Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 39/2024/HS-ST
Ngày: 15/5/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Hiếu

Thẩm phán: Ông Phạm Trung Dũng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Công Sẻ

Ông Trần Văn Việt

Ông Nguyễn Ngọc Cang

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thanh Trúc - Thư ký Tòa án nhân dân.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cúc - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 10 và 15 tháng 5 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 30/2024/HSST ngày 23/02/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 48/2024/HSST-QĐ ngày 25/4/2024 đối với bị cáo:

Phạm Ngọc Bảo C, sinh năm 1991 tại Bà Rịa – Vũng Tàu; Nơi đăng ký thường trú: Ấp A, xã A, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nơi ở hiện tại: Ấp T, xã L, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Kinh doanh tự do; Họ và tên cha: Phạm Ngọc T, sinh năm 1966; Họ và tên mẹ: Lê Đặng Thị Tuyết N, sinh năm 1965; Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con đầu; Họ và tên chồng: Nguyễn Thái H, sinh năm 1989 (đã ly hôn); Có 02 người con, lớn sinh năm 2018, nhỏ sinh năm 2021.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 40/LC-CQCSĐT-ĐTTH ngày 19/7/2023 và Quyết định tạm hoãn xuất cảnh số 49/QĐ-CQCSĐT-ĐTTH ngày 19/7/2023 của Cơ quan CSĐT Công an thị xã P (do bị cáo có con nhỏ dưới 36 tháng tuổi) (Có mặt).

* Người bào chữa cho bị cáo Phạm Ngọc Bảo C1: Ông Huỳnh Ngọc H1 - Luật sư của Văn phòng luật sư Huỳnh Ngọc H1 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh B (có mặt).

* Bị hại: Ông Bạch Quang T1, sinh năm 1975; địa chỉ: A H, phường B, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào năm 2010, ông Bạch Quang T1 (sinh năm 1975, trú tại A H, Phường B, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh) và bà Bạch Thị Sao M (sinh năm 1966; trú tại A L, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh) cùng góp vốn mua thửa đất số 249 tờ bản đồ số 03, diện tích 4803m² toạ lạc tại Ấp E, xã T, thị xã P, tỉnh BR-VT và thoả thuận để bà Bạch Thị Sao M đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số seri BC 454985 do UBND thị xã P cấp ngày 19/8/2010.

Đến tháng 11/2022, bà M và ông T1 thống nhất làm hồ sơ xin chuyển đổi mục đích sử dụng thửa đất trên. Do ít hiểu biết về thủ tục hồ sơ, nên ông T1 đã liên hệ với Phạm Ngọc B C1 là người mà ông T1 quen biết vào năm 2012, khi C1 đang là chuyên viên làm việc tại Phòng Tài nguyên và Môi trường thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu để nhờ C1 giúp đỡ thủ tục, giấy tờ liên quan. C1 đã nghỉ việc vào năm 2021 nhưng ông T1 không biết. Khi được ông T1 nhờ nộp thuế, C1 đồng ý và yêu cầu ông T1 giao toàn bộ hồ sơ, tài liệu liên quan cho C1 để C1 làm thủ tục nộp hồ sơ.

Đến tháng 01/2023, C1 nhắn tin qua mạng Zalo cho ông T1 biết hồ sơ xin chuyển đổi mục đích sử dụng đất của ông T1 đã được UBND thị xã P thông qua, và đã có thông báo nộp thuế. Sau đó, C1 chụp ảnh Thông báo nộp tiền thuế sử dụng đất và lệ phí trước bạ nhà đất số LTB2371709-TK0000523/TB-CCT, LTB2371709-TK0000524/TB-CCT ngày 11/01/2023, của Chi cục Thuế thị xã P với số tiền thuế cần phải nộp là 1.679.800.000 đồng (một tỷ, sáu trăm bảy mươi chín triệu, tám trăm nghìn đồng) gửi ông T1.

Tại thời điểm này, C1 đang đầu tư vào sàn giao dịch ngoại hối (F) bị thua lỗ nên sau khi nhận được thông báo đóng tiền thuế nêu trên và thấy số tiền tương đối lớn, C1 đã nảy sinh ý định chiếm đoạt số tiền này của ông T1 để có tiền tiếp tục đầu tư. C1 đã đưa ra thông tin gian dối về việc bản thân có mối quan hệ thân thiết với ông Ôn Kim N1 (Phó Chi cục trưởng Chi cục Thuế thị xã P) nếu ông T1 đưa tiền để C1 nộp thuế giúp thì sẽ giảm được 40.000.000 đồng. Tin lời C1 nói là thật, ngày 01/02/2023, ông T1 đã chuyển số tiền 1.639.800.000 đồng (một tỷ, sáu trăm ba mươi chín triệu, tám trăm nghìn đồng) vào số tài khoản 76110000707478 ngân hàng B1 của C1. Sau khi nhận được số tiền trên, C1 không đi đóng thuế cho ông T1 mà đã sử dụng toàn bộ số tiền trên của ông T1 đầu tư vào sàn F và đã bị thua lỗ hết.

