả chỉ ghi cụ Húy K có 03 người con trai là cụ N3, cụ D, cụ Q, vì vậy, không thể xác định ngôi mộ Nguyễn tộc là mộ con trai của cụ Húy K. Khi họ Bùi đào mộ Nguyễn tộc lên để di chuyển về khu nhà họ Bùi thờ cúng, các cơ quan tiến hành tố tụng chưa có tài liệu để xác định dưới ngôi mộ đó có phải là xương người, hài cốt hay không. Nếu không phải là xương người thì các bị cáo không phạm tội xâm phạm mồ mả. Vì vậy, Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử huỷ bản án sơ thẩm để điều tra lại vụ án, đồng thời đề nghị phải tiến hành giám định xem hài cốt trong ngôi mộ “Nguyễn tộc” có phải xương người không thì mới có căn cứ kết tội “Xâm phạm mồ mả” đối với các bị cáo.
Bị cáo Bùi Văn C1 không tranh luận gì.
Luật sư bào chữa cho bị cáo C1 tranh luận: Tại phiên tòa bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên Luật sư không tranh luận gì về tội danh. Về hành vi của bị cáo thì thấy, bị cáo không được bàn bạc gì về việc thực hiện hành vi phạm tội mà chỉ tham gia giai đoạn sau cùng, vai trò đồng phạm không đáng kể nên đề nghị áp dụng loại hình phạt nhẹ hơn, xử phạt bị cáo mức hình phạt là cải tạo không giam giữ như đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình là phù hợp.
Viện kiểm sát đối đáp với bào chữa của luật sư: Những căn cứ, lập luận của luật sư đưa ra không có cơ sở nên Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm luận tội đối với các bị cáo.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người đại diện theo uỷ quyền và luật bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người liên quan không tranh luận gì.
Các bị cáo Bùi Văn C, Bùi Văn B, Bùi Văn T, Bùi Thị P nói lời sau cùng: Các bị cáo đều đề nghị Hội đồng xét xử xem xét lại toàn bộ vụ án, giám định để xác định hài cốt trong ngôi mộ đó là của ai.
Bị cáo Bùi Văn C1: Bản án sơ thẩm xét xử bị cáo đã đúng người, đúng tội, bị cáo thấy ân hận về hành vi phạm tội của mình nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức hình phạt là cải tạo không giam giữ để có điều kiện chăm sóc bố mẹ già và các con thơ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Kháng cáo của các bị cáo Bùi Văn C, Bùi Văn B, Bùi Văn T, Bùi Thị P, Bùi Văn C1 làm trong thời hạn luật định nên được xét xử theo trình tự, thủ tục phúc thẩm.
- Xét kháng cáo kêu oan của các bị cáo Bùi Văn C, Bùi Văn B, Bùi Văn T, Bùi Thị P thì thấy: Các bị cáo đều khẳng định ngôi mộ “Nguyễn Tộc” là mộ của dòng họ Nguyễn xây dựng, nhưng các bị cáo cho rằng, mộ cụ Bùi Văn H2 (cụ 5 đời của họ Bùi) được chôn cất cạnh mộ cụ Húy K của dòng họ N2 đã bị gia đình ông Nguyễn Văn C2 đào lên và đưa hài cốt sang táng tại ngôi mộ “Nguyễn tộc”, nên việc các bị cáo đào mộ lấy hài cốt của cụ Bùi Văn H2 về để thờ cúng tại khu mộ họ Bùi là không phạm tội xâm phạm mồ mả như bản án sơ thẩm đã tuyên. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy, khi xảy ra tranh chấp mộ giữa hai dòng họ, các bị cáo không có tài liệu, chứng cứ nào để cho rằng mộ cụ Bùi Văn H2 là cụ 5 đời nhà họ B2 là ngôi mộ nằm cạnh ngôi mộ của cụ Húy K của dòng họ N2. Bản thân các bị cáo đều khai trên phần mộ này không ghi tên, tuổi, năm sinh, năm mất của cụ Bùi Văn H2 và cũng không có chứng cứ nào cho rằng ngôi mộ cụ Bùi Văn H2 đã bị con cháu dòng họ Nguyễn đào lên chuyển hài cốt sang ngôi mộ Nguyễn tộc rồi để lấy phần mộ đó để chôn cất hài cốt của cụ Nguyễn Thị D bên cạnh mộ cụ Húy K. Những chứng cứ mà các bị cáo đưa ra chỉ là lời khai của các bị cáo và chỉ dựa vào yếu tố tâm linh, xem bói của thầy bói để khẳng định hài cốt của cụ H2 đã bị chuyển sang chôn cất tại mộ Nguyễn T7. Mặt khác, những người thuộc dòng họ N2 đều khẳng định: Mộ cụ Húy K đã được thờ cúng lâu đời tại khu nghĩa trang ổ gà sau Đống, phía bên phải của mộ cụ Húy K có ngôi mộ không tên là con của cụ H4 Kỷ chết trẻ của dòng họ N2 và phía bên trái mộ cụ Húy K trước năm 2015 thì không có ngôi mộ nào của dòng họ B2, cuối năm 2015 mới cải mộ bà Nguyễn Thị D để chôn bên cạnh mộ cụ Húy K. Quá trình xảy ra tranh chấp mồ mả của hai dòng họ, chính quyền thôn B, xã Đ đã có văn bản yêu cầu các bên không được tự ý khai quật, di dời ngôi mộ “Nguyễn tộc” trong thời gian chờ giải quyết nhưng các bị cáo vẫn không chấp hành sự chỉ đạo của chính quyền địa phương mà vẫn thực hiện hành vi đào ngôi mộ “Nguyễn tộc”. Như vậy, hành vi của các bị cáo là xâm phạm đến mồ mả của dòng họ N2, đồng thời xâm phạm đến trật tự, an toàn đối với phần mộ của người chết, thông qua đó xâm phạm đến phong tục, tập quán, truyền thống của dân tộc Việt Nam. Việc các bị cáo khẳng định ngôi mộ “Nguyễn tộc” là của dòng họ Nguyễn, khi chưa được sự thống nhất của hai dòng họ về việc xác định hài cốt trong mộ là của dòng họ nào, chưa được chính quyền địa phương giải quyết tranh chấp mà có hành vi đào mộ “Nguyễn tộc” là đã cấu thành tội “Xâm phạm mồ mả”. Vì vậy, không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình về tội danh và hình phạt đối với các bị cáo. Đối với yêu cầu của các bị cáo và luật sư cho rằng cần phải giám định hài cốt bên trong ngôi mộ “Nguyễn tộc” xem có phải là xương người không và là hài cốt của ai thì không được chấp nhận, bởi trong quá trình các bị cáo đào mộ “Nguyễn tộc” và đưa hài cốt sang ngôi mộ khác để chôn cất thì mẫu giám định đó không còn tính khách quan để giám định. Mặt khác, Cơ quan điều tra đã có nhiều văn bản trả lời về việc không có đủ cơ sở pháp lý để tiến hành giám định theo yêu cầu của các bị cáo.
- Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt sang hình phạt cải tạo không giam giữ của bị cáo Bùi Văn C1 thì thấy: Trong vụ án này xác định bị cáo Bùi Văn C, Bùi Văn B là người chủ mưu, lôi kéo các bị cáo khác tham gia thực hiện tội phạm, bản thân bị cáo Bùi Văn C1 không được bị cáo C bàn bạc, thống nhất về kế hoạch di dời mộ “Nguyễn tộc”, chỉ khi bị cáo C vào nhà bị cáo mượn thuổng và bảo bị cáo tham gia đào mộ nên bị cáo mới tham gia di dời mộ cùng các bị cáo khác. Do đó, có thể thấy bị cáo C1 thực hiện hành vi phạm tội với vai trò người giúp sức trong vụ án đồng phạm nhưng vai trò không đáng kể nên có căn cứ chuyển sang hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn đối với bị cáo C1 là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo C1, chuyển hình phạt cải tạo không giam giữ cho bị cáo. Xét thấy, bị cáo không có công việc, thu nhập ổn định, bản thân còn phải nuôi 03 con nhỏ nên không khấu trừ thu nhập của bị cáo.
