Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN KIẾN THỤY

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Bản án số: 39/2024/HS-ST

Ngày 09-7-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN THỤY, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Dịu

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Cao Văn Tân

Bà Khúc Thị Minh

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Phượng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kiến Thụy.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Thụy tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Hồng - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 7 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 30/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2024/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 08/2024/HSST-QĐ ngày 02/7/2024 đối với các bị cáo:

  1. Vũ Lệnh Huy H, sinh ngày 05/02/2003 tại Hải Phòng. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn C, xã M, huyện K, thành phố Hải Phòng; nơi ở: Thôn L, xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Lệnh H1 và bà Phạm Thị L; chưa có vợ, con; tiền án: Bản án số 61/2023/HS-ST ngày 24/10/2023 của Tòa án nhân dân huyện Kiến Thụy xử phạt 15 tháng cải tạo không giam giữ về tội Đánh bạc (chưa chấp hành xong hình phạt của bản án); tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 25/3/2024 đến ngày 27/3/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
  2. Đinh Văn C, sinh ngày 11/12/1982 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Tổ dân phố D, phường M, quận Đ, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Văn H2 và bà Nguyễn Thị L1; có vợ là Nguyễn Thị L2 và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 25/3/2024 đến ngày 27/3/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
  3. Bùi Thị C1, sinh ngày 01/01/1979 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn L, xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn V và bà Đinh Thị B; có chồng là Nguyễn Duy D và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 25/3/2024 đến ngày 27/3/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
  4. Bùi Văn H3, sinh ngày 23/01/2003 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn K, xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn V1 và bà Vũ Thị L3; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 25/3/2024 đến ngày 27/3/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
  5. Bùi Văn H4, sinh ngày 12/02/1984 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Số C B, tổ dân phố T, phường T, quận D, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn H5 và bà Phạm Thị L4; có vợ là Nguyễn Thị L5 và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 25/3/2024 đến ngày 27/3/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
  6. Đoàn Thị T, sinh ngày 05/5/1976 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn K, xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đoàn Kim D1 và bà Đỗ Thị S; có chồng là Đoàn Đắc V2 và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 25/3/2024 đến ngày 27/3/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
  7. Đoàn Kim Nam K, sinh ngày 14/10/2003 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn L, xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đoàn Kim T1 và bà Nguyễn Thị T2; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 25/3/2024 đến ngày 27/3/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ, ngày 25/3/2024, tại gian bếp nhà bà Đinh Thị B tại thôn K, xã T, huyện K có Bùi Thị C1, Bùi Văn H3, Vũ Lệnh H, Đoàn Thị T, Bùi Văn H4, Đinh Văn C, Đoàn Kim Nam K cùng rủ nhau đánh bạc, hình thức đánh liêng được thua bằng tiền. Các đối tượng sử dụng bộ bài tú lơ khơ có sẵn ở nhà bà B đánh bạc, thống nhất chơi theo tỷ lệ 20.000 đồng/01 người/01 lần cược, tức là tiền cược tối thiểu mà mỗi người chơi bắt buộc bỏ ra, một lần tố tối đa không quá 200.000 đồng (đây là tiền cá cược riêng trước khi hạ bài so điểm, không liên quan đến tiền cược tối thiểu). Người nào có bài Liêng, tức là ba lá bài liên tiếp nhau hoặc bài Sáp, tức là ba lá bài có giá trị giống nhau thì thắng và sẽ tự bỏ ra ngoài 50.000 đồng để mua thuốc, nước cho mọi người đánh bạc. Cả nhóm đánh bạc đến 14 giờ 30 phút cùng ngày thì bị Công an huyện K kiểm tra phát hiện. T3 tại chiếu bạc 4.740.000 đồng, 01 bộ bài tú lơ khơ gồm 52 lá bài; thu cạnh vị trí của Vũ Lệnh Huy Hoàng 250.000 đồng; thu tại khu vực nhà vệ sinh nhà bà B 1.500.000 đồng.

