|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẦU GIẤY THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 39/2024/DS-ST
Ngày 09 tháng 8 năm 2024.
V/v tranh chấp chia thừa kế
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẦU GIẤY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà : Bà Đỗ Ngọc Thùy.
Các Hội thẩm nhân dân : Ông Trần Trọng Dĩu.
Ông Đỗ Quang Khánh.
- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Kim Yến – Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy tham gia phiên tòa.
Bà Bùi Thị Thu Hường – Kiểm sát viên.
Trong ngày 09 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân quận Cầu Giấy xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 05/2024/TLST-DS ngày 02 tháng 01 năm 2024 về việc “Tranh chấp chia thừa kế” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 111/2024/QĐXX-ST ngày 26 tháng 6 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 103/2024/QĐHPT ngày 16 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 107/2024/QĐHPT ngày 22 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Nguyễn Việt Đ, sinh năm 1974.
Trú tại: Tổ G, phường T, quận T, Thành phố Hà Nội.
Anh Nguyễn Việt Đ ủy quyền cho bà Lê Thị H – Luật sư Công ty L1 – Đoàn Luật sư Thành phố H. (Bà H có mặt).
Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Việt N, sinh năm 1972.
Trú tại: Số A, ngách C, đường N, tổ dân phố số G (trước là tổ A), phường Y, quận C, Thành phố Hà Nội.
(Chị N có đơn xin xét xử vắng mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Mai B, sinh năm 1944.
- Ông Mai Văn H1, sinh năm 1957.
- Ông Nguyễn Xuân L, sinh năm 1946.
- Bà Mai Thị H2, sinh năm 1952.
- Anh Nguyễn Việt A, sinh năm 1982.
Trú tại: Tiểu khu N, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
Trú tại: Phố V, phường Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.
Trú tại: Số B, P, phường B, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.
Ông Mai B, ông Mai Văn H1, ông Nguyễn Xuân L ủy quyền cho bà Lê Thị H, sinh năm 1995, trú tại: xóm B, xã C, huyện H, tỉnh Nghệ An. Theo Hợp đồng ủy quyền ngày 11 tháng 01 năm 2024 tại Văn phòng C1, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. (Bà H có mặt).
Trú tại: TDP T, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng.
(Bà H2 hiện già yếu, bị mất trí nhớ, con trai là anh Mai Ngọc T giám hộ, có đơn xin xét xử vắng mặt)
Trú tại: Số B, nhà A, Khu tập thể B, ngõ A, N, quận T, Thành phố Hà Nội.
Anh Nguyễn Việt A ủy quyền cho bà Lê Thị H, sinh năm 1995, trú tại: xóm B, xã C, huyện H, tỉnh Nghệ An. Theo Giấy ủy quyền ngày 07 tháng 3 năm 2024 tại Văn phòng C2, Thành phố Hà Nội.
(Bà H có mặt).
Người làm chứng:
- Ông Nguyễn Tri T1, sinh năm 1941.
- Ông Nguyễn Tri T2, sinh năm 1938.
- Bà Nguyễn Thị T3, sinh năm 1949.
Trú tại: Xóm T, xã T, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên.
Trú tại: Số B, phố T, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh.
Trú tại: Tiểu khu N, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
(Là em ruột của ông Nguyễn Tri C. Vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và các lời khai tại Tòa án, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn anh Nguyễn Việt Đ trình bày về yêu cầu khởi kiện như sau:
Anh Nguyễn Việt Đ, chị Nguyễn Thị Việt N, anh Nguyễn Việt A là con đẻ của ông Nguyễn Xuân L và bà Mai Thị Tuyết .
Bà Mai Thị T4 đã chết ngày 07/6/2020. Bà Mai Thị T4 là cháu gọi bà Mai Thị M là cô ruột. Bà M chết ngày 21/4/2020.
Bà Mai Thị M có chồng là ông Nguyễn Tri C (ông C chết ngày 14/3/2013). Ông C và bà M không có con chung. Bà M, ông C có tài sản chung là nhà đất tại địa chỉ số A ngách C, N, tổ A, phường Y, quận C, Thành phố Hà Nội. Diện tích đất 22,99m2, xây nhà 3 tầng. Ông C chết không để lại di chúc.
Tại thời điểm ông C chết năm 2013 thì hàng thừa kế thứ nhất của ông C chỉ còn bà Mai Thị M là vợ ông C. Do bố mẹ ông C là cụ Nguyễn Tri G, đã chết năm 1965 và cụ Mai Thị Y, đã chết năm 1972.
Bà M đã quản lý toàn bộ tài sản nhà đất từ năm 2013 đến khi bà M chết ngày 21/4/2020. Bà M không để lại di chúc. Từ khi bà M chết thì di sản do chị Nguyễn Thị Việt N quản lý, sử dụng.
Khi bà M chết thì bố mẹ đẻ, chồng bà đã chết, bà M không có con. Nên hàng thừa kế thứ nhất của bà M không còn ai. Hàng thừa kế thứ hai của bà M cũng không còn ai do anh chị ruột của bà M gồm bà Mai Thị S, bà Mai Thị Ư (chết từ khi còn nhỏ), ông Mai Xuân H3 (tức M - chết ngày 23/01/2011). Hàng thừa kế thứ 3 của bà M tại thời điểm đó gồm 4 người con của ông Mai Xuân H3– anh trai bà M là: ông Mai B, sinh năm 1944, bà Mai Thị T4, sinh năm 1948, bà Mai Thị H2, sinh năm 1952, ông Mai Văn H1, sinh năm 1957. Do đó di sản của bà Mai Thị M được chia theo pháp luật cho bốn người thuộc hàng thừa kế thứ 3 nêu trên (trong đó bà Mai Thị T4 là mẹ anh Đ, chị N).
Nay anh Đ làm đơn khởi kiện đề nghị chia thừa kế di sản của bà Mai Thị M cho bà Mai Thị Tuyết . Anh Đ xin được hưởng 01 phần di sản mẹ anh Đ được hưởng theo quy định của pháp luật.
Bị đơn chị Nguyễn Thị Việt N trình bày:
Bị đơn xác nhận lời khai của nguyên đơn là đúng sự thật. Anh Nguyễn Việt Đ và chị Nguyễn Thị Việt N, anh Nguyễn Việt A là con đẻ của ông Nguyễn Xuân L và bà Mai Thị Tuyết .
Bà Mai Thị T4 đã chết ngày 07/6/2020. Bà Mai Thị T4 là cháu ruột của bà Mai Thị M (chết ngày 21/4/2020).
Bà Mai Thị M có chồng là ông Nguyễn Tri C (ông C chết ngày 14/3/2013). Ông C và bà M không có con chung. Bà M, ông C có tài sản chung là nhà đất tại địa chỉ số A ngách C, N, tổ A, phường Y, quận C, Thành phố Hà Nội. Diện tích đất 22,99m2, xây nhà 3 tầng. Ông C chết không để lại di chúc. Tại thời điểm ông C chết năm 2013 thì hàng thừa kế thứ nhất của ông C chỉ còn bà M là vợ ông C (do bố mẹ ông C đã chết trước).
Bà M đã quản lý toàn bộ tài sản nhà đất từ năm 2013 đến khi bà M chết ngày 21/4/2020. Bà M không để lại di chúc. Từ khi bà M chết thì di sản do chị Nguyễn Thị Việt N quản lý, sử dụng.
Khi bà M chết thì bố mẹ đẻ, chồng bà đã chết, bà M không có con. Nên hàng thừa kế thứ nhất của bà M không còn ai. Hàng thừa kế thứ hai của bà M cũng không còn ai do anh chị ruột của bà M gồm bà Mai Thị S, bà Mai Thị Ư (chết từ khi còn nhỏ), ông Mai H3 (tức Mai Văn H4) (chết năm 2011). Hàng thừa kế thứ 3 của bà M tại thời điểm đó gồm: ông Mai Văn B1, sinh năm 1944, ông Mai Văn H1, sinh năm 1955, bà Mai Thị T4, sinh năm 1948, bà Mai Thị H2, sinh năm 1952. Do đó di sản của bà Mai Thị M sẽ chia cho bốn người thừa kế trên (trong đó bà T4 là mẹ của chị N).
Chị N đề nghị Tòa án chia di sản của ông C cho bà M là nhà đất tại số A, ngách C, đường N, tổ dân phố số A, phường Y, quận C, Thành phố Hà Nội theo quy định của pháp luật. Theo kết quả thẩm định giá Tòa án thu thập được xác định di sản có giá trị là:1.979.353.000 đồng. Trước khi chia di sản của ông C, bà M thì đề nghị Tòa án trích một phần di sản cho chị Nguyễn Thị Việt N do chị N đã chăm sóc ông C, bà M khi còn sống và trông coi di sản khi ông bà đã mất, số tiền là 79.353.000 đồng. Phần còn lại của di sản là 1.900.000.000 đồng của bà M được chia đều có 4 người thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ 3 là ông Mai B1, ông Mai Văn H1, bà Mai Thị H2 và bà Mai Thị Tuyết . Phần bà T4 được hưởng thì chia cho hàng thừa kế thứ nhất của bà T4 là ông Nguyễn Xuân L, chị Nguyễn Thị Việt N, anh Nguyễn Việt Đ và anh Nguyễn Việt A.
Chị Nguyễn Thị Việt N xin được hưởng ¼ phần bà T4 được hưởng và chị N xin được hưởng di sản bằng hiện vật là nhà đất và chị N phải thanh toán các thừa kế khác giá trị họ được hưởng, do chị N thực tế đang quản lý di sản và di sản trước đây liền khối với phần nhà đất ông C, bà M đã bán cho chị N năm 2008.
Người đại diện theo ủy quyền của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Mai B1, ông Mai Văn H1 trình bày:
Ông Mai B1, ông Mai Văn H1 xác nhận ông B1, ông H1, bà H2, bà T4 là cháu ruột của bà Mai Thị M (bà M là cô ruột), là hàng thừa kế thứ ba, được hưởng thừa kế di sản của bà Mai Thị M. Ông B1, ông H1 đề nghị Tòa án chia di sản của bà M theo quy định của pháp luật. Ông B1, ông H1 nhận di sản bằng giá trị bằng tiền vì hai ông đang sinh sống ổn định tại Thanh Hóa. Ông B1, ông H1 đồng ý cho chị N toàn bộ phần di sản hai ông được hưởng.
Bà Mai Thị H2 (do anh Mai Ngọc T con trai bà H2 đại diện) trình bày:
Bà Mai Thị H2, sinh năm 1952, là cháu ruột của bà Mai Thị M. Bà M là cô ruột của bà H2. Trước đây bà H2 sống tại Tiểu khu N, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Sau khi chồng mất thì bà chuyển vào Đ sinh sống với con trai là Mai Ngọc T và Mai Ngọc T5. Bà H2 đã được Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy thông báo về việc chia thừa kế của bà Mai Thị M và được xác định là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Bà H2 hiện đã già yếu, bị mất trí nhớ, không còn minh mẫn nên các con bà H2 là Mai Ngọc T và Mai Ngọc T5 đề nghị Tòa án xem xét trong trường hợp bà H2 được chia di sản của bà M thì gia đình xin được nhận di sản bằng tiền và cử anh Mai Ngọc T nhận thay bà H2. Ngoài ra, do khoảng cách địa lý xa xôi, không bố trí được việc tham gia tố tụng nên nên anh T đề nghị Tòa án cho anh được vắng mặt trong quá tình tố tụng và xét xử vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Xuân L, anh Nguyễn Việt A trình bày:
Nhất trí lời khai của nguyên đơn, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Ông L, anh Việt A nhận di sản được hưởng bằng tiền và cho chị N toàn bộ phần di sản được chia.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhận được đơn của các ông bà Nguyễn Tri T2, Nguyễn Tri T1, Nguyễn Thị T3, Nguyễn Thị Đ1 là em ruột ông Nguyễn Tri C đề nghị Tòa án xem xét yêu cầu chị Nguyễn Thị Việt N phải thông kê tài sản của ông Nguyễn Tri C và bà Mai Thị M để lại, công bố với anh em ông C và xem xét chia di sản của ông C một phần để dòng họ bên nội thờ cúng.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn giữ yêu cầu khởi kiện, đề nghị chia di sản của bà Mai Thị M theo quy định của pháp luật, xin được hưởng bằng tiền, đồng ý để chị N được toàn quyền sở hữu, sử dụng di sản.
Bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt và giữ nguyên các ý kiến trình bày.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm ông Mai B1, ông Mai Văn H1, ông Nguyễn Xuân L, anh Nguyễn Việt A giữ yêu cầu đề nghị chia di sản của bà Mai Thị M theo quy định của pháp luật, xin được hưởng bằng tiền, cho chị N toàn bộ phần di sản họ được hưởng.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Mai Thị H2 vắng mặt nên không có ý kiến trình bày.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy phát biểu ý kiến về tố tụng và nội dung vụ án:
- Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của những người tiến hành tố tụng đúng theo quy định của pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, bị đơn được thực hiện đúng quy định của pháp luật. Vụ án thụ lý từ ngày 02 tháng 01 năm 2024, đến nay đưa ra xét xử là đảm bảo thời hạn chuẩn bị xét xử theo quy định của pháp luật.
- Về nội dung: Sau khi phân tích nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Xác định thời điểm mở thừa kế của ông Nguyễn Tri C là ngày 14/3/2013 và xác định bà Mai Thị M là người thừa kế duy nhất thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Nguyễn Tri C. Xác định thời điểm mở thừa kế của bà Mai Thị M là ngày 21/4/2020. Di sản của bà Mai Thị M là toàn bộ nhà đất tại số A, ngách C, đường N, tổ dân phố số A, phường Y, quận C, Thành phố Hà Nội có giá trị là:1.979.353.000 đồng. Trích một phần di sản cho chị Nguyễn Thị Việt N do có công duy trì, tôn tạo di sản là 79.353.000 đồng. Phần còn lại của di sản chia cho 4 người cháu hàng thừa kế thứ ba của bà M là ông Mai B1, bà Mai Thị T4, bà Mai Thị H2 và ông Mai Văn H1. Mỗi kỷ phần là 475.000.000 đồng. Chia phần di sản của bà Mai Thị T4 được hưởng cho 4 người thuộc hàng thừa kế thứ nhất là ông Nguyễn Xuân L, chị Nguyễn Thị Việt N, anh Nguyễn Việt Đ và anh Nguyễn Việt A. Mỗi kỷ phần là 118.750.000 đồng. Ghi nhận sự tự nguyện của ông Mai B1, ông Mai Văn H1, ông Nguyễn Xuân L, anh Nguyễn Việt A cho chị Nguyễn Thị Việt N toàn bộ phần di sản được hưởng. Về chia hiện vật: Chia cho chị N được hưởng toàn bộ nhà đất tại số A, ngách C, đường N, tổ dân phố số A, phường Y, quận C, Thành phố Hà Nội theo diện tích nhà đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 22,99m2, phần diện tích đất vượt quá thì tạm giao cho chị N sử dụng. Chị N có trách nhiệm thanh toán phần di sản cho bà Mai Thị H2 và anh Nguyễn Việt Đ.
- Các đương sự chịu án phí dân sự theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ ý kiến của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày, tranh luận tại phiên tòa; ý kiến đại diện Viện kiểm sát nhân dân tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
- Về quan hệ pháp luật: Anh Nguyễn Việt Đ khởi kiện chị Nguyễn Thị Việt N về việc tranh chấp chia thừa kế. Đây là quan hệ pháp luật dân sự. Bị đơn chị Nguyễn Thị Việt N có nơi thường trú tại số A, ngách C, đường N, tổ dân phố số 7 (trước là TDP số 13), phường Y, quận C, Thành phố Hà Nội. Đây là vụ án Dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy theo quy định tại khoản Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về thời hiệu khởi kiện: Anh Nguyễn Việt Đ nộp đơn yêu cầu chia thừa kế di sản là bất động sản của ông Nguyễn Tri C (chết năm 2013) và bà Mai Thị M (chết tháng 4 năm 2020) cho bà Mai Thị T4 (chết tháng 6 năm 2020) là mẹ anh Đ và chia thừa kế phần di sản bà T4 được hưởng của bà M tại Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy ngày 06/4/2023. Thời hiệu chia thừa kế là 30 năm kể từ thời điểm mở thừa kế theo quy định tại khoản 1 Điều 623 Bộ luật dân sự, nên thời hiệu khởi kiện vẫn còn.
- Về việc xét xử vắng mặt bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị Việt N, anh Mai Ngọc T (giám hộ cho bà Mai Thị H2) đề nghị xét xử vắng mặt. Do vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định tại điều 227, điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung vụ án: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ nguyên đơn, bị đơn cung cấp và Tòa án thu thập được Hội đồng xét xử xác định:
- Di sản thừa kế, thời điểm mở thừa kế, hàng thừa kế của ông Nguyễn Tri C và bà Mai Thị M:
Bà Mai Thị M và ông Nguyễn Tri C là vợ chồng theo Sơ yếu lý lịch đảng viên của bà M khai tháng 12/1974 và Sơ yếu lý lịch của ông C khai ngày 10/10/1974. Ông bà không có con chung. Sinh thời, ông bà có tài sản chung là nhà đất tại địa chỉ cũ: Căn số 70 nhà N – K83 B.C Pháo Binh, Y, T, Hà Nội. Địa chỉ hiện nay là: Số nhà A, ngách B, ngõ C, đường N, tổ dân phố số G (trước là TDP số 13), phường Y, quận C, Thành phố Hà Nội. Giấy chứng nhận Quyền sở hữu nhà ở và Quyền sử dụng đất ở quyển 4 tờ 23 số 91 do UBND Thành phố H cấp ngày 10/02/1998 cho ông Nguyễn Tri C và bà Mai Thị M. Diện tích đất 22,99m2, xây nhà 2 tầng, diện tích sử dụng: 27.4m2, kết cấu nhà: xây tường, mái bằng, BTCT. Đây là phần diện tích còn lại sau khi tặng cho chị Nguyễn Thị V Nga một phần nhà đất theo Hợp đồng số 47.2008/HĐCN lập tại phòng C3 Hà Nội ngày 24/01/2008, gồm nhà ở: DTSD 36m2; Kết cấu nhà: Tường xây mái bằng, BTCT – 02 tầng; Đất ở: 30m2.
Ông Nguyễn Tri C và bà Mai Thị M mỗi người có quyền được hưởng ½ tài sản chung vợ chồng.
Ông Nguyễn Tri C chết ngày 14/3/2013. Ông C không để lại di chúc.
Theo sơ yếu lý lịch đảng viên khai ngày 10/10/1974 của ông Nguyễn Tri C do Quận ủy Cầu G1 cung cấp và lời khai của ông Nguyễn Tri T2, ông Nguyễn Tri T6, bà Nguyễn Thị T3 là các em ruột của ông C thì, ông Nguyễn Tri C và bà Mai Thị M không có con đẻ, con riêng và con nuôi. Bố mẹ ông Nguyễn Tri C là cụ Nguyễn Tri G, đã chết năm 1965 và cụ Mai Thị Y, đã chết năm 1972.
Thời điểm mở thừa kế của ông Nguyễn Tri C là ngày 14/3/2013. Hàng thừa kế thứ nhất của ông C là bà Mai Thị M – vợ ông C theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 651 Bộ luật Dân sự.
Bà Mai Thị M chết ngày 21/4/2020. Thời điểm mở thừa kế của bà M là ngày 21/4/2020. Bà M không để lại di chúc.
Theo sơ yếu lý lịch đảng viên khai năm 1974 của bà Mai Thị M do Quận ủy C4 cung cấp thì, bà Mai Thị M có bố là Mai Văn T7 (già chết), mẹ là Mai Thị T8 (già chết); chị ruột là Mai Thị S (ốm chết); anh ruột là Mai H4, chị ruột là Mai Thị Ư (ốm chết), chồng là Nguyễn Tri C.
Hàng thừa kế thứ nhất của bà M không còn ai. Do chồng là ông C đã chết năm 2013, ông bà không có con, bố mẹ đẻ bà M là cụ Mai Văn T7, đã chết và cụ Mai Thị T8, đã chết.
Hàng thừa kế thứ 2 của bà Mai Thị M không còn ai. Do ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại đều đã chết; anh ruột của bà M là ông Mai H4 (đã chết ngày 23/01/2011); Chị ruột là bà Mai Thị S và bà Mai Thị Ư, đã chết từ khi còn nhỏ, không xác định được có chồng, con hay không.
Hàng thừa kế thứ 3 của bà Mai Thị M là các cháu ruột của bà M và bà M là cô ruột gồm 4 người con của ông Mai H4 là: Ông Mai B1, sinh năm 1944, bà Mai Thị T4, sinh năm 1948, bà Mai Thị H2, sinh năm 1952 và ông Mai Văn H1, sinh năm 1957. Ngoài ra không còn ai khác.
Theo quy định tại điểm c khoản 1; khoản 3 Điều 651 Bộ luật dân sự thì, ông Mai B1, bà Mai Thị T4, bà Mai Thị H2, ông Mai Văn H1 là hàng thừa kế thứ 3 và được hưởng thừa kế của bà Mai Thị M.
Ông B1, bà T4, bà H2, ông H1 được hưởng di sản bằng nhau theo quy định tại khoản 2 Điều 651 Bộ luật dân sự.
Bà Mai Thị T4 chết ngày 07/6/2020. Hàng thừa kế thứ nhất của bà T4 gồm chồng là ông Nguyễn Xuân L và 3 con là Nguyễn Thị Việt N, Nguyễn Việt Đ và Nguyễn Việt A. Ngoài ra không còn ai khác.
Theo quy định tại điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 651 Bộ luật dân sự thì, ông L, chị N, anh Đ và anh Việt A được hưởng thừa kế chuyển tiếp di sản của bà Mai Thị M từ bà Mai Thị T4 và được hưởng phần di sản bằng nhau.
Do đó anh Nguyễn Việt Đ khởi kiện chia thừa kế di sản của bà Mai Thị M cho bà Mai Thị T4 và chia phần di sản của bà Mai Thị T4 được hưởng từ bà Mai Thị M là có căn cứ, cần được chấp nhận.
- Về chia di sản thừa kế:
Theo kết quả xem xét, thẩm định tài sản ngày 27/5/2024 của Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy; Chứng thư và báo cáo kết quả thẩm định giá ngày 04/6/2024 của Công ty cổ phần T10, thì di sản của ông Nguyễn Tri C và bà Mai Thị M là nhà, đất tọa lạc tại địa chỉ cũ: Căn số 70 nhà N – K83 B.C Pháo Binh, Y, T, Hà Nội, địa chỉ hiện nay là: số A ngách B, ngõ C, đường N, tổ dân phố số G (trước là tổ dân phố số A), phường Y, quận C, Thành phố Hà Nội. Giấy chứng nhận Quyền sở hữu nhà ở và Quyền sử dụng đất ở quyển 4 tờ 23 số 91 do UBND Thành phố H cấp ngày 10/02/1998 cho ông Nguyễn Tri C và bà Mai Thị M. Đây là phần diện tích còn lại sau khi tặng cho chị Nguyễn Thị V Nga một phần nhà đất theo Hợp đồng số 47.2008/HĐCN lập tại phòng C3 Hà Nội ngày 24/01/2008.
Theo Giấy chứng nhận thì, diện tích đất 22,99m2, xây nhà 2 tầng, diện tích sử dụng: 27.4m2, kết cấu nhà: xây tường, mái bằng, BTCT.
Trên thực tế, di sản đã được cải tạo thành nhà 3 tầng vào năm 2008, diện tích sàn 25,29m2, tổng diện tích xây dựng là: 75,87m2. Phần nhà 3 tầng xây lên phần đất phía trước mặt ngách 23, không nằm trong giấy chứng nhận là 2,3m2 (bằng mép với các hộ khác trong khu). Giá trị xây dựng được xác định là: 170.039.844 đồng; giá trị quyền sử dụng đất là 1.809.313.000 đồng; Tổng giá trị di sản là: 1.979.352.844 đồng (làm tròn thành: 1.979.353.000 đồng). Ông Nguyễn Tri C và bà Mai Thị M mỗi người được chia ½ giá trị là: 989.676.500 đồng.
Do bà Mai Thị M là người thừa kế duy nhất thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Nguyễn Tri T9 nên bà M được hưởng toàn bộ di sản ông C để lại. Di sản của bà M được xác định là toàn bộ nhà đất, có giá trị 1.979.353.000 đồng nêu trên.
Bà M chết tháng 4 năm 2020, từ thời gian đó đến nay, chị Nguyễn Thị Việt N là người quản lý, trông nom di sản. Chị N đề nghị Tòa án xem xét cho chị được hưởng một phần công sức duy trì, bảo quản di sản là số tiền 79.353.000 đồng. Hội đồng xét xử xét, chị Nguyễn Thị Việt N đã từng sống cùng ông Nguyễn Tri C và bà Mai Thị M một thời gian khi học đại học. Sau đó ở gần ông bà và có chăm sóc ông bà khi già yếu và tham gia lo tang lễ cho ông bà. Từ khi bà M chết đến nay hơn 4 năm, chị N là người trông nom, quản lý, duy trì di sản. Do đó, yêu cầu của chị N về việc được hưởng một phần công sức duy trì, bảo quản di sản với mức đề nghị như trên là hợp lý và có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 618 Bộ luật dân sự. Hội đồng xét xử chấp nhận trích một phần di sản là 79.353.000 đồng, trả cho chị Nguyễn Thị V Nga tiền công sức quản lý di sản.
Giá trị di sản của bà Mai Thị M còn lại là 1.900.000.000 đồng. Chia đều cho 4 kỷ phần, mỗi kỷ phần là: 475.000.000 đồng.
Ông Mai B1, ông Mai Văn H1, bà Mai Thị T4, bà Mai Thị H2 mỗi người được hưởng 475.000.000 đồng.
Ghi nhận sự tự nguyện của ông Mai B1, ông Mai Văn H1 nhận di sản bằng tiền và cho chị N toàn bộ phần di sản được hưởng; Ghi nhận sự tự nguyện của bà Mai Thị H2 nhận di sản bằng tiền, đồng ý để chị Nguyễn Thị Việt N được sở hữu, sử dụng toàn bộ di sản bằng hiện vật mà bà được chia. Chị Nguyễn Thị Việt N có trách nhiệm thanh toán tiền cho bà H2 phần giá trị di sản bà được hưởng.
Kỷ phần bà Mai Thị T4 được hưởng từ bà Mai Thị M là 475.000.000 đồng, chia thành 4 kỷ phần, mỗi kỷ phần là: 118.750.000 đồng.
Ông Nguyễn Xuân L, chị Nguyễn Thị Việt N, anh Nguyễn Việt Đ, anh Nguyễn Việt A, mỗi người được hưởng 118.750.000 đồng.
Ghi nhận sự tự nguyện của anh Nguyễn Việt Đ nhận di sản bằng tiền.
Ghi nhận sự tự nguyện của ông Nguyễn Xuân L, anh Nguyễn Việt A cho chị N toàn bộ giá trị di sản được hưởng. Chị Nguyễn Thị Việt N có trách nhiệm thanh toán tiền cho anh Đ phần giá trị di sản anh được hưởng.
Do các thừa kế không có nhu cầu chia di sản bằng hiện vật và hiện vật là nhà đất có diện tích nhỏ, dưới 30m2 nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của các thừa kế, chia toàn bộ di sản bằng hiện vật cho chị Nguyễn Thị V Nga sở hữu, sử dụng. Chị N có nghĩa vụ thanh toán giá trị di sản cho các thừa kế là bà Mai Thị H2 và anh Nguyễn Việt Đ theo quy định của pháp luật.
Chị N được chia căn nhà 3 tầng, tường xây bê tông cốt thép, diện tích sàn xây dựng 25,29m2, tổng diện tích xây dựng là: 75,87m2; diện tích quyền sử dụng đất 22,99 m2 tại số A ngách B ngõ C, đường N, tổ dân phố số G, phường Y, quận C, Thành phố Hà Nội. Diện tích phần đất 2,3m2 giáp mặt ngách 381/23 đường N không nằm trong giấy chứng nhận nhưng đã xây dựng phần nhà 3 tầng trùm lên thì tạm giao cho chị N quản lý, sử dụng. Chị N phải chấp hành mọi quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đối với phần diện tích đất sử dụng không được cấp giấy chứng nhận này theo quy định của pháp luật.
Chị Nguyễn Thị Việt N có trách nhiệm đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền làm thủ tục sang tên trước bạ đối với diện tích nhà, đất đã được chia theo quy định của pháp luật.
- Về đề nghị của các ông bà Nguyễn Tri T2, Nguyễn Tri T1, Nguyễn Thị T3, Nguyễn Thị Đ1 là em ruột của ông Nguyễn Tri C, Hội đồng xét xử xác định các ông bà trên không có quyền được hưởng di sản của anh trai là ông Nguyễn Tri C theo quy định của pháp luật dân sự nên không xác định là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Đồng thời không có căn cứ xem xét, chia một phần di sản của ông C cho các ông bà trên để thờ cúng.
[3] Án phí: Các thừa kế được chia di sản phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Do bà Mai Thị H2 đã đủ 60 tuổi trở lên, là người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
Chị Nguyễn Thị Việt N, anh Nguyễn Việt Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với phần di sản được hưởng theo quy định của pháp luật.
[4] Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 633, 634, 635, 645,676 Bộ luật dân sự 2005;
Căn cứ Điều 611, 612, 613, 618, 623, 649, 650, 651, 660, 688 Bộ luật dân sự năm 2015;
Áp dụng: Điều 147, Điều 271, Điều 273, Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 26 Nghị quyết số 326/2015/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2015 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Việt Đ đối với chị Nguyễn Thị Việt N về yêu cầu chia thừa kế di sản của bà Mai Thị M, bà Mai Thị Tuyết .
- Xác định ông Nguyễn Tri C và bà Mai Thị M là vợ chồng. Ông bà không có con chung, con riêng, con nuôi.
- Xác định tài sản chung của vợ chồng ông Nguyễn Tri C và bà Mai Thị M là giá trị nhà 3 tầng, diện tích sàn xây dựng 25,29m2, tổng diện tích xây dựng là 75,87m2 và giá trị quyền sử dụng đất diện tích 22,99 m2 tại địa chỉ cũ: Căn số 70 nhà N – K83 B.C Pháo Binh, Y, T, Hà Nội; địa chỉ hiện nay là: Số A, ngách B, ngõ C, đường N, tổ dân phố số G, phường Y, quận C, Thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận Quyền sở hữu nhà ở và Quyền sử dụng đất ở quyển 4 tờ 23 số 91 do UBND Thành phố H cấp ngày 10/02/1998 cho ông Nguyễn Tri C và bà Mai Thị M. Đã được điều chỉnh ngày 24/01/2008. Có tổng giá trị là 1.979.353.000 đồng. Ông Nguyễn Tri C và bà Mai Thị M mỗi người được chia ½ giá trị là: 989.676.500 đồng (Chín trăm tám mươi chín triệu, sáu trăm bảy mươi sáu nghìn, năm trăm đồng).
- Xác định thời điểm mở thừa kế của ông Nguyễn Tri C là ngày 13/4/2013; thời điểm mở thừa kế của bà Mai Thị M là ngày 20/4/2020. Ông, bà chết không để lại di chúc. Thừa kế chia theo pháp luật.
- Xác định hàng thừa kế thứ nhất của ông Nguyễn Tri C là bà Mai Thị M. Xác định hàng thừa kế thứ nhất, hàng thừa kế thứ hai của bà Mai Thị M không còn ai. Hàng thừa kế thứ 3 của bà Mai Thị M là ông Mai B1, bà Mai Thị T4, bà Mai Thị H2, ông Mai Văn H1.
- Xác định thời điểm mở thừa kế của bà Mai Thị T4 là ngày 07/6/2020; Hàng thừa kế thứ nhất của bà Mai Thị T4 là ông Nguyễn Xuân L, chị Nguyễn Thị Việt N, anh Nguyễn Việt Đ và anh Nguyễn Việt A. Những người này được hưởng thừa kế chuyển tiếp di sản của bà Mai Thị M từ bà Mai Thị Tuyết .
- Xác định di sản ông Nguyễn Tri C có giá trị 989.676.500 đồng và chia cho bà Mai Thị M. Do đó, di sản của bà M có giá trị là 1.979.353.000 đồng. Trước khi chia thừa kế, trích một phần 79.353.000 đồng tiền công sức duy trì, bảo quản di sản cho chị Nguyễn Thị Việt N. Di sản còn lại là: 1.900.000.000 đồng, chia làm 4 kỷ phần.
- Chia hiện vật như sau: Chị N được chia căn nhà 3 tầng, tường xây bê tông cốt thép, diện tích sàn xây dựng 25,29m2, tổng diện tích xây dựng là: 75,87m2; diện tích quyền sử dụng đất 22,99 m2 tại số A ngách B ngõ C, đường N, tổ dân phố số G, phường Y, quận C, Thành phố Hà Nội. Diện tích phần đất 2,3m2 giáp mặt ngách 381/23 đường N không nằm trong giấy chứng nhận nhưng đã xây dựng phần nhà trùm lên thì tạm giao cho chị N quản lý, sử dụng. Chị N phải chấp hành mọi quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đối với phần diện tích đất sử dụng không được cấp giấy chứng nhận này theo quy định của pháp luật.
- Chị Nguyễn Thị Việt N có nghĩa vụ thanh toán cho bà Mai Thị H2 475.000.000 đồng (Bốn trăm bảy mươi lăm triệu đồng) và thanh toán cho anh Nguyễn Việt Đ 118.750.000 đồng (Một trăm mười tám triệu, bảy trăm năm mươi triệu đồng).
- Về án phí:
- Về quyền kháng cáo: Anh Nguyễn Việt Đ, ông Mai B1, ông Mai H1, ông Nguyễn Xuân L, anh Nguyễn Việt A có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Chia cho ông Mai B1, bà Mai Thị T4, bà Mai Thị H2, ông Mai Văn H1, mỗi người được 01 kỷ phần bằng 475.000.000 đồng.
Ghi nhận sự tự nguyện của bà Mai Thị H2 nhận di sản bằng tiền, đồng ý để chị Nguyễn Thị Việt N được sở hữu, sử dụng toàn bộ di sản bằng hiện vật. Chị Nguyễn Thị Việt N có trách nhiệm thanh toán cho bà H2 phần giá trị di sản bà được hưởng là 475.000.000 đồng.
Ghi nhận sự tự nguyện của ông Mai B1, ông Mai Văn H1 cho chị Nguyễn Thị Việt N toàn bộ di sản hai ông được hưởng là 950.000.000 đồng.
Di sản bà Mai Thị T4 được hưởng từ bà Mai Thị M là 475.000.000 đồng, chia thành 4 kỷ phần, mỗi kỷ phần là: 118.750.000 đồng.
Chia cho ông Nguyễn Xuân L, chị Nguyễn Thị Việt N, anh Nguyễn Việt Đ, anh Nguyễn Việt A, mỗi người được hưởng 118.750.000 đồng.
Ghi nhận sự tự nguyện của ông Nguyễn Xuân L, anh Nguyễn Việt A cho chị N toàn bộ giá trị di sản được hưởng là 237.500.000 đồng.
Tổng giá trị di sản chị N được hưởng là: (79.353.000 đồng + 950.000.000 đồng + 118.750.000 đồng + 237.500.000 đồng) = 1.385.603.000 đồng (Một tỷ, ba trăm tám mươi lăm triệu, sáu trăm linh ba nghìn đồng).
Chị Nguyễn Thị Việt N có trách nhiệm đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền làm thủ tục sang tên trước bạ đối với diện tích nhà, đất đã được chia theo quy định của pháp luật.
Bà Mai Thị H2 không phải nộp án phí.
Anh Nguyễn Việt Đ phải nộp 5.937.500 đồng án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 650.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0000286 ngày 02/01/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Cầu Giấy. Anh Đ còn phải nộp 5.287.500 đồng (Năm triệu, hai trăm tám mươi bảy nghìn, năm trăm đồng).
Chị Nguyễn Thị Việt N phải nộp 53.568.000 đồng (Năm mươi ba triệu, năm trăm sáu mươi tám nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án và người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận việc thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bà Mai Thị H2, chị Nguyễn Thị Việt N có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa Đỗ Ngọc Thùy |
Bản án số 39/2024/DS-ST ngày 09/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẦU GIẤY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp chia thừa kế
- Số bản án: 39/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp chia thừa kế
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẦU GIẤY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về yêu cầu chia thừa kế