- Tại phiên tòa, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan rút toàn bộ kháng cáo. Việc rút kháng cáo của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là hoàn toàn tự nguyện và không vi phạm điều cấm của luật nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 342, 348 Bộ luật Tố tụng Hình sự đình chỉ việc xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của ông Nguyễn Văn V và anh Nguyễn Văn C2.
- Về án phí phúc thẩm: Kháng cáo của các bị cáo C, B, P, T không được chấp nhận nên các bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Kháng cáo của bị cáo C1 được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điều 356 Bộ luật Tố tụng Hình sự, không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Bùi Văn C, Bùi Văn B, Bùi Văn T, Bùi Thị P, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 123/2023/HSST ngày 23/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình về tội danh và hình phạt đối với các bị cáo. Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Bùi Văn C1, sửa bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo.
- Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Bùi Văn C, Bùi Văn B, Bùi Văn T, Bùi Thị P, Bùi Văn C1 phạm tội “Xâm phạm mồ mả”.
- Về hình phạt:
- Áp dụng khoản 1 Điều 319; Điều 17; Điều 38; Điều 50; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Bùi Văn C 08 (tám) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm 04 (bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 23/11/2023.
- Áp dụng khoản 1 Điều 319; Điều 17; Điều 38; Điều 50; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Bùi Văn B 08 (tám) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm 04 (bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 23/11/2023.
- Áp dụng khoản 1 Điều 319; Điều 17; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Bùi Thị P 07 (bảy) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm 02 (hai) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 23/11/2023.
- Áp dụng khoản 1 Điều 319; Điều 17; Điều 38; Điều 50; điểm i, s, o khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Bùi Văn T 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 23/11/2023.
Giao các bị cáo Bùi Văn C, Bùi Văn B, Bùi Thị P, Bùi Văn T cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện H, tỉnh Thái Bình nơi các bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo theo quy định tại khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
- Áp dụng khoản 1 Điều 319; Điều 17; Điều 36; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 58 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Bùi Văn C1 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ, thời hạn cải tạo tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện H, tỉnh Thái Bình nhận được quyết định thi hành án. Không khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.
Giao bị cáo Bùi Văn C1 cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện H, tỉnh Thái Bình và gia đình để giám sát, giáo dục.
- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 607 Bộ luật Dân sự:
- Buộc các bị cáo C, B, P, T, C1 phải di chuyển ngôi mộ đang tranh chấp đang được chôn cất tại khuôn viên đất nghĩa trang mộ nhà họ B2 về vị trí ban đầu và phải xây dựng lại ngôi mộ theo hiện trạng tương đương với ngôi mộ ban đầu.
- Không chấp nhận yêu cầu của người đại diện theo uỷ quyền của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người đại diện theo uỷ quyền về việc buộc các bị cáo phải bồi thường số tiền là 8.300.000 đồng.
- Không chấp nhận yêu cầu của người đại diện theo uỷ quyền của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan cũng như người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người đại diện theo uỷ quyền về việc yêu cầu các bị cáo phải bồi thường về tổn thất về tinh thần là 18.000.000 đồng.
- Về án phí phúc thẩm: Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, các bị cáo Bùi Văn C, Bùi Văn B, Bùi Văn T, Bùi Thị P mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm. Bị cáo Bùi Văn C1 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án 11/6/2024.
KSND tỉnh Thái Bình; - TAND, VKSND, CA h. Hưng Hà; - Các bị cáo; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - UBND xã Độc Lập; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Đỗ Thị Hà |
Bản án số 39/2024/HSPT ngày 11/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về hình sự phúc thẩm (xâm phạm mồ mả)
- Số bản án: 39/2024/HSPT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Xâm phạm mồ mả)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 11/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bùi Văn Chuyện và các đồng phạm phạm tội Xâm phạm mồ mả