Ngoài ra, thu giữ trong người các đối tượng như sau: Thu của Vũ L6 Huy Hoàng 1.500.000 đồng, của Đoàn Kim Nam K 2.650.000 đồng, của Đinh Văn C 4.800.000 đồng, của Bùi Văn H3 1.180.000 đồng, của Đoàn Thị T 5.335.000 đồng.

Số tiền đánh bạc được xác định như sau: Vũ Lệnh H mang theo 2.300.000 đồng, sử dụng 800.000 đồng đánh bạc, không nhớ thắng thua; Đinh Văn C mang theo 5.600.000 đồng, sử dụng 5.600.000 đồng đánh bạc, thua 760.000 đồng; Bùi Thị C1 mang theo 1.700.000 đồng, sử dụng 1.700.000 đồng đánh bạc, thắng 550.000 đồng; Bùi Văn H3 mang theo 1.680.000 đồng, sử dụng 1.680.000 đồng đánh bạc, không nhớ thắng thua; Bùi Văn H4 mang theo 1.340.000 đồng, sử dụng 1.340.000 đồng đánh bạc, không nhớ thắng thua; Đoàn Thị T mang theo 6.035.000 đồng, sử dụng 700.000 đồng, không nhớ thắng thua; Đoàn Kim Nam K mang theo 3.300.000 đồng, sử dụng 650.000 đồng đánh bạc, không nhớ thắng thua. Tổng số tiền các đối tượng sử dụng để đánh bạc là 12.470.000 đồng.

Quá trình điều tra, các đối tượng đều khai nhận như trên.

Về vật chứng: Cơ quan điều tra thu giữ 01 bộ bài tú lơ khơ, gồm 52 lá bài; số tiền 21.955.000 đồng (gồm 4.740.000 đồng thu tại chiếu bạc; 250.000 đồng thu cạnh vị trí Vũ Hoàng ngồi, do các đối tượng thắng bạc bỏ ra để uống nước; 1.500.000 đồng thu tại khu vực nhà vệ sinh nhà bà B là tài sản của C1; thu trong người Vũ Hoàng 1.500.000 đồng; thu trong người Khánh 2.650.000 đồng; thu trong người Chiến 4.800.000 đồng; thu trong người Bùi Hoàng 1.180.000 đồng; thu trong người Thơm 5.335.000 đồng (toàn bộ vật chứng đang do Chi cục thi hành án dân sự huyện Kiến Thụy quản lý).

Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung nêu trên và đồng ý với Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Thụy đã truy tố các bị cáo về tội "Đánh bạc". Ngoài ra các bị cáo khai: Trước khi đánh bạc, các bị cáo không bàn bạc với ai và cũng không ai thông báo cho các bị cáo đến nhà bà B đánh bạc. Sáng ngày 25/3/2024, do gia đình có giỗ, khi ăn uống xong, các bị cáo Vũ H6, C, C1, Bùi H3, H4 rủ nhau đánh bạc được khoảng 15-20 phút thì bị cáo T, K vào tham gia đánh bạc cùng; quy ước và hình thức đánh bạc như đã nêu trên. Trước, trong khi các bị cáo đánh bạc tại nhà bà B, các bị cáo không thông báo cho bà biết các bị cáo đánh bạc nên bà B không biết. Quá trình đánh bạc, không ai canh gác, cảnh giới, không ai thu tiền hồ, không ai cho vay tiền, cầm cố tài sản để các bị cáo đánh bạc. Các bị cáo Vũ H6, C, C1, Bùi H3, H4 đều không có nghề nghiệp, thu nhập không ổn định. Các bị cáo T, K, mỗi bị cáo thu nhập trung bình từ 3.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng/tháng. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.

Bản cáo trạng số 33/CT-VKSKT, ngày 06 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Thụy truy tố các bị cáo Vũ Lệnh Huy H7, Đinh Văn C, Bùi Thị C1, Bùi Văn H3, Bùi Văn H4, Đoàn Thị T, Đoàn Kim Nam K về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên Cáo trạng, truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật như trên. Đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 56; Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Vũ Lệnh Huy H7: Từ 09 tháng đến 12 tháng tù. Tổng hợp phần hình phạt của bán án số 61/2023/HS-ST ngày 24/10/2023, bị cáo chưa thi hành là 10 tháng 27 ngày cải tạo, quy đổi thành 03 tháng 19 ngày tù. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án từ 12 tháng 19 ngày tù đến 15 tháng 19 ngày tù. Trừ cho bị cáo 02 ngày tạm giữ từ ngày 25/3/2024 đến ngày 27/3/2024.
  • Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đinh Văn C: Từ 06 tháng đến 09 tháng tù. Trừ cho bị cáo 02 ngày tạm giữ từ ngày 25/3/2024 đến ngày 27/3/2024.
  • Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 36 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt các bị cáo Bùi Thị C1, Bùi Văn H3, Bùi Văn H4, mỗi bị cáo từ 12 tháng đến 15 tháng cải tạo không giam giữ. Trừ cho mỗi bị cáo 02 ngày tạm giữ (từ ngày 25/3/2024 đến ngày 27/3/2024) bằng 06 ngày cải tạo không giam giữ.
  • Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 35 của Bộ luật Hình sự, xử phạt các bị cáo Đoàn Thị T, Đoàn Kim Nam K, mỗi bị cáo từ 40 triệu đồng đến 45 triệu đồng để nộp vào ngân sách Nhà nước.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 12.470.000 đồng do các bị cáo sử dụng để đánh bạc. Tịch thu tiêu hủy bộ bài tú lơ khơ gồm 52 lá bài. Trả lại bị cáo Vũ H7 1.500.000 đồng, bị cáo T 5.335.000 đồng, bị cáo K 2.650.000 đồng nhưng tiếp tục tạm giữ để bảo đảm thi hành án (theo Ủy nhiệm chi tại kho bạc và biên bản giao nhận vật chứng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kiến Thụy ).

Các bị cáo nói lời sau cùng : Các bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của mình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo hưởng hình phạt nhẹ nhất, được cải tạo ngoài xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện K, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện K, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Về tội danh; tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[2] Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với biên bản vụ việc, vật chứng thu giữ và nội dung bản Cáo trạng cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đủ cơ sở xác định: Trong khoảng thời gian từ 13 giờ đến 14 giờ 30 phút ngày 25/3/2024, tại nhà bà Đinh Thị B, ở thôn K, xã T, huyện K, có Vũ Lệnh H, Đinh Văn C, Bùi Thị C1, Bùi Văn H3, Bùi Văn H4, Đoàn Thị T, Đoàn Kim Nam K đánh bạc trái phép, hình thức đánh liêng được thua bằng tiền, với tổng số tiền sử dụng đánh bạc là 12.470.000 đồng. Như vậy các bị cáo đã phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự, đúng như Viện kiểm sát đã truy tố và đề nghị.

[3] Đây là vụ án có đồng phạm, tính chất vụ án ít nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng, gây dư luận xấu trong nhân dân; đồng thời là nguyên nhân, điều kiện phát sinh các loại tội phạm khác; cần áp dụng hình phạt nghiêm đối với các bị cáo.

[4] Xét vai trò của từng bị cáo trong vụ án: Các bị cáo cùng rủ nhau đánh bạc nhưng không xác định bị cáo nào đề xuất nên các bị cáo có vai trò ngang nhau, tuy nhiên căn cứ vào nhân thân và số tiền các bị cáo sử dụng vào đánh bạc để quyết định hình phạt cho phù hợp.

[5] Nhân thân bị cáo Vũ L6 Huy Hoàng có 01 tiền án: Tại Bản án số 61/2023/HS-ST ngày 24/10/2023 của Tòa án nhân dân huyện Kiến Thụy xử phạt 15 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc”, trừ cho bị cáo 03 ngày tạm giữ bằng 09 ngày cải tạo. Bị cáo còn phải chấp hành 14 tháng 21 ngày cải tạo. Thời hạn chấp hành từ ngày 01/12/2023. Tính đến ngày bị cáo thực hiện hành vi phạm tội lần này (25/3/2024), bị cáo đã chấp hành được 03 tháng 24 ngày. Bị cáo còn phải chấp hành 10 tháng 27 ngày cải tạo (chưa chấp hành xong hình phạt của bản án).

[6] Nhân thân các bị cáo C, C1, Bùi H3, H4, T, K: Đều không có tiền án, tiền sự.

[7] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Vũ L6 Huy Hoàng có 01 tình tiết tăng nặng là “tái phạm”, quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Các bị cáo C, C1, Bùi Văn H3, H4, T, K đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[8] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra các bị cáo Đinh Văn C, Bùi Thị C1, Bùi Văn H3, Bùi Văn H4, Đoàn Thị T, Đoàn Kim Nam K phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; bị cáo Vũ H7 có ông nội là Thương binh tham gia kháng chiến chống Mỹ; bị cáo C có bố đẻ tham gia kháng chiến chống mỹ, có mẹ đẻ là người khuyết tật; bị cáo C1 có bố chồng được tặng thưởng Huân chương hạng ba; bị cáo H4 có bố đẻ tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước; bị cáo T có bố đẻ được tặng thưởng Huân chương chống Mỹ cứu nước; bị cáo K hoàn thành nghĩa vụ quân sự trở về. Gia đình các bị cáo có đơn xin bảo lĩnh, được chính quyền địa phương xác nhận, là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[9] Sau khi xem xét tính chất, vai trò, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân các bị cáo. Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo Vũ Lệnh Huy H7 đã có 01 tiền án về tội “Đánh bạc”, bị cáo chưa chấp hành xong hình phạt chính, nay lại tiếp tục phạm tội “Đánh bạc”, chứng tỏ bị cáo coi thường pháp luật nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự nghiêm khắc nhất, bắt bị cáo cách ly khỏi xã hội thời gian như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm.

[10] Đối với các bị cáo Đinh Văn C, Bùi Thị C1, Bùi Văn H3, Bùi Văn H4, Đoàn Thị T, Đoàn Kim Nam K, đều có nhân thân tốt, có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khác được quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; có nơi cư trú rõ ràng. Do đó không cần thiết cách ly các bị cáo khỏi xã hội. Trong các bị cáo này thì bị cáo C sử dụng số tiền đánh bạc lớn nhất nên C phải chịu trách nhiệm hình sự nghiêm khắc hơn các bị cáo còn lại và phải chịu hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo. Các bị cáo Bùi Thị C1, Bùi Văn H3, Bùi Văn H4 tham gia đánh bạc từ đầu và sử dụng số tiền đánh bạc gần ngang nhau và cao hơn các bị cáo T, K nên áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với các bị cáo C1, Bùi H3, H4. Bị cáo T, K vào tham gia đánh bạc sau và sử dụng số tiền đánh bạc ít nhất, gần ngang nhau. Hai bị cáo này có mức thu nhập trung bình từ 3.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng/tháng nên áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo T, K như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa cũng đủ tác dụng giáo dục các bị cáo và phòng ngừa tội phạm.

[11] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo Vũ H7, C, C1, Bùi H3, H4 không có nghề nghiệp, thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo. Bị cáo T, K bị áp dụng phạt tiền là hình phạt chính nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[12] Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra thu giữ 01 bộ bài tú lơ khơ (gồm 52 lá bài) và số tiền 21.955.000 đồng (gồm 12.470.000 đồng do các bị cáo sử dụng đánh bạc và 9.485.000 đồng của các bị cáo Vũ H7, T, K không sử dụng đánh bạc. Xét số tiền 12.470.000 đồng do các bị cáo sử dụng đánh bạc, cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước. Bộ bài tú lơ khơ, gồm 52 lá bài là công cụ phạm tội, không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy. Trả lại bị cáo Vũ L6 Huy Hoàng 1.500.000 đồng, trả lại bị cáo Đoàn Thị T 5.335.000 đồng, trả lại bị cáo Đoàn Kim Nam K 2.650.000 đồng (do không sử dụng đánh bạc) nhưng tiếp tục tạm giữ để bảo đảm thi hành án theo quy định tại khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự (toàn bộ vật chứng đang do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kiến Thụy quản lý).

[13] Trong vụ án này, chủ nhà là bà B không biết các đối tượng đánh bạc nên Cơ quan điều tra không xử lý là đúng pháp luật.

[14] Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo không thuộc trường hợp được miễn án phí nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 55; Điều 56; Điều 58 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Vũ Lệnh Huy H7.
  • - Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Đinh Văn C.
  • - Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 36 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Bùi Thị C1, Bùi Văn H3, Bùi Văn H4.
  • - Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 35 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Đoàn Thị T, Đoàn Kim Nam K.

Tuyên bố các bị cáo Vũ Lệnh Huy H7, Đinh Văn C, Bùi Thị C1, Bùi Văn H3, Bùi Văn H4, Đoàn Thị T, Đoàn Kim Nam K đồng phạm tội “Đánh bạc”.

  • - Xử phạt bị cáo Vũ Lệnh Huy H7: 09 (chín) tháng tù. Tổng hợp phần hình phạt của bản án số 61/2023/HS-ST ngày 24/10/2023, bị cáo chưa thi hành là 10 tháng 27 ngày cải tạo, quy đổi thành 03 tháng 19 ngày tù. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 12 tháng 19 ngày tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án; trừ cho bị cáo 02 ngày tạm giữ từ ngày 25/3/2024 đến ngày 27/3/2024.
  • Thời hạn cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo không quá thời hạn kể từ khi tuyên án cho đến thời điểm bị cáo đi chấp hành án phạt tù.

  • - Xử phạt bị cáo Bùi Văn C2: 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường M, quận Đ, thành phố Hải Phòng giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
  • Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự như sau: “Người được hưởng án treo có thể vắng mặt tại nơi cư trú nếu có lý do chính đáng và phải xin phép theo quy định tại khoản 2 Điều này, phải thực hiện khai báo tạm vắng theo quy định của pháp luật về cư trú. Thời gian vắng mặt tại nơi cư trú mỗi lần không quá 60 ngày và tổng số thời gian vắng mặt tại nơi cư trú không được vượt quá một phần ba thời gian thử thách, trừ trường hợp bị bệnh phải điều trị tại cơ sở y tế theo chỉ định của bác sỹ và phải có xác nhận điều trị của cơ sở y tế đó.

    Người được hưởng án treo khi vắng mặt tại nơi cư trú phải có đơn xin phép và được sự đồng ý của Ủy ban nhân dân cấp xã được giao giám sát, giáo dục; trường hợp không đồng ý thì Ủy ban nhân dân cấp xã phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. Người được hưởng án treo khi đến nơi cư trú mới phải trình báo với Công an cấp xã nơi mình đến tạm trú, lưu trú; hết thời hạn tạm trú, lưu trú phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an cấp xã nơi tạm trú, lưu trú. Trường hợp người được hưởng án treo vi phạm pháp luật, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó đến tạm trú, lưu trú phải thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã được giao giám sát, giáo dục kèm theo tài liệu có liên quan.

    Việc giải quyết trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thực hiện theo quy định tại Điều 68 của Luật này.

    Người được hưởng án treo không được xuất cảnh trong thời gian thử thách.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”.

  • - Xử phạt bị cáo Bùi Thị C1: 15 (mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ; trừ cho bị cáo 02 ngày tạm giữ (từ ngày 25/3/2024 đến ngày 27/3/2024) bằng 06 ngày cải tạo không giam giữ. Bị cáo còn phải chấp hành 14 (mười bốn) tháng 24 (hai mươi bốn) ngày cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ đối với bị cáo tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện K nhận được Quyết định thi hành án. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng giám sát và giáo dục trong thời gian cải tạo.
  • - Xử phạt bị cáo Bùi Văn H3: 15 (mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ ; trừ cho bị cáo 02 ngày tạm giữ ( từ ngày 25/3/2024 đến ngày 27/3/2024) bằng 06 ngày cải tạo không giam giữ. Bị cáo còn phải chấp hành 14 (mười bốn) tháng 24 (hai mươi bốn) ngày cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ đối với bị cáo tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện K nhận được Quyết định thi hành án. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng giám sát và giáo dục trong thời gian cải tạo.
  • - Xử phạt bị cáo Bùi Văn H4: 15 (mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ; trừ cho bị cáo 02 ngày tạm giữ (từ ngày 25/3/2024 đến ngày 27/3/2024) bằng 06 ngày cải tạo không giam giữ. Bị cáo còn phải chấp hành 14 (mười bốn) tháng 24 (hai mươi bốn) ngày cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ đối với bị cáo tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an quận D nhận được Quyết định thi hành án. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường T, quận D, thành phố Hải Phòng giám sát và giáo dục trong thời gian cải tạo.
  • Trong trường hợp người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 của Luật thi hành án hình sự như sau: “Người chấp hành án có thể vắng mặt tại nơi cư trú nếu có lý do chính đáng và phải xin phép theo quy định tại khoản 2 Điều này, phải thực hiện khai báo tạm vắng theo quy định của pháp luật về cư trú. Thời gian vắng mặt tại nơi cư trú mỗi lần không quá 30 ngày và tổng số thời gian vắng mặt tại nơi cư trú không được vượt quá một phần ba thời gian chấp hành án, trừ trường hợp bị bệnh phải điều trị tại cơ sở y tế theo chỉ định của bác sỹ và phải có xác nhận điều trị của cơ sở y tế đó.

    Người chấp hành án khi vắng mặt tại nơi cư trú phải có đơn xin phép và được sự đồng ý của Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục; trường hợp không đồng ý thì Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. Người chấp hành án khi đến nơi cư trú mới phải trình báo với Công an cấp xã nơi mình đến tạm trú, lưu trú; hết thời hạn tạm trú, lưu trú phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an cấp xã nơi tạm trú, lưu trú. Trường hợp người chấp hành án vi phạm pháp luật, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó đến tạm trú, lưu trú phải thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục kèm theo tài liệu có liên quan.

    Người chấp hành án không được xuất cảnh trong thời gian chấp hành án”

  • - Xử phạt bị cáo Đoàn Thị T: 40.000.000đ (bốn mươi triệu đồng) để nộp vào ngân sách nhà nước.
  • - Xử phạt bị cáo Đoàn Kim Nam K: 40.000.000đ (bốn mươi triệu đồng) để nộp vào ngân sách nhà nước.
  • Căn cứ Điều 125 của Bộ luật Tố tụng hình sự, hủy bỏ Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với các bị cáo Đinh Văn C, Bùi Thị C1, Bùi Văn H3, Bùi Văn H4, Đoàn Thị T, Đoàn Kim Nam K.

    Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 12.470.000 đồng. Tịch thu tiêu hủy bộ bài tú lơ khơ gồm 52 lá bài. Trả lại bị cáo Vũ L6 Huy Hoàng 1.500.000 đồng, trả lại bị cáo Đoàn Thị T 5.335.000 đồng, trả lại bị cáo Đoàn Kim Nam K 2.650.000 đồng nhưng tiếp tục tạm giữ để bảo đảm thi hành án (theo Ủy nhiệm chi lập ngày 10/6/2024 tại kho bạc Nhà nước huyện K và biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/6/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kiến Thụy ).

    Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trong trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TANDTP Hải Phòng;
  • - VKSNDTP Hải Phòng;
  • - VKSND huyện Kiến Thụy;
  • - Công an huyện Kiến Thụy ;
  • - Chi cục THA dân sự + Sở tư pháp;
  • - PV 06; PC 10;
  • - UBND xã Tân Phong;
  • - UBND xã Minh Tân;
  • - UBND phường Tân Thành; quận Dương Kinh;
  • - UBND phường Minh Đức; quận Đồ Sơn;
  • - Các bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Thị Dịu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 39/2024/HS-ST ngày 09/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN THỤY, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về hình sự (đánh bạc)

  • Số bản án: 39/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN THỤY, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: xử
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger