|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 39/2024/HNGĐ-ST Ngày: 10 - 6 - 2024 “V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Tâm
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Cao Thị Phương Trang.
- Ông Chau Sơn Khánh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Cù Thị Ngọc Hân, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Ông Chau PhoLy - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tri Tôn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 146/2024/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 5 năm 2024 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 72A/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Đặng Thị T, sinh năm 1985, địa chỉ: Tổ F, ấp B, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
2. Bị đơn: Ông Trần Minh V, sinh năm 1982; địa chỉ: Tổ B, khóm F, thị trấn T, huyện T, tỉnh An Giang.
Bà T vắng mặt nhưng có yêu cầu xét xử vắng mặt; ông V có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai ngày 15-4-2024 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Đặng Thị T trình bày:
Về hôn nhân: Bà và ông Trần Minh V là vợ chồng, có đăng ký kết hôn vào ngày 04/4/2012 tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp. Quá trình chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn do ông V không lo làm ăn, chăm sóc vợ con mà chỉ lo chơi nên bà T và ông V đã không còn sống chung từ năm 2019 cho đến nay. Trong khoảng thời gian đó, bà T và ông V không quan tâm, chăm sóc, không gặp nhau. Do tình cảm không còn, hôn nhân không hạnh phúc nên bà T yêu cầu ly hôn với ông V.
Về con chung: Giữa bà và ông V có 02 con chung tên Trần Như Ý, sinh ngày 07/10/2011; Trần Bảo L, sinh ngày 11/01/2013, bà khởi kiện yêu cầu được nuôi hai con chung, nhưng trong quá trình giải quyết vụ án, bà xác định hiện nay các con đang sống với ông nội và ông V, ông nội chăm sóc tốt cho các cháu nên bà T không muốn thay đổi môi trường sống. Vì vậy bà T không yêu cầu giải quyết về con chung. Đến khi các cháu nghỉ hè, bà T có nhiều thời gian gặp và thỏa thuận với ông V về việc nuôi con chung sẽ yêu cầu giải quyết trong vụ án khác.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập ông V đến Tòa án để ghi nhận ý kiến và hòa giải nhưng ông V không đến và không cung cấp lời khai, tài liệu, chứng cứ nào cho Tòa án.
Theo biên bản lấy lời khai ông Trần Văn Ú ngày 16-5-2024, cho biết: Ông là cha ruột của ông V. Bà T và ông V là vợ chồng, hiện nay ông Ú và ông V đang sống tại tổ B, khóm F, thị trấn T, huyện T, tỉnh An Giang. Giữa vợ chồng T và V có 02 con chung tên Trần Như Ý, sinh ngày 07/10/2011; Trần Bảo L, sinh ngày 11/01/2013, hiện tại các cháu đều đang sống với ông Ú và ông V. Quá trình chung sống, bà T và ông V thường xuyên phát sinh mâu thuẫn do ông V chỉ lo đi chơi, không phụ giúp kinh tế gia đình. Từ năm 2016 thì ông V và bà T không còn sống chung, ông V thì về sống với ông Ú, còn bà T thì đi làm xa, từ đó giữa bà T và ông V không liên hệ, không chung sống, không còn quan tâm đến nhau, người nào cũng chỉ lo cho cuộc sống riêng của mình.
Tòa án đã tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Nhưng do ông V vắng mặt nên không tiến hành hòa giải được.
Tại phiên tòa,
Bà T vắng mặt và có yêu cầu xét xử vắng mặt.
Ông V có mặt tại phiên Tòa, ông V xác định giữa ông và bà T không còn sống chung từ lâu, không còn tình cảm nên đồng ý ly hôn. Về con chung, tài sản chung và nợ chung, ông không yêu cầu giải quyết.
Thay mặt Hội đồng xét xử, Thẩm phán công bố toàn bộ tài liệu có trong hồ sơ vụ án.
- Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử: Thẩm phán thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn về thụ lý vụ án, xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ, tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, cấp, tống đạt các văn bản tố tụng cho đương sự, Viện kiểm sát cùng cấp đúng theo quy định; Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng quy định Bộ luật Tố tụng dân sự; Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn có mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn là đảm bảo theo Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn; về con chung: Nguyên đơn, bị đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết; tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Từ những phân tích đề nghị HĐXX xem xét quyết định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa và có yêu cầu xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về nội dung:
[2.1] Bà T và ông V tự nguyện tiến đến hôn nhân và có đăng ký kết hôn ngày 04/4/2012 tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp, theo Giấy chứng nhận kết hôn số 27, ngày 04/4/2012, là hôn nhân hợp pháp, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng.
Theo quy định tại Điều 19 Luật hôn Nhân và gia đình thì vợ chồng phải có nghĩa vụ quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, có nghĩa vụ chung sống với nhau. Tuy nhiên căn cứ vào lời khai của nguyên đơn, biên bản lấy lời khai ông Trần Văn Ú ngày 16-5-2024 và lời khai của bị đơn tại phiên tòa, có cơ sở xác định: Bà T và ông V không còn sống chung từ năm 2019, cả hai không còn tình cảm, ông V đồng ý ly hôn với bà T. Như vậy, cho thấy giữa bà T và ông V đều đang không thực hiện nghĩa vụ vợ chồng, không còn quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ và chung sống với nhau, thống nhất đi đến ly hôn. Nên bà T yêu cầu ly hôn với ông V là có cơ sở chấp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.
[2.2] Về con chung: Giữa bà T và ông V có 02 con chung tên Trần Như Ý, sinh ngày 07/10/2011; Trần Bảo L, sinh ngày 11/01/2013. Bà T, ông V thống nhất không yêu cầu Tòa án giải quy
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét giải quyết.
[3] Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà T phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm. Ông V không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm a khoản 2 Điều 227, Điều 228, khoản 4 Điều 147, Điều 273 và Điều 278 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Đặng Thị T.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Đặng Thị T được ly hôn với ông Trần Minh V.
Về con chung: Có 02 con chung tên Trần Như Ý, sinh ngày 07/10/2011; Trần Bảo L, sinh ngày 11/01/2013. Không yêu cầu giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.
Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Đặng Thị T phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân sơ thẩm đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai số 0012438 ngày 15 tháng 4 năm 2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Tri Tôn. Ông Trần Minh V không phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ông V có quyền kháng cáo. Riêng thời hạn kháng cáo của bà T là 15 ngày để từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt đúng quy.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Đặng Thị Tâm |
Bản án số 39/2024/HNGĐ-ST ngày 10/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 39/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Đặng Thị Tú được ly hôn với ông Trần Minh Vũ.
