Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 39/2024/HS-ST

Ngày: 09 – 8 – 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Anh.

Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Mỹ.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đoàn Ngọc Minh.

Ông Nguyễn Việt Trung.

Ông Lê Quang Trí.

- Thư ký phiên tòa:

Bà Phan Thị Kim Loan- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Quốc Thái - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 38/2024/TLST-HS ngày 14/6/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 49/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Đặng Thị Kim T, sinh ngày 27 tháng 5 năm 1971 tại tỉnh Đồng Tháp; giới tính: Nữ; nơi cư trú: Áp A, xã M, huyện L, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp khi phạm tội: Thủ quỹ Cơ quan Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Đồng Tháp kiêm Thủ quỹ Quỹ Hỗ trợ phụ nữ tỉnh Đồng Tháp; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn B, sinh năm 1944 (hy sinh) và con bà Huỳnh Thị B1, sinh năm 1951; có chồng và có 01 con; tiền án: Không; tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam: Ngày 12/9/2023. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại Tạm giam Công an tỉnh Đ (bị cáo có mặt tại phiên tòa).

- Người bào chữa cho bị cáo Đặng Thị Kim T:

Luật sư Đặng Minh T1 – Công ty L thuộc đoàn Luật sư Thành phố H (có mặt).

Địa chỉ: Số A, đường số H, khu phố D, phường H, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị hại:

Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị N, chức vụ: Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Đ (vắng mặt).

- Đại diện theo uỷ quyền của bà Nguyễn Thị N:

Bà Đoàn Kim N1, sinh năm 1987, chức vụ: Phó Ban Xây dựng- Tổ chức Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Đ.

Địa chỉ cư trú: Số F, ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp (theo văn bản uỷ quyền ngày 08/8/2024) (có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1976 (có đơn xin vắng mặt).

Địa chỉ: Tổ D, khóm E, phường F, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

2/ Bà Nguyễn Thị Thanh B2, sinh năm 1978 (có mặt).

Địa chỉ: Số G, đường P, khóm M, phường M, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

3/ Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1979 (có mặt).

Địa chỉ: Số I, đường L, ấp H, xã H, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

4/ Bà Nguyễn Thanh H1, sinh năm 1969 (có mặt).

Địa chỉ: Tổ D, khóm E, phường F, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

5/ Bà Bùi Thị P, sinh năm 1981 (có mặt).

Địa chỉ: Tổ F, ấp A, xã M, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

6/ Bà Võ Thị Thu T2, sinh năm 1972 (có mặt).

Địa chỉ: Số C C, đường N, tổ I, ấp H, xã H, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

7/ Bà Cao Thị Thủy T3, sinh năm 1987 (có mặt).

Địa chỉ: Số E, đường C, phường A, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

8/ Bà Huỳnh Thị Thúy H2, sinh năm 1988 (có mặt).

Địa chỉ: Số H, đường Đ, xã M, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

9/ Bà Thân Thị Hồng T4, sinh năm 1985 (có mặt).

Địa chỉ: Ấp B, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.

10/ Bà Võ Thị Hồng N2, sinh năm 1995 (có mặt).

Địa chỉ: Số A, đường B, ấp H, xã H, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

11/ Ông Nguyễn Long V, sinh năm 1989 (có mặt).

Địa chỉ: Số C, đường N, khóm T, phường H, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

12/ Bà Ngô Thị Hồng G, sinh năm 1982 (có mặt).

Địa chỉ: Số B, đường T, ấp H, xã H, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

13/ Ông Dương Anh T5, sinh năm 1972 (có mặt).

Địa chỉ: Ấp A, xã M, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Đ là cơ quan tham mưu, giúp việc cho Đảng đoàn, Ban Chấp hành mà trực tiếp, thường xuyên là Ban Thường vụ Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Đ lãnh đạo, chỉ đạo công tác Hội; đồng thời là cơ quan chuyên môn, nghiệp vụ về công tác hội theo Điều lệ Hội L và các quy định của Đảng, Nhà nước có liên quan. Tài sản cơ quan được hình thành từ các nguồn: Tài sản Nhà nước giao, mua sắm từ ngân sách Nhà nước hoặc có nguồn gốc từ ngân sách Nhà nước; từ quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp, quỹ phúc lợi; viện trợ của Chính phủ, các tổ chức nước ngoài, các dự án, chương trình, tài sản do cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước biếu tặng; tài sản khác được xác lập sở hữu Nhà nước.

Quỹ hỗ trợ phụ nữ nghèo, nay là Quỹ hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế tỉnh Đồng Tháp là chương trình, dự án tài chính vi mô của Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Đ, được thực hiện các hoạt động hỗ trợ phụ nữ, tạo việc làm và tăng thu nhập thông qua các hoạt động tiếp cận nguồn vốn; lồng ghép với hỗ trợ kỹ thuật và liên kết thị trường cải thiện đời sống, phát triển kinh tế xóa đói giảm nghèo. Quỹ hoạt động vì sự phát triển của phụ nữ, không vì mục tiêu lợi nhuận trên nguyên tắc tự trang trải về tài chính, có tư cách pháp nhân, con dấu và tài khoản riêng. Quỹ được thành lập từ nguồn vốn không hoàn lại của tổ chức phi Chính phủ và

tự tạo vốn trên cơ sở các nguồn vận động quyên góp, vận động tài trợ của các cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước và các hoạt động khác theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Đặng Thị Kim T công tác tại Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Đ từ năm 1997 đến tháng 6 năm 2023 thì xin nghỉ việc. Nhiệm vụ được phân công như sau:

- Từ tháng 5 năm 2010 đến năm 2012 là Thủ quỹ Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Đồng Tháp.

- Từ năm 2012 đến tháng 5 năm 2022 là Thủ quỹ Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Đồng Tháp kiêm Thủ quỹ Quỹ hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế tỉnh Đồng Tháp.

Với trách nhiệm Thủ quỹ, bị cáo T có nhiệm vụ quản lý tiền mặt các nguồn quỹ và được Lãnh đạo Hội Liên hiệp Phụ nữ Tỉnh ủy quyền, giao đứng tên cá nhân các Sổ tiết kiệm có kỳ hạn và thực hiện các giao dịch liên quan đến tiền gửi tiết kiệm tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

Trong quá trình công tác, từ tháng 02/2018 đến tháng 5/2022, lợi dụng nhiệm vụ được phân công là quản lý các nguồn quỹ tiền mặt, đứng tên Sổ tiết kiệm và thực hiện các giao dịch liên quan đến tiền gửi tiết kiệm tại Ngân hàng, bị cáo T đã nhiều lần chiếm đoạt tiền của Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Đồng Thap và Q hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế tỉnh Đồng Tháp tổng cộng là 3.028.376.947 đồng, bao gồm:

1/ Chiếm đoạt tiền mặt của 10 nguồn quỹ 1.094.171.247 đồng:

Tiền mặt được cất giữ trong két sắt tại đơn vị, bị cáo T là người giữ chìa khóa và mật khẩu, nên khi cần tiền thì bị cáo tự ý mở két sắt lấy tiền sử dụng. Số tiền chiếm đoạt của 10 nguồn quỹ cụ thể như sau:

  1. (1) Quỹ khuyến học: 246.506.880 đồng.
  2. (2) Trung ương Hội hỗ trợ thực hiện Đề án phụ nữ học nghề, tạo việc làm: 230.653.300 đồng.
  3. (3) Trung ương Hội hỗ trợ thực hiện Dự án nâng cao năng lực phụ nữ ứng phó biến đổi khí hậu: 80.000.000 đồng.
  4. (4) Đề án 939 (Hỗ trợ phụ nữ 08 xã biên giới khởi nghiệp): 399.710.000 đồng.
  5. (5) Chương trình máy lọc nước: 30.101.000 đồng.
  6. (6) Cây mùa xuân chiến sĩ: 33.406.000 đồng.
  1. (7) Heo đất khuyến học: 1.048.447 đồng.
  2. (8) Quỹ khen thưởng: 18.790.000 đồng.
  3. (9) Phí ủy thác Ngân hàng: 8.290.040 đồng.
  4. (10) Quỹ phúc lợi: 45.665.580 đồng.

2/ Chiếm đoạt tiền gửi của 10 Sổ tiết kiện 1.934.205.700 đồng:

Tiền tiết kiệm được gửi tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn thành phố C. Bị cáo T là người được ủy quyền đứng tên Sổ tiết kiệm và thực hiện các giao dịch liên quan đến tiền gửi tiết kiệm, nên khi cần tiền thì bị cáo T trực tiếp đến Ngân hàng làm thủ tục rút tiền gốc và lãi phát sinh. Số tiền chiếm đoạt của 10 Sổ tiết kiệm cụ thể như sau:

  • 04 Sổ tiết kiệm nguồn quỹ Trung ương Hội là 182.008.600 đồng.
  • 01 Sổ tiết kiệm nguồn quỹ khuyến học là 106.657.500 đồng.
  • 01 Sổ tiết kiệm nguồn quỹ Công đoàn là 75.191.100 đồng.
  • 04 Sổ tiết kiệm của Quỹ hỗ trợ phụ nữ tỉnh là 1.570.348.500 đồng.

Trong số tiền chiếm đoạt 3.028.376.947 đồng, với vai trò là Thủ quỹ của Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Đồng Tháp, bị cáo T đã chiếm đoạt của Hội Liên hiệp Phụ nữ Tỉnh số tiền 1.458.028.447 đồng; còn với vai trò là Thủ quỹ của Q hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế tỉnh Đồng Tháp, thì bị cáo T đã chiếm đoạt của Quỹ này số tiền 1.570.348.500 đồng.

Bị cáo T khai nhận số tiền chiếm đoạt được (3.028.376.947 đồng) bị cáo sử dụng vào việc tiêu xài cá nhân, trang trải chi phí sinh hoạt trong gia đình như: Ăn uống, đi lại, học hành, điều trị bệnh, đám tiệc, hiếu hỷ và trả lãi ngân hàng,... nhưng không nhớ cụ thể số tiền chi của từng khoản là bao nhiêu vì không có sổ sách theo dõi.

Khi bị Đoàn kiểm tra của Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy Đ2 phát hiện chiếm đoạt số tiền 3.028.376.947 đồng, bị cáo T đã nộp 970.000.000 đồng, một số cán bộ của Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Đ góp lại cho bị cáo T mượn 2.058.376.947 đồng để nộp khắc phục toàn bộ hậu quả 3.028.376.947 đồng nêu trên.

Trong quá trình điều tra, bị cáo T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tại Cáo trạng số 19/CT-VKSĐT-P1 ngày 13 tháng 6 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp đã truy tố bị cáo Đặng Thị Kim T về tội “Tham ô tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 353 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Đặng Thị Kim T khai nhận bị cáo là Thủ quỹ của Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Đ kiêm Thủ quỹ của Quỹ hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế tỉnh Đồng Tháp. Lợi dụng nhiệm vụ được giao trực tiếp quản lý các nguồn quỹ tiền mặt và tiền gửi tiết kiệm ở Ngân hàng, từ ngày 23/02/2018 đến ngày 18/5/2022 bị cáo T đã chiếm đoạt của Hội Liên hiệp Phụ nữ Tỉnh và Q hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế tỉnh Đồng Tháp số tiền 3.028.376.947 đồng để sử dụng tiêu xài cá nhân, trang trải chi phí sinh hoạt trong gia đình, trả lãi ngân hàng, ... Bị cáo khai nhận chỉ một mình bị cáo thực hiện hành vi chiếm đoạt số tiền trên, không có người khác chỉ đạo, xúi giục, giúp sức, tạo điều kiện hoặc cùng với bị cáo thực hiện hành vi chiếm đoạt; số tiền chiếm đoạt được ngoài bị cáo sử dụng với mục đích trên, thì không người nào khác trong đơn vị Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Đồng Tháp được chia hay hưởng lợi. Khi bị Đoàn kiểm tra của Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy Đ2 phát hiện hành vi sai phạm, bị cáo đã tự nguyện khắc phục toàn bộ hậu quả (bằng nguồn tiền của cá nhân là 970.000.000 đồng và tiền mượn của người khác là 2.058.376.947 đồng). Bị cáo thừa nhận Cáo trạng số 19/CT-VKSĐT-P1 ngày 13/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp truy tố bị cáo phạm tội “Tham ô tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 353 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, bị cáo thừa nhận phạm vào tội danh nêu trên.

Tại phiên tòa, đại diện bị hại thừa nhận nội dung truy tố của Cáo trạng, thừa nhận số tiền bị bị cáo chiếm đoạt là 3.028.376.947 đồng và thừa nhận bị cáo đã nộp lại toàn bộ số tiền chiếm đoạt để khắc phục hậu quả khi Uỷ ban Kiểm tra Tỉnh uỷ đến làm việc; đại diện bị hại tiếp tục xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo T.

Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan thống nhất theo nội dung truy tố của Cáo trạng, giữ nguyên các lời khai tại quá trình điều tra, không có ý kiến khác.

Tại phiên tòa sơ thẩm, khi công bố Cáo trạng, Kiểm sát viên đính chính Cáo trạng do có sơ xuất trong khâu đánh máy nên số tiền những người khác cho T mượn để khắc phục hậu quả ghi tại trang 3 của Cáo trạng là 2.057.376.974 đồng là chưa đúng, đính chính đúng lại là 2.058.376.974 đồng và Kiểm sát viên giải thích Cáo trạng là ngoài những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được nêu trong vụ án cho bị cáo T mượn tiền để khắc phục hậu quả được Cáo trạng đề cập, thì còn có những người khác cũng cho bị cáo T mượn tiền. Bị cáo T, đại diện bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thống nhất với phát biểu đính chính và giải thích Cáo trạng của Kiểm sát viên.

Trong phát biểu luận tội, Kiểm sát viên phân tích hành vi của bị cáo T và nhận định bản thân bị cáo Đặng Thị Kim T là người được giao làm Thủ quỹ của Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Đồng Tháp kiêm Thủ quỹ của Quỹ hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế tỉnh Đồng Tháp, bị cáo là người có trách nhiệm quản lý các nguồn quỹ tiền mặt, được uỷ quyền đứng tên Sổ tiết kiệm và thực hiện các giao dịch liên quan đến tiền gửi tiết kiệm tại Ngân hàng. Bị cáo T đã lợi dụng các điều kiện trên nhiều lần chiếm đoạt tiền của Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Đồng Tháp và Q hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế tỉnh Đồng Tháp tổng cộng là 3.028.376.947 đồng. Hành vi của bị cáo đủ cơ sở cấu thành tội “Tham ô tài sản” được quy định tại điểm a khoản 4 Điều 353 Bộ luật Hình sự.

Kiểm sát viên nhận định do bị cáo T nhiều lần thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản, mỗi lần đều đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết tặng nặng “phạm tội 02 lần trở lên” được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.

Kiểm sát viên cho rằng trong vụ án này bị cáo T đã bồi thường thiệt hại, khắc phục được toàn bộ hậu quả, hoàn trả cho bị hại toàn bộ 3.028.376.947 đồng trước khi bị khởi tố; từ khi điều tra cho đến xét xử tại phiên tòa sơ thẩm, thì bị cáo đều thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về việc làm sai trái của mình; bị cáo tích cực hợp tác với Cơ quan điều tra trong quá trình giải quyết vụ án; bị cáo có thành tích xuất sắc trong công tác; bị cáo là con của Liệt sĩ Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điểm b, s, t, v, x khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Kiểm sát viên còn nhận định bị cáo T có bà nội ruột là Bà mẹ Việt Nam Anh Hùng, bị cáo được đại diện bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo chấp hành tốt chính sách pháp luật tại địa phương và có tham gia đóng góp xây dựng cầu đường, phúc lợi được Ủy ban nhân dân xã M, huyện L xác nhận, nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự và Điều 5 Nghị quyết số 03/2020/NQ-HĐTP ngày 30/12/2020 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Hình sự trong xét xử tội phạm tham nhũng và tội phạm khác về chức vụ để áp dụng chính sách khoan hồng của Nhà nước, giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo.

Từ đó, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đặng Thị Kim T phạm tội “Tham ô tài sản”. Đề nghị áp dụng điểm a khoản 4 Điều 353; các

điểm b, s, t, v, x khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 54 của Bộ luật Hình sự và Điều 5 Nghị quyết số 03/2020/NQ-HĐTP ngày 30/12/2020 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao xử phạt bị cáo Đặng Thị Kim T mức án từ 10 năm tù đến 12 năm tù.

Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo do bị cáo đã nghỉ việc, hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn.

Kiểm sát viên nhận định bị cáo không có hành vi che giấu, chuyển hoá nguồn tiền chiếm đoạt thành tiền hợp pháp bằng các hoạt động khác nên không có dấu hiệu của hành vi rửa tiền.

Về trách nhiệm dân sự, vì bị cáo Đặng Thị Kim T đã bồi thường toàn bộ số tiền chiếm đoạt cho bị hại, bị hại không còn yêu cầu, nên Viện kiểm sát không đề nghị giải quyết.

Đối với những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án là: Nguyễn Thị HNguyễn Thị Thanh B2Cao Thị Thủy T3Huỳnh Thị Thúy H2Võ Thị Thu T2Nguyễn Thị C, Nguyễn Thanh H1 không phải là đồng phạm với bị cáo. Tuy nhiên, bà H, bà B2, bà Thủy T3, bà Thúy H2, bà T2, bà C và bà H1 chưa thực hiện đúng chức trách, nhiệm vụ được giao, chưa thực hiện đúng quy định về quản lý, kiểm tra các nguồn quỹ bị chiếm đoạt. Vi phạm của bà Nguyễn Thị H đã bị xử lý kỷ luật Đảng bằng hình thức “khiển trách”. Vi phạm của bà B2 đã bị kỷ luật Đảng và chính quyền bằng hình thức “cảnh cáo”. Vi phạm của bà Thủy T3 đã bị kỷ luật về Đảng và chính quyền bằng hình thức “khiển trách”. Vi phạm của bà H2 đã bị kỷ luật về Đảng bằng hình thức “khiển trách”. Vi phạm của bà T2 đã bị xử lý kỷ luật về Đảng và chính quyền bằng hình thức “cảnh cáo”. Vi phạm của bà C và bà H1 đã bị xử lý kỷ luật về Đảng và chính quyền bằng hình thức “khiển trách”.

Kiểm sát viên cho rằng việc xử lý kỷ luật bằng các hình thức nêu trên là phù hợp, hậu quả thiệt hại cũng đã được khắc phục xong nên Viện kiểm sát không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với những người nêu trên.

Đố vớNguyễn Long V Võ Thị Hồng N2 Thân Thị Hồng T4làm kế toán chirong khoảng thời gian ngắn sau khi Huỳnh Thị Thúy H2nghỉviệc, sau đóNguyễn Long V, Võ Thị Hồng N2 cũng nghỉ việc. Do trước đó không bàn giao quỹ tiền mặt nên không xác định được trách nhiệm nên Viện kiểm sát không đề nghị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm, Luật sư Đặng Minh T1 bào chữa cho bị cáo Đặng Thị Kim T phát biểu: Luật sư thống nhất với quan điểm của Viện kiểm sát về tội

danh đã truy tố đối với bị cáo. Nếu xét về lý thì bị cáo vi phạm pháp luật, nhưng xét về tình thì có nhiều điều đáng nói: Bị cáo T không dùng số tiền chiếm đoạt này sử dụng vào mục đích trái pháp luật mà để chi tiêu cho cá nhân và gia đình; bị cáo khắc phục toàn bộ hậu quả trước khi có quyết định khơi tố vụ án hình sự. Trong vụ án này, bị cáo T có 05 tình tiết giảm nhẹ tại các điểm b, s, t, v, x khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo được đại diện bị hại xin giảm hình phạt, chính quyền địa phương xác nhận bị cáo là công dân gương mẫu có đóng góp cho địa phương. Bị cáo là con duy nhất của Liệt sĩ Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, có mẹ già trên 70 tuổi, nên Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử lưu ý giảm hình phạt cho bị cáo. Luật sư đồng quan điểm với Viện kiểm sát về áp dụng các căn cứ pháp luật để giảm hình phạt cho bị cáo. Luật sư đề nghị bị cáo T có một lời xin lỗi các chị em trong Hội Liên hiệp Phụ nữ Tỉnh, các chị em vì hành vi vi phạm của bị cáo mà bị kỷ luật Đảng, chính quyền, đề nghị bị cáo hứa là sớm hoàn trả cho các chị em trong cơ quan các khoản tiền đã mượn để khắc phục hậu quả. Cuối cùng, Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo T ở mức thấp nhất, nếu được thì giảm xuống thấp hơn mức hình phạt mà Kiểm sát viên đề nghị.

Tại phần tranh luận, bị cáo Đặng Thị Kim T không tham gia tranh luận; đại diện bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, riêng ông Dương Anh T5 hứa cố gắng hoàn trả các khoản tiền mà bị cáo đã mượn để khắc phục hậu quả.

Trong lời nói sau cùng, bị cáo T phát biểu xin lỗi các chị em trong Cơ quan Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Đồng Tháp, xin lỗi những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm về với gia đình, chăm sóc mẹ già, hòa nhập cộng đồng, có cơ hội làm lại cuộc đời và để kiếm tiền trả cho những người có liên quan trong vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng trong vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Đ, Điều tra viên; Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Từ khi khởi tố vụ án cho đến

tại phiên tòa sơ thẩm những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Xét thấy, các hành vi, quyết định tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Toà án xác định bà Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị Thanh B2, Nguyễn Thị C, Nguyễn Thanh H1, Bùi Thị P, Võ Thị Thu T2, Cao Thị Thủy T3, Huỳnh Thị Thúy H2, Thân Thị Hồng T4, Võ Thị Hồng N2, Nguyễn Long V, Ngô Thị Hồng G, Dương Anh T5 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án do có liên quan đến hành vi chiếm đoạt của bị cáo. Việc những người có liên quan trong vụ án và những người khác cho bị cáo T mượn tiền để khắc phục hậu quả là thoả thuận riêng, nếu sau này các bên không tự giải quyết được mà có phát sinh tranh chấp và có yêu cầu thì sẽ được Toà án giải quyết bằng vụ án khác theo quy định của pháp luật.

[3] Xét thấy, tại phiên tòa lời khai thừa nhận thực hiện hành vi của bị cáo Đặng Thị Kim T phù hợp với nội dung truy tố của Cáo trạng, phù hợp với lời khai của đại diện bị hại Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Đồng Tháp, lời khai của những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, phù hợp với chứng từ kế toán, tài liệu giao dịch tiền gửi ngân hàng, kết luận kiểm tra, biên bản đối chiếu số tiền chiếm đoạt và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Vì vậy có đủ cơ sở xác định bị cáo Đặng Thị Kim T với nhiệm vụ được phân công là thủ quỹ quản lý quỹ tiền mặt của đơn vị. Do tiền mặt được cất giữ trong két sắt tại đơn vị, bị cáo T là người duy nhất giữ chìa khoá và biết mật khẩu, nên khi cần tiền thì bị cáo mở két sắt lấy tiền, chiếm đoạt nhiều lần từ năm 2020 đến năm 2022, có lần sau khi chiếm đoạt thì hoàn trả và tiếp tục chiếm đoạt, dẫn đến có tới 10 nguồn quỹ bị bị cáo chiếm đoạt với tổng số tiền là 1.094.171.247 đồng.

Với nhiệm vụ được Lãnh đạo đơn vị giao đứng tên cá nhân trên các sổ tiết kiệm gửi tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thành phố C, được thực hiện các giao dịch, nên khi cần tiền thì bị cáo trực tiếp đến Ngân hàng làm thủ tục rút tiền gốc, lãi và chiếm đoạt, từ năm 2018 đến năm 2022 bị cáo đã chiếm đoạt 10 sổ tiết kiệm với tổng số tiền là 1.934.205.700 đồng.

Như vậy, khi được phân công làm Thủ quỹ cơ quan Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Đồng Tháp và làm Thủ quỹ Quỹ Hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế tỉnh Đồng Tháp, thì bị cáo T đều thực hiện hành vi chiếm đoạt, cụ thể như sau:

(1) Với vai trò là thủ quỹ cơ quan Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Đồng Tháp, bị cáo T chiếm đoạt của Hội tổng số tiền là 1.458.028.447 đồng, gồm:

trong đó:

  • Chiếm đoạt 10 nguồn quỹ tiền mặt, tổng số tiền là 1.094.171.247 đồng,
  • Quỹ khuyến học 246.506.880 đồng, do mạnh thường quân đóng góp.
  • Quỹ Trung ương Hội: 230.653.300 đồng, thực hiện đề án hỗ trợ phụ nữ học nghề, tạo việc làm 2010- 2015.
  • Quỹ Trung ương Hội: 80.000.000 đồng, thực hiện dự án nâng cao năng lực phụ nữ ứng phó biến đổi khí hậu.
  • Đề án 939: 399.710.000 đồng, Ngân sách Nhà nước cấp theo kế hoạch số 57/KH-UBND ngày 08/3/2018 của Ủy ban nhân dân tỉnh Đ2 thực hiện Đề án hỗ trợ phụ nữ khởi nghiệp giai đoạn 2017-2025 (ưu tiên phụ nữ nông thôn 8 xã biên giới).
  • Chương trình máy lọc nước: 30.101.000 đồng do tổ chức Uniliver tài trợ.
  • Cây mùa xuân chiến sĩ 33.406.000 đồng, vận động đóng góp từ các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân.
  • Heo đất khuyến học: 1.048.447 đồng do mạnh thường quân đóng góp.
  • Khen thưởng: 18.790.000 đồng nhận được từ các danh hiệu thi đua khen thưởng.
  • Phí uỷ thác 8.290.040 đồng do Ngân hàng chi trả khi phối hợp thực hiện.
  • Quỹ phúc lợi: 45.665.580 đồng, trích từ phí uỷ thác và quỹ hỗ trợ.
  • Chiếm đoạt tiền gửi trong 06 sổ tiết kiện, tổng số tiền là 363.857.200 đồng, trong đó:
  • 04 sổ tiết kiệm nguồn quỹ Trung ương Hội 182.008.600 đồng. Thực hiện đề án hỗ trợ phụ nữ học nghề, tạo việc làm năm 2010- 2015.
  • 01 sổ tiết kiệm nguồn quỹ khuyến học: 106.657.500 đồng.
  • 01 sổ tiết kiệm nguồn quỹ công đoàn: 75.191.100 đồng.

(2) Với vai trò là Thủ quỹ Quỹ Hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế tỉnh Đồng Tháp: Bị cáo T chiếm đoạt tiền gửi trong 04 sổ tiết kiệm của Quỹ Hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế tỉnh Đồng Tháp tổng số tiền là 1.570.348.500 đồng.

Xét thấy, hành vi của bị cáo là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến hậu quả làm cho bị hại Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Đồng Tháp mất đi số tiền 3.028.376.947 đồng mà Hội có trách nhiệm quản lý và sử dụng theo chức năng, nhiệm vụ mà

pháp luật quy định, làm thất thoát ngân sách Nhà nước.

[4] Hành vi của bị cáo Đặng Thị Kim T đã xâm hại đến hoạt động đúng đắn của Cơ quan Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Đ; làm cho hoạt động của Cơ quan này suy yếu, mất uy tín; đồng thời, hành vi của bị cáo còn xâm phạm quyền quản lý, sử dụng tài sản của Cơ quan Hội mà pháp luật quy định.

[5] Bị cáo Đặng Thị Kim T được Cơ quan Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Đồng Tháp phân công vị trí công tác là thủ quỹ cơ quan, có nhiệm vụ quản lý tiền mặt, đại diện cơ quan đứng tên các sổ tiết kiệm tại Ngân hàng, thực hiện các giao dịch đối với các khoản tiết kiệm này vì lợi ích của Cơ quan. Bị cáo là người có quyền hạn, nhưng bị cáo đã lợi dụng quyền hạn được giao chiếm đoạt tiền của Cơ quan sử dụng vào mục đích cá nhân. Khi thực hiện hành vi, bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, chỉ vì động cơ muốn nhanh chóng có tiền để sử dụng vào mục đích tiêu xài cá nhân, trang trải sinh hoạt gia đình mà không phải lao động vất vả, bất chấp pháp luật nên bị cáo nhiều lần thực hiện hành vi chiếm đoạt tiền của Cơ quan Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Đồng Tháp.

[6] Bị cáo T thực hiện hành vi của mình với lỗi cố ý trực tiếp. Bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó là sẽ làm thất thoát tài sản của Cơ quan nhưng bị cáo vẫn mong muốn hậu quả xảy ra.

[7] Từ những phân tích nêu trên, có đủ cơ sở để khẳng định hành vi của bị cáo Đặng Thị Kim T đã cấu thành tội “Tham ô tài sản” được quy định tại điểm a khoản 4 Điều 353 Bộ luật Hình sự.

Tại điểm a khoản 4 Điều 353 Bộ luật Hình sự quy định như sau:

“1. Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

...

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 1.000.000.000 đồng trở lên;

b) ...

5. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm, có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.

Xét thấy, hành vi phạm tội của bị cáo T là nguy hiểm cho xã hội và tội phạm mà bị cáo thực hiện là đặc biệt nghiêm trọng. Hiện nay, tham nhũng được xem là quốc nạn, tội phạm tham nhũng luôn ưu tiên là mục tiêu đấu tranh để loại trừ ra khỏi đời sống xã hội. Do đó, cần thiết phải áp dụng một mức hình phạt nghiêm đối với bị cáo, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích và răn đe, phòng ngừa chung. Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xét thấy:

- Về nhân thân: Bị cáo Đặng Thị Kim T có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo đã bồi thường toàn bộ thiệt hại, khắc phục toàn bộ hậu quả, trả lại cho bị hại số tiền 3.028.376.947 đồng trước khi khởi tố vụ án, nên Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo.

Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải trong quá trình điều tra và xét xử tại phiên toà sơ thẩm, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong quá trình giải quyết vụ án, nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo được Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Đ2 tặng Bằng khen về thành tích hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ các năm 2014, 2015; được Ban Thường vụ Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Đồng Tháp tặng bằng khen về thành tích xuất sắc trong hoạt động Hội và phong trào phụ nữ các năm 2017, 2018; được công nhận danh hiệu “Chiến sĩ thi đua cơ sở” các năm 2008, 2009, 2013, 2014, 2016. Vì bị cáo có thành tích xuất sắc trong công tác nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm v khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo là con của Liệt sĩ Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Đặng Văn B, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm x khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Bác ruột của bị cáo là Liệt sĩ Đặng Văn H3; Bà nội của bị cáo là cụ Nguyễn Thị T6 được Nhà nước truy tặng danh hiệu Bà Mẹ Việt Nam Anh Hùng; đại diện Cơ quan bị hại Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Đồng Tháp xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; Ủy ban nhân dân xã M, huyện L, tỉnh Đồng Tháp xác nhận bị cáo là công dân chấp hành tốt chủ trương chính sách của địa phương, có đóng góp xây dựng

cầu, đường và các phúc lợi xã hội, nên Hội đồng xét xử ghi nhận các nội dung trên đây là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo nhiều lần thực hiện hành vi chiếm đoạt, mỗi lần đều đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên bị cáo thuộc trường hợp “phạm tội 02 lần trở lên”, đây là tình tiết tăng nặng mà Hội đồng xét xử áp dụng đối với bị cáo theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

[8] Mặc dù hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm, chiếm đoạt số tiền đặc biệt lớn. Tuy nhiên Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có rất nhiều tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điểm b, s, t, v, x khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự nhưng chỉ có 01 tình tiết tăng nặng quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự như đã phân tích ở trên, trong đó đáng chú ý là việc bị cáo khắc phục xong toàn bộ hậu quả trước khi có quyết định khởi tố vụ án, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo xuất thân trong gia đình giàu truyền thống cách mạng, có cha là Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, cha và bác đều hy sinh vì sự nghiệp giải phóng đất nước, bị cáo là con duy nhất, hiện nay còn mẹ già cần bị cáo chăm sóc. Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng quy định tại điểm d khoản 1 Điều 3; Điều 54 của Bộ luật Hình sự và Điều 5 Nghị quyết số 03/2020/NQ-HĐTP ngày 30/12/2020 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Hình sự trong xét xử tội phạm tham nhũng và tội phạm khác về chức vụ để áp dụng chính sách khoan hồng của pháp luật, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

[9] Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo đã nghỉ việc và có hoàn cảnh khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[10] Về trách nhiệm dân sự: Do bị cáo Đặng Thị Kim T đã bồi thường toàn bộ số tiền chiếm đoạt cho bị hại, quá trình xét xử không phát sinh yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.

[11] Quá trình điều tra cũng như xét hỏi tại phiên toà, bị cáo T khai sử dụng số tiền chiếm đoạt để tiêu xài cá nhân, trang trải chi phí sinh hoạt trong gia đình như ăn uống, đi lại, học hành, điều trị bệnh, đám tiệc, hiếu hỷ, trả lãi ngân hàng... nhưng không nhớ cụ thể số tiền sử dụng từng trường hợp là bao nhiêu, không có sổ theo dõi; không sử dụng vào hoạt động kinh doanh.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Dương Anh T5 là chồng của bị cáo T trong quá trình điều tra, xét hỏi tại phiên toà đã có lời khai và qua xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện Cửa hàng Vật tư Nông nghiệp

Kim Ngân hoạt động theo Giấy chứng nhận đăng ký Hộ kinh doanh số 51.1.8006410 được Phòng Tài chính kế hoạch huyện L cấp đăng ký lần đầu ngày 18/02/2016, vốn kinh doanh 100.000.000 đồng do ông Dương Anh T5 làm đại diện, ngành nghề kinh doanh: Mua bán phân bón, thuốc bảo vệ thực vật. Trong suốt quá trình hoạt động, Cửa hàng Vật tư nông nghiệp Kim N3 không thay đổi đăng ký kinh doanh, kể cả thay đổi về vốn. Nguồn vốn kinh doanh: Tiền tích luỹ từ gia đình; vay tiền Ngân hàng V1- Phòng G1 02 hồ sơ gồm: Vợ chồng bị cáo T đứng tên và vợ chồng Hà Thị Đ- Dương Văn B3 (em ruột ông T5) đứng tên giùm; bán tài sản (đất tại thành phố C mua từ khoảng năm 2010).

Mọi hoạt động của Cửa hàng Vật tư nông nghiệp Kim N3 do ông T5 quản lý, điều hành; bị cáo T là người cất giữ tiền bán hàng. Trong hoạt động kinh doanh, cân đối số tiền bán hàng thu được, ông T5 yêu cầu bị cáo T đưa tiền để mua vật tư nông nghiệp bán lại cho người khác; do thua lỗ và khách hàng nợ tiền chưa thanh toán nên dẫn đến không còn vốn hoạt động.

- Năm 2020, vợ chồng bị cáo T vay vốn tại Ngân hàng V2- Phòng G1 số tiền 480.000.000 đồng, tài sản thế chấp là 02 quyền sử dụng đất của bà Huỳnh Thị B1 (mẹ ruột bị cáo T), vay đáo hạn mỗi năm 01 lần. Ngày 22/4/2024, ông T5 tất toán hợp đồng vay từ việc bán đất của gia đình.

- Năm 2021, vợ chồng Hà Thị ĐDương Văn B3 đứng tên hồ sơ vay vốn dùm cho vợ chồng bị cáo T- ông Dương Anh T5 tại Ngân hàng V2- Phòng G1, số tiền 700.000.000 đồng, tài sản thế chấp là 03 quyền sử dụng đất của ông Dương Văn Đ1 (cha ruột ông T5), vay đáo hạn mỗi năm một lần, hiện chưa tất toán.

Qua kết quả điều tra và xét xử tại phiên toà chưa có cơ sở xác định bị cáo T sử dụng tiền chiếm đoạt tại Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Đ rồi đưa vào hoạt động đầu tư, kinh doanh của Cửa hàng Vật tư nông nghiệp Kim Ngân hoặc mua sắm, chuyển dịch tài sản để che giấu nguồn gốc số tiền chiếm đoạt. Vì vậy không có dấu hiệu của hành vi rửa tiền.

[12] Đối với Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Đ và Chủ tịch Hội đồng quản lý Quỹ Hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế tỉnh Đồng Tháp:

Nguyễn Thị H, nguyên Chủ tịch Hội L và Chủ tịch Hội đồng quản lý Quỹ Hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế tỉnh Đồng Tháp giai đoạn từ tháng 01/2016 đến tháng 7/2018 và bà Nguyễn Thị Thanh B2, nguyên Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Tỉnh và Chủ tịch Hội đồng quản lý Quỹ Hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế tỉnh Đồng Tháp giai đoạn từ tháng 8/2018 đến tháng 02/2024.

Với vai trò người đứng đầu đơn vị, bà H và bà B2 đã không tổ chức tiến hành kiểm tra quỹ tiền mặt và tiền gửi tiết kiệm theo định kỳ; ủy quyền cho bị cáo T đứng tên Sổ tiết kiệm và thực hiện các giao dịch liên quan đến tiền gửi tiết kiệm tại Ngân hàng, từ đó không kịp thời phát hiện việc bị cáo T chiếm đoạt tiền quỹ của đơn vị. Kết quả điều tra xác định bị cáo T đã chiếm đoạt 3.028.376.947 đồng. Trong đó: Giai đoạn bà H làm Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Tỉnh và Chủ tịch Hội đồng quản lý Quỹ Hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế tỉnh Đồng Tháp (đến tháng 7/2018) bị cáo T rút, chiếm đoạt tiền gửi 04 Sổ tiết kiệm là 267.569.000 đồng. Giai đoạn bà B2 làm Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Tỉnh và Chủ tịch Hội đồng quản lý Quỹ Hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế tỉnh Đ (từ tháng 8/2018) bị cáo T rút, chiếm đoạt tiền gửi 06 Sổ tiết kiệm là 1.666.636.700 đồng và chiếm đoạt tiền mặt của 10 nguồn quỹ là 1.094.171.247 đồng, tổng cộng 02 khoản là 2.760.807.947 đồng.

Xét thấy, bà H và bà B2 chưa thực hiện đúng trách nhiệm của mình khi giao cho bị cáo T đứng tên các Sổ tiết kiệm, thực hiện các giao dịch tiền gửi tiết kiệm và chưa thực hiện đúng việc kiểm tra, đối chiếu quỹ tiền mặt nên bị cáo T mới có điều kiện chiếm đoạt tiền của đơn vị. Tuy nhiên, việc giao cho bị cáo T đứng tên S và thực hiện các giao dịch tiền gửi tiết kiệm đã được Lãnh đạo Hội Liên hiệp Phụ nữ Tỉnh thực hiện từ những nhiệm kỳ trước, giai đoạn của bà H và bà B2 chỉ kế thừa, áp dụng thực hiện. Công tác kiểm tra, kiểm kê quỹ tiền mặt do các bộ phận chuyên môn trực tiếp thực hiện; định kỳ hàng tháng giữa bị cáo T và Kế toán có đối chiếu miệng để thống nhất số liệu tiền mặt với sổ sách kế toán. Hậu quả thiệt hại đã được khắc phục toàn bộ, không có căn cứ xác định bà B2 và bà H hưởng lợi từ hành vi chiếm đoạt của bị cáo, cá nhân bà H và bà B2 có cho bị cáo T mượn tiền để khắc phục hậu quả (bà B2 cho mượn 713.498.000 đồng, bà H cho mượn 132.000.000 đồng). Bà B2 đã bị kỷ luật về Đảng và Chính quyền bằng hình thức “Cảnh cáo”, đồng thời điều chuyển công tác sang cơ quan khác; bà H đã bị kỷ luật về Đảng bằng hình thức “Khiển trách”.

Xét thấy các vi phạm của bà B2 và bà H đã bị xử lý kỷ luật bằng các hình thức nêu trên là phù hợp với tính chất, mức độ vi phạm, nên việc Viện kiểm sát không truy tố để xử lý hình sự là phù hợp.

[13] Đối với Kế toán, Lãnh đạo phụ trách của Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Đồng Tháp và Q Hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế tỉnh Đồng Tháp:

- Bà Cao Thị Thủy T3, là Kế toán của Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Đồng Tháp từ năm 2018 đến tháng 6/2022, được phân công phụ trách quản lý các nguồn

quỹ tiền mặt gồm: Cây mùa xuân chiến sĩ, heo đất, khen thưởng, quỹ phúc lợi, quỹ công đoàn. Kết quả điều tra xác định bị cáo T chiếm đoạt các nguồn quỹ này với số tiền 147.101.127 đồng.

· Bà Huỳnh Thị Thúy H2, là Kế toán của Quỹ Hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế tỉnh Đồng Tháp giai đoạn từ năm 2018 đến tháng 12/2020. Ngoài ra, còn được phân công phụ trách quản lý 04 nguồn quỹ của Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Đ gồm: Quỹ khuyến học, 02 nguồn Trung ương Hội, Chương trình máy lọc nước. Kết quả điều tra xác định, trong giai đoạn này bị cáo T chiếm đoạt tiền gửi tiết kiệm của Quỹ Hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế tỉnh Đồng Tháp là 1.570.348.500 đồng, chiếm đoạt tiền gửi tiết kiệm (04 nguồn quỹ) của Hội L Tỉnh là 288.666.100 đồng, tổng cộng 02 khoản là 1.859.014.600 đồng.

Sau khi bà H2 nghỉ việc vào tháng 12/2020 thì Kế toán Quỹ Hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế tỉnh Đồng Tháp và 04 nguồn quỹ của Hội Liên hiệp Phụ nữ Tỉnh do bà Hương phụ t quản lý được phân công cho những người sau:

  • + Ông Nguyễn Long V: Từ tháng 01/2021 đến tháng 5/2021 (nghỉ việc).
  • + Bà Võ Thị Hồng N2: Từ tháng 6/2021 đến tháng 11/2021 (nghỉ việc).
  • + Bà Thân Thị Hồng T4: Từ tháng 12/2021 đến tháng 6/2022.

Kết quả điều tra xác định bị cáo T chiếm đoạt tiền mặt 04 nguồn quỹ (Quỹ khuyến học, 02 nguồn Trung ương Hội, Chương trình máy lọc nước) của Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Đ là 587.261.180 đồng nhưng không xác định được trách nhiệm thuộc về ai, vì không bàn giao quỹ tiền mặt thực tế từ Kế toán trước cho Kế toán sau.

Xét thấy, quá trình thực hiện nhiệm vụ, hàng tháng giữa Kế toán và bị cáo T đều có tiến hành đối chiếu quỹ tiền mặt với sổ sách kế toán nhưng chỉ đối chiếu miệng, không lập biên bản, không kiểm tra tiền quỹ thực tế. Theo đó bị cáo T báo cáo số tiền mặt còn tồn, Kế toán kiểm tra sổ theo dõi nếu phù hợp thì thống nhất, nếu không phù hợp thì kiểm tra lại Phiếu thu - chi trong tháng để tìm nguyên nhân, thống nhất số liệu. Việc Lãnh đạo đơn vị giao bị cáo T đứng tên Sổ tiết kiệm các Kế toán không biết; việc không lập biên bản đối chiếu và không kiểm tra tiền quỹ thực tế là lề lối làm việc từ trước của đơn vị. Liên quan đến trách nhiệm, bà Cao Thị Thủy T3 đã bị kỷ luật về Đảng và Chính quyền bằng hình thức “Khiển trách”, bà Huỳnh Thị Thúy H2 bị kỷ luật về Đảng bằng hình thức “Khiển trách”. Trong số tiền khắc phục hậu quả, bà T3 có cho bị cáo T mượn 28.499.000 đồng.

- Bà Võ Thị Thu T2, là Trưởng Ban gia đình, xã hội, kinh tế Hội Liên hiệp

Phụ nữ Tỉnh kiêm Giám đốc Quỹ Hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế tỉnh Đồng Tháp từ năm 2018 đến tháng 6/2022, số tiền của Q Hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế tỉnh Đồng Tháp bị T chiếm đoạt là 1.570.348.500 đồng. Bên cạnh đó, bà T2 còn được phân công lãnh đạo phụ trách quản lý các nguồn quỹ của Hội Liên hiệp Phụ nữ Tỉnh tỉnh gồm: Quỹ khuyến học, Trung ương Hội, Đề án 939 (quản lý hoạt động), chương trình máy lọc nước, phí ủy thác, bị T chiếm đoạt số tiền 1.283.927.320 đồng, tổng cộng 02 khoản là 2.854.275.820 đồng. Với vai trò là Giám đốc Quỹ Hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế tỉnh Đồng Tháp và được phân công lãnh đạo phụ trách quản lý các nguồn quỹ của Hội Liên hiệp Phụ nữ Tỉnh, bà T2 đã không tham gia kiểm tra, đối chiếu quỹ tiền mặt; thực hiện việc giao bị cáo T mở sổ và đứng tên Sổ tiết kiệm. Tuy nhiên, việc này làm theo chỉ đạo của Lãnh đạo Hội Liên hiệp Phụ nữ Tỉnh và lề lối làm việc có từ trước của đơn vị. Liên quan đến trách nhiệm, bà T2 đã bị xử lý kỷ luật về Đảng và Chính quyền bằng hình thức “Cảnh cáo”. Trong số tiền khắc phục hậu quả, bà T2 có cho bị cáo T mượn 354.499.000 đồng.

- Bà Nguyễn Thị C - Phó Chủ tịch thường trực Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Đ: Là lãnh đạo phụ trách Văn phòng Hội Liên hiệp Phụ nữ Tỉnh, trong đó có bộ phận Kế toán từ tháng 7/2019 đến tháng 6/2022, quản lý các nguồn quỹ: Cây mùa xuân chiến sĩ, heo đất, quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi, quỹ công đoàn và bà Nguyễn Thanh H1 - Phó Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Tỉnh Đ: Từ năm 2020 đến tháng 6/2022 là Phó Chủ tịch Hội đồng quản lý Quỹ Hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế tỉnh Đồng Tháp được bà Nguyễn Thị Thanh B2 ủy quyền ký các Phiếu thu - chi và chứng từ liên quan của Q. Bên cạnh đó, còn được phân công phụ trách quản lý quỹ tiền mặt Phí ủy thác của Hội L.

C và bà H1 là lãnh đạo phụ trách, tuy không có trách nhiệm tham gia, kiểm tra đối chiếu quỹ tiền mặt với Kế toán, Thủ quỹ nhưng bà C, bà H1 vẫn có nhắc nhở, chỉ đạo Kế toán kiểm tra, đối chiếu và được báo cáo kết quả thực hiện. Đối với việc giao bị cáo T đứng tên Sổ tiết kiệm tiền gửi tại Ngân hàng, việc này đã được thực hiện từ trước, do Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Tỉnh quyết định, 02 người này không biết Chủ tịch Hội giao cho bị cáo T đứng tên Sổ tiết kiệm. Liên quan đến trách nhiệm lãnh đạo phụ trách, bà C và bà H1 đã bị xử lý kỷ luật về Đảng và Chính quyền bằng hình thức “Khiển trách”. Trong số tiền khắc phục hậu quả, bà C có cho bị cáo T mượn 123.498.000 đồng, bà H1 có cho bị cáo T mượn 168.648.000 đồng.

Mặc dù chưa thực hiện đúng quy định về quản lý, kiểm tra các nguồn quỹ

bị chiếm đoạt, tuy nhiên những người Kế toán và Lãnh đạo phụ trách có kiểm tra, đối chiếu miệng với bị cáo T; sai phạm do thực hiện theo lề lối làm việc có từ trước đó và chỉ đạo của Lãnh đạo Hội L; việc phân công quản lý các nguồn quỹ chưa đúng chức năng, nhiệm vụ của từng cá nhân dẫn đến không thể thực hiện việc kiểm tra, đối chiếu theo quy định (không phải Kế toán thì không thể kiểm tra, đối chiếu hoặc là Kế toán nhưng không được phân công phụ trách thì cũng không thể kiểm tra, đối chiếu các nguồn quỹ không phụ trách). Vả lại, những người này không tham gia thực hiện hành vi phạm tội, không hưởng lợi gì từ số tiền bị cáo T chiếm đoạt, họ đã bị xử lý kỷ luật Đảng, chính quyền hoặc đã nghỉ việc, hậu quả thiệt hại đã được khắc phục xong nên Viện kiểm sát không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với họ là phù hợp với tính chất, mức độ vi phạm.

[14] Xét thấy phát biểu của Kiểm sát viên, Luật sư tại phiên tòa là có cơ sở chấp nhận.

[15] Về án phí: Bị cáo Đặng Thị Kim T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 353; các điểm b, s, t, v, x khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 54; điểm d khoản 1 Điều 3 Bộ luật Hình sự và Điều 5 Nghị quyết số 03/2020/NQ-HĐTP ngày 30/12/2020 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao “Hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Hình sự trong xét xử tội phạm tham nhũng và tội phạm khác về chức vụ”.

Tuyên bố bị cáo Đặng Thị Kim T phạm tội “Tham ô tài sản”.

Xử phạt bị cáo Đặng Thị Kim T 10 (M) năm tù. Thời hạn tù của bị cáo được tính từ ngày tạm giam (ngày 12/9/2023).

2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Đặng Thị Kim T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

3. Bị cáo; đại diện hợp pháp của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án lên Tòa án nhân dân cấp

cao tại Thành phố Hồ Chí Minh trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Những người nêu trên mà vắng mặt thì có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt đúng quy định pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án được thực hiện theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Toà án nhân dân cấp cao tại TP.HCM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại TP.HCM;
  • - Văn phòng Tỉnh uỷ Đồng Tháp;
  • - Ban Nội chính Tỉnh ủy Đồng Tháp;
  • - Uỷ ban kiểm tra Tỉnh uỷ Đồng Tháp;
  • - Ban Tổ chức Tỉnh uỷ Đồng Tháp;
  • - Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Tháp;
  • - Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp;
  • - Cơ quan Thi hành án Hình Sự Công An tỉnh Đồng Tháp (PC 10);
  • - Trại tạm giam Công An tỉnh Đồng Tháp (PC 11);
  • - Phòng kiểm tra nghiệp vụ và thi hành án Toà án nhân dân tỉnh Đồng Tháp;
  • - Văn phòng Toà án nhân dân tỉnh Đồng Tháp;
  • - Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đồng Tháp (PC 03);
  • - Phòng hồ sơ Công An tỉnh Đồng Tháp (PV 06);
  • - Bị cáo, đương sự;
  • - Lưu: HSVA, VT, Tòa HS (Loan).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Tuấn Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 39/2024/HS-ST ngày 09/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về tham ô tài sản

  • Số bản án: 39/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tham ô tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đặng Thị Kim T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger