TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỂU CẦN TỈNH TRÀ VINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 39/2024/HS-ST
Ngày 09/8/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỂU CẦN, TỈNH TRÀ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Thạch Thị Thu Hiền
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Tuyết Lệ
Ông Lê Thanh Bình
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Thanh Quyên – Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Linh – Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 8 năm 2024 tại điểm cầu trung tâm Tòa án nhân dân huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh và điểm cầu thành phần thành phần phòng họp nhà tạm giữ Công an huyện T xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số : 42/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39a/2024/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo: Nguyễn Duy N, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1991 tại huyện T, tỉnh Trà Vinh. Nơi cư trú ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh; Nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ văn hoá: 06/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn Â, sinh năm 1968 và bà Phùng Thị M, sinh năm 1969; vợ: Nguyễn Thị Như T, sinh năm 1993 (đã ly hôn) và 02 con (lớn nhất sinh năm 2011, nhỏ nhất sinh năm 2018); Tiền án: Ngày 19/01/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Tiểu Cần xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội cố ý gây thương tích theo quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 104 Bộ luật hình sự năm 2015, đã chấp hành xong hình phạt tù 09/02/2018, bị cáo chưa chấp hành xong án phí dân sự sơ thẩm và trách nhiệm dân sự; Tiền sự: không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ từ ngày 06/6/2024 đến ngày 12/6/2024 chuyển tạm giam cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện T. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 08 giờ ngày 05/6/2024 bị cáo Nguyễn Duy N đang ở nhà tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh thì nảy sinh ý định mua ma túy đá để sử dụng nên bị cáo đi bộ ra đường nhựa gần nhà gặp một người đàn ông chạy xe ôm khoảng 50 tuổi chở bị cáo đến khu vực phường H, thành phố T, tỉnh Trà Vinh, khi đến vòng xoay tượng đài thành phố T, bị cáo kêu người đàn ông chạy xe ôm dừng lại, sau đó bị cáo đi bộ đến khu vực điện máy xanh gặp một người đàn ông tên T1 khoảng 35 tuổi, đang ngồi trên chiếc xe Draem, bị cáo hỏi “Anh có đồ không?” người đàn ông trả lời “Có”, bị cáo hỏi mua 300.000 đồng ma túy đá. Liền kề, người đàn ông mở cốp xe và lấy ra đưa cho bị cáo 01 (một) đoạn nhựa màu trắng được hàn kín hai đầu bên trong chứa ma túy đá. Sau khi nhận ma túy đá bị cáo đưa số tiền 300.000 đồng cho người đàn ông trên, bị cáo cất giấu vào túi quần đang mặc rồi đi bộ lại gặp người đàn ông chạy xe ôm chở bị cáo về nhà. Đến khoảng 10 giờ cùng ngày, bị cáo về đến nhà và cất giấu ma túy đá vào ví tiền bằng da, màu đen để trong túi quần bị cáo đang mặc.
Đến khoảng 18 giờ ngày 06/6/2024 khi bị cáo đang ở nhà thì bị cáo nảy sinh ý định sử dụng ma túy nhưng do bị cáo không có dụng cụ sử dụng ma túy nên bị cáo điện thoại cho bạn tên T2, bị cáo chỉ biết ở khu vực B thuộc xã A, huyện T, tỉnh Trà Vinh, bị cáo không có lưu trong danh bạ điện thoại, chỉ nhớ số cuối là 365 để rủ T2 qua rước bị cáo tìm nơi sử dụng ma túy thì T2 đồng ý. Sau đó, bị cáo lấy đoạn ống nhựa ma túy đá chia ra làm hai đoạn ống nhựa chất ma túy, được hàn kính lại rồi bị cáo cất một đoạn ông nhựa chứa chất ma túy đá vào trong túi zip để vào ví tiền, còn một đoạn ống nhựa chứa chất ma túy đá còn lại, bị cáo cầm trên tay rồi đi bộ từ nhà ra ngồi trước lề đường Hương lộ B thuộc ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh để chờ T2 đến rước. Khi ra đến lộ nhựa, bị cáo ngồi gần thùng rác bằng bê tông ven đường, lúc này bị cáo vẫn còn cầm đoạn ống nhựa chứa ma túy đá trong lòng bàn tay thì bị cáo phát hiện có lực lượng Công an nên bị cáo để đoạn ống nhựa trên nắp thù rác bằng bê tông rồi bỏ chạy và bị lực lượng tiến hành kiểm tra trên người bị cáo thu giữ một ví tiền bằng da màu đen bên trong có một túi zip có viền màu đỏ, bên trong túi zip có một đoạn ống nhựa màu trắng được hàn kín hai đầu có kích thước (2,4 x 1cm), bên trong có chứa hạt tinh thể rắn nghi là chất ma túy và số tiền 2.000.000 đồng. Đồng thời, kiểm tra tại vị trí bị cáo ngồi, trên nắp thùng rác bằng bê tông thu giữ một đoạn ống nhựa, màu trắng, được hàn kín hai đầu có kích thước (2,6 x 1cm), bên trong có chứa hạt tinh thể rắn nghi là chất ma túy nên cơ quan Công an lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
* Đồ vật, tài liệu tạm giữ: Một ví tiền bằng da, màu đen nhãn hiệu CEFIRO, trong ví có một túi zip, miệng túi viền sọc đỏ, bên trong túi zip có một đoạn ống nhựa màu trắng được hàn kín hai đầu có kích thước (2,4 x 1cm) bên trong có chứa hạt tin thể rắn nghi là chất ma túy và tiền Việt Nam 2.000.000 đồng; Một đoạn ống nhựa, màu trắng được hàn kín hai đầu, có kích thước (2,6 x 1cm) bên trong có chứa hạt tinh thể rắn nghi là chất ma túy.
Tại Bản kết luận giám định số 272/KL-KTHS ngày 11/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: Tinh thể chứa trong 01 (một) đoạn nhựa được niêm phong ký hiệu A01 gửi giám định là Ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng: 0.0446 gam. Tinh thể chứa trong 01 (một) đoạn ống nhựa được niêm phong ký hiệu A02 gửi giám định là Ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng: 0.2008 gam.
Tổng khối lượng ma túy là 0.2454 gam.
Tại bản Cáo trạng số 33/CT-VKSTC-HS ngày 15 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh đã truy tố bị cáo Nguyễn Duy N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiểu Cần vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như cáo trạng đã nêu, sau khi phân tích các chứng cứ buộc tội, tính chất mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đối với bị cáo như sau:
Về trách nhiệm hình sự: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 và Điều 50 Bộ luật Hình sự tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy N phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và xử phạt bị cáo từ 02 (hai) năm tù đến 02 (hai) năm 06 (tháng) tù thời hạn tù được tính kể từ ngày 06/6/2024.
Về hình phạt bổ sung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 5 điều 249 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng để sung vào ngân sách nhà nước.
Đối với người tên T1 có hành vi mua bán trái phép chất ma túy cho bị cáo và người tên T2 mà bị cáo rủ để sử dụng ma túy cơ quan điều tra chưa xác minh được lai lịch và địa chỉ cụ thể nên chưa đủ cơ sở để xử lý, cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, nếu đủ cơ sở sẽ xử lý sau.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu huỷ tinh thể rắn sau giám định có khối lượng 0,0389 gam, được để trong túi niêm phong số 272/2024/MA01 ghi ngày 11/6/2024 với hình dấu tròn màu đỏ có nội dung PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ CÔNG AN TỈNH TRÀ VINH và các chữ ký ghi tên Nguyễn Văn M1 và Thạch Ngọc M2; tinh thể rắn sau giám định có khối lượng 0,1492 gam, được để trong túi niêm phong số 272/2024/MA02 ghi ngày 11/6/2024 với hình dấu tròn màu đỏ có nội dung PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ CÔNG AN TỈNH TRÀ VINH và các chữ ký ghi tên Nguyễn Văn M1 và Thạch Ngọc M2; một túi zip, có miệng túi viền sọc đỏ, có khóa được hàn kín đã qua sử dụng và một ví tiền bằng da, màu đen nhãn hiệu CEFIRO đã qua sử dụng.
Đề nghị giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiểu Cần Tiếp tục quản lý số tiền 2.000.000 đồng của bị cáo tại số tài khoản 740410000001 tại Ngân hàng N1 chi nhánh huyện T để đảm bảo thi hành án.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội buộc bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo thừa nhận hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: bị cáo Nguyễn Duy N có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy với tổng khối lượng là 0.2454 gam là ma túy loại methamphetamine với mục đích mục đích sử dụng thì bị bắt quả tang. Bị cáo N là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ chất ma túy là vi phạm pháp luật, song vẫn cố ý thực hiện, như vậy đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, như quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiểu Cần là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[2]. Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử đã thẩm tra các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, thấy rằng các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, đều đúng quy định của pháp luật, những người tham gia tố tụng không có khiếu nại hoặc có ý kiến nào khác phản đối các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng nên các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[3]. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý mà còn xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Mặc dù nhận thức được ma tuý không chỉ gây tác hại rất lớn về sức khỏe cho chính người sử dụng mà còn làm ảnh hưởng đến sự phát triển lành mạnh của các thế hệ sau này, là gánh nặng cho gia đình, xã hội và là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội khác, nhưng vì để thoả mãn cơn nghiện và ý thức coi thường pháp luật, bị cáo vẫn tiếp tục dấn thân vào con đường phạm tội. Vì vậy, hành vi phạm tội của bị cáo cần phải xử lý nghiêm trước pháp luật.
[4] Xét tính chất hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, điều kiện nhân thân của bị cáo, thấy rằng: Bị cáo có nhân thân xấu, lần phạm tội lần này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
[5] Tuy nhiên khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét tình tiết giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51của Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử sẽ xem xét, giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt thể hiện tính khoan hồng của pháp luật, song dù có giảm nhẹ vẫn cần thiết buộc bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian để chấp hành hình phạt tù mới đủ tác dụng giáo dục riêng bị cáo và đấu tranh, phòng ngừa chung trong xã hội.
[6] Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Duy N 5.000.000 đồng về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy để thu vào ngân sách nhà nước.
[7] Về xử lý vật chứng: Đối với toàn bộ tinh thể rắn hoàn trả sau giám định cùng bao gói là vật nhà nước quy định cấm tàng trữ, lưu hành nên tịch thu, tiêu hủy.
Đối Với một túi zip, có miệng túi viền sọc đỏ, có khóa được hàn kín đã qua sử dụng và một ví tiền bằng da, màu đen nhãn hiệu CEFIRO đã qua sử dụng là công cụ bị cáo sử dụng để cất giấu ma túy và không có giá trị nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với số tiền 2.000.000 đồng của bị cáo tại số tài khoản 740410000001 tại Ngân hàng N1 chi nhánh huyện T cần tiếp tục giao cho Chi cục thi hành án dân sự quản lý để đảm bảo thi hành án.
[8]. Đối với người tên T1 có hành vi mua bán trái phép chất ma túy cho bị cáo và người tên T2 mà bị cáo rủ để sử dụng ma túy cơ quan điều tra chưa xác minh được lai lịch và địa chỉ cụ thể nên chưa đủ cơ sở để xử lý, cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, nếu đủ cơ sở sẽ xử lý sau nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét giải quyết.
[9] Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 và Điều 50 của Bộ luật Hình sự.
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Duy N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy N 02 (hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06/6/2024.
Phạt bổ sung: Buộc bị cáo Nguyễn Duy N phải nộp phạt 5.000.000 đồng nộp vào ngân sách nhà nước.
2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu huỷ tinh thể rắn sau giám định có khối lượng 0,0389 gam, được để trong túi niêm phong số 272/2024/MA01 ghi ngày 11/6/2024 với hình dấu tròn màu đỏ có nội dung PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ CÔNG AN TỈNH TRÀ VINH và các chữ ký ghi tên Nguyễn Văn M1 và Thạch Ngọc M2; tinh thể rắn sau giám định có khối lượng 0,1492 gam, được để trong túi niêm phong số 272/2024/MA02 ghi ngày 11/6/2024 với hình dấu tròn màu đỏ có nội dung PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ CÔNG AN TỈNH TRÀ VINH và các chữ ký ghi tên Nguyễn Văn M1 và Thạch Ngọc M2; một túi zip, có miệng túi viền sọc đỏ, có khóa được hàn kín đã qua sử dụng và một ví tiền bằng da, màu đen nhãn hiệu CEFIRO đã qua sử dụng.
Giao Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiểu Cần Tiếp tục quản lý số tiền 2.000.000 đồng của bị cáo tại số tài khoản 740410000001 tại Ngân hàng N1 chi nhánh huyện T để đảm bảo thi hành án.
3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử sơ thẩm công khai, báo cho bị cáo có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để xin Tòa ân nhân dân tỉnh Trà Vinh xét xử theo trình tự phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thạch Thị Thu Hiền |
Bản án số 39/2024/HS-ST ngày 09/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỂU CẦN, TỈNH TRÀ VINH về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 39/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỂU CẦN, TỈNH TRÀ VINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vụ án tàng trữ trái phép chất ma tuý đối vưới bị cáo Nguyễn Duy N