Sau khi chuyển số tiền trên cho C1 được khoảng 02 tuần, ông T1 không nhận được kết quả đã đến Chi cục thuế thị xã P tìm hiểu và được biết C1 vẫn chưa nộp số tiền trên cho Chi cục T. Ông T1 đã đến Cơ quan Công an trình báo.

Quá trình điều tra, Phạm Ngọc Bảo C1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án (BLĐT số 88-103) .

+ Về trách nhiệm dân sự: Ông Bạch Quang T1 yêu cầu Phạm Ngọc Bảo C1 bồi thường số tiền 1.639.800.000 đồng. Bị cáo chưa bồi thường.

2. Tại Cáo trạng số 30/CT-VKSBRVT-P2 ngày 16/02/2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu truy tố bị cáo Phạm Ngọc Bảo C về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

3. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo Cáo trạng số 30/CT-VKSBRVT-P2 ngày 16/02/2024; trong bản luận tội vị đại diện Viện kiểm sát đã nêu các tình tiết vụ án, tính chất nguy hiểm trong hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bị cáo Phạm Ngọc Bảo C1 phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự. Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và bồi thường khắc phục một phần hậu quả đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đồng thời bị cáo không có tiền án, tiền sự. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Ngọc Bảo C1 mức án từ 12 (mười hai) đến 14 (mười bốn) năm tù.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Bạch Quang T1 yêu cầu Phạm Ngọc Bảo C1 bồi thường số tiền 1.639.800.000 (một tỷ, sáu trăm ba mươi chín triệu, tám trăm nghìn) đồng. Tại phiên toà bị cáo bồi thường 100.000.000 (một trăm triệu) đồng khắc phục một phần hậu quả nên còn lại 1.539.800.000 đồng. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự và Điều 30 Bộ luật Tố tụng hình sự buộc bị cáo bồi thường cho bị hại số tiền 1.539.800.000 (một tỷ, năm trăm ba mươi chín triệu, tám trăm nghìn đồng).

4. Tranh luận và đối đáp tại phiên tòa:

4.1. Luật sư Huỳnh Ngọc H1 phát biểu quan điểm bào chữa cho bị cáo:

Về mặt tội danh: Căn cứ vào các lời khai của bị cáo, các tài liệu và chứng cứ có trong hồ sơ, luật sư đồng ý với đại diện Viện kiểm sát khi truy tố bị cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

Về mức hình phạt: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét thêm hoàn cảnh của bị cáo khó khăn đang nuôi con nhỏ, chưa có tiền án tiền sự, khắc phục một phần hậu quả cho bị hại nên xử phạt bị cáo mức án 12 (mười hai) năm tù.

4.2. Bị cáo Phạm Ngọc Bảo C: Nhất trí với luật sư, không bào chữa bổ sung.

4.3. Bị hại Bạch Quang T1 phát biểu ý kiến:

Tại toà bị cáo trả được 100.000.000 (một trăm triệu) đồng khắc phục một phần hậu quả nên đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

5. Trong lời nói sau cùng, bị cáo thể hiện thái độ ăn năn hối hận, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo có cơ hội sớm trở về làm công dân tốt, có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu và chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, người bào chữa của bị cáo, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác;

[1] Về tố tụng:

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh B, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã tuân thủ nghiêm chỉnh theo thủ tục tố tụng trong việc thu thập chứng cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, bị hại và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử đã có căn cứ xác định nội dung vụ án như sau:

Tháng 11 năm 2022, ông Bạch Quang T1 và bà Bạch Thị Sao M muốn làm hồ sơ xin chuyển đổi mục đích sử dụng thửa đất số 249, tờ bản đồ số 03, diện tích 4803m² tọa lạc tại Ấp E, xã T, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Ông T1 đã liên hệ với Phạm Ngọc Bảo C (là người ông T1 quen biết vào năm 2012, khi C đang là chuyên viên làm việc tại Phòng Tài nguyên và Môi trường thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu), ông T1 không biết năm 2021 C đã nghỉ việc.

Sau khi được ông T1 nhờ chuyển đổi mục đích sử dụng mảnh đất trên, do C đầu tư vào sàn giao dịch ngoại hối (F) bị thua lỗ và khi thấy số tiền mà ông T1 phải nộp thuế lớn, C đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền của ông T1 để tiếp tục đầu tư nên đã đưa ra thông tin gian dối là C vẫn đang công tác tại Phòng Tài nguyên và Môi trường thị xã P. Mặc dù C không có khả năng xin giảm tiền thuế chuyển đổi mục đích sử dụng đất cho ông T1 nhưng C vẫn nói dối ông T1 là C có mối quan hệ thân thiết với ông Ôn Kim N1 (Phó Chi cục trưởng Chi cục Thuế thị xã P) có khả năng xin giảm tiền nộp thuế nếu ông T1 chuyển tiền cho C để C nộp thay. Do tin lời C nói là thật, ông T1 đã chuyển 1.639.800.000 đồng vào tài khoản ngân hàng của C mà không biết thực chất đã bị C lừa dối chiếm đoạt tiêu xài cá nhân.

Do đó, Hội đồng xét xử hoàn toàn có căn cứ quy kết bị cáo Phạm Ngọc Bảo C1 đã phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng số 30/CT-VKSBRVT-P2 ngày 16 tháng 02 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu truy tố bị cáo là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội:

Hành vi phạm tội của bị cáo Phạm Ngọc Bảo C1 là đặc biệt nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của ông Bạch Quang T1. Là công dân trưởng thành, phát triển đầy đủ về thể chất và tinh thần, bị cáo hoàn toàn có đủ khả năng nhận thức được việc làm của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện chiếm đoạt tiền của ông T1 nhằm sử dụng cho mục đích cá nhân. Hành vi của bị cáo thể hiện sự coi thường pháp luật, gây mất trật tự trị an xã hội, gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân. Do đó, cần có mức án phù hợp với tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục đồng thời góp phần đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[4.1] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

[4.2] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bồi thường khắc phục một phần hậu quả và được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo hiện đang là mẹ đơn thân nuôi hai con nhỏ, hoàn cảnh gia đình khó khăn nên Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[5] Về trách nhiệm dân sự:

Tại phiên toà, bị cáo đã bồi thường 100.000.000 (một trăm triệu) đồng. Bị hại xác định số tiền thiệt hại còn lại là 1.539.800.000 đồng và yêu cầu bị cáo tiếp tục bồi thường số tiền trên. Do đó, buộc bị cáo bồi thường cho bị hại số tiền là 1.539.800.000 (một tỷ, năm trăm ba mươi chín triệu, tám trăm nghìn) đồng.

[6] Về án phí:

Bị cáo Phạm Ngọc Bảo C1 phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng và án phí dân sự sơ thẩm là 58.194.000 (năm mươi tám triệu, một trăm chín mươi bốn nghìn đồng) đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố bị cáo Phạm Ngọc Bảo C1 phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Áp dụng: điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt: Phạm Ngọc Bảo C1 12 (mười hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt chấp hành án.

2. Về trách nhiệm dân sự:

Căn cứ Điều 30 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 48 Bộ luật Hình sự;

Buộc bị cáo Phạm Ngọc Bảo C1 bồi thường cho bị hại Bạch Quang T1 số tiền là 1.539.800.000 đồng (một tỷ, năm trăm ba chín triệu, tám trăm nghìn đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải trả cho bên được thi hành án khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án, theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

3. Án phí sơ thẩm:

- Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Phạm Ngọc Bảo C1 nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

- Án phí dân sự sơ thẩm: Bị cáo Phạm Ngọc Bảo C1 nộp 58.194.000 đồng (năm mươi tám triệu, một trăm chín mươi bốn nghìn đồng).

4. Quyền kháng cáo:

Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo yêu cầu Tòa án nhân dân câp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm./.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân cấp cao
  • tại TP. Hồ Chí Minh;
  • - Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh BR-VT;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh BR-VT;
  • - Công an tỉnh BR-VT;
  • - Sở Tư pháp tỉnh BR-VT;
  • - Cục Thi hành án dân sự tỉnh BR-VT;
  • - THAHS tỉnh BR-VT;
  • - Bị cáo, bị hại; người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu (3): Văn phòng, Tòa Hình sự, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thành Hiếu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 39/2024/HS-ST ngày 15/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 39/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Ngọc Bảo C Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger